CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 4 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ năng lượng 1.1 Trên thế giới Nhu cầu năng lượng nói chung và nhiên liệu nói riêng trên thế giới ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu của con người và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nguồn nhiên liệu mà con người đang sử dụng hiện nay chủ yếu từ nhiên liệu hóa thạch và nguồn năng lượng này đang dần cạn kiệt.1 Sản xuất và tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới theo vùng [2] Theo điều tra của Bp thì đến năm 2012 sản lượng cung cấp dầu toàn cầu khoảng 85 triệu thùng/ngày, nhưng sản lượng tiêu thụ là 89 triệu thùng/ngày, ta thấy có sự chênh lệch giữa cung và cầu.Với tốc độ này không tính đến những phát hiện mới cũng như khả năng chuyển đổi trong tiêu thụ (sử dụng các nguồn nhiên liệu thay thế), nguồn dầu thô sẽ cạn kiệt trong vòng vài chục năm tới và dẫn đến sự khủng hoảng năng lượng trên thế giới. Hiện nay, nhu cầu năng lượng của các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật và Ấn độ là vô cùng lớn nên giải quyết bài toán năng lượng đang là một bài toán nan giản hiện nay. HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 5 1.2 Tại Việt Nam Đất nước đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế là vô cùng quan trọng.
Nhu cầu tiêu thụ và sản xuất dầu mỏ tại Việt Nam [2] Việt Nam bắt đầu sản xuất dầu từ thập niên 80. Phần lớn là khai thác ngoài khơi. Các vựa dầu chính là Sông Hồng ở miền vịnh Bắc Bộ, Phú Khánh ở vùng duyên hải miền Trung và Nam Côn Sơn, Cửu Long và Malay-Thổ Chu ở miền Nam, trong giai đoạn từ 1990 đến 2010 là một trong những nước xuất khẩu dầu thô. Tuy nhiên, từ giai đoạn 2006 trở đi, với sự sụt giảm sản lượng của các mỏ dầu khai thác, bên cạnh đó là sự tăng nhu cầu sử dụng của thị trường trong nước đã làm mất sự cân bằng của cung – cầu.
Đến năm 2010, cầu đã vượt cung dẫn đến Việt Nam trở thành một nước nhập khẩu dầu. Thực trạng thiếu dầu mỏ hiện nay và tương lai ở Việt Nam đang là rào cản ảnh hưởng đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 6 1.2 Nhiên liệu mới Butanol 1.1 Sự ra đời và phát triển Hiện nay, nguồn năng lượng trên thế giới vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn năng lượng hóa thạch. Giá dầu ngày càng tăng cao và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia là một trong những thách thức đối với các nước trên thế giới [1].
Theo thống kê, nhiên liệu hóa thạch chiếm 80% nhu cầu năng lượng cơ bản trên thế giới, trong đó nhu cầu cho giao thông vận tải là 58% [2]. Do đốt cháy không hoàn toàn các sản phẩm dầu mỏ tạo các hợp chất CO, CO2, NOx, SO2, trong khí quyển là nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính và các trận mưa axit nghiêm trọng trong vài thập niên gần đây ảnh hưởng đến môi trường và gây nhiều bệnh tật cho con người. Vì vậy, đứng trên góc nhìn kinh tế, sinh thái học và môi trường, nhiên liệu hóa thạch đã không còn phù hợp [15]. Do đó, chỉ có một phương pháp duy nhất để giải quyết vấn đề này đó là thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch này bằng các nhiên liệu, năng lượng thay thế như: gió, mặt trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học.
Trong số đó, nhiên liệu sinh học là sự lựa chọn tốt nhất.3 Tiêu thụ nguồn năng lượng tái tạo trên thế giới theo vùng [2] HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 7 Hình 1. Sản xuất nhiên liệu sinh học trên thế giới theo vùng [2] Sản lượng nhiên liệu sinh học và ethanol trên toàn cầu phát triển hơn 10 năm qua, đặc biệt là sản lượng nhiên liệu sinh học năm sau luôn cao hơn năm trước. Brazil và Mỹ là 2 quốc gia đi đầu trên thế giới về sản xuất và tiêu thụ nhiên liệu sinh học. Số liệu về nhiên liệu tái tạo và nhiên liệu sinh học của 2 quốc gia này như sau: Bảng 1.1 Sản xuất nhiên liệu sinh học tại Mỹ và Brazil (ngàn tấn dầu quy đổi) Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Mỹ 2,991 3,288 3,987 5,226 6,357 7,478 Brazil 5,212 5,600 6.149 7,068 7,135 7,835 Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Mỹ 9,746 13,456 19,096 21,670 25,351 Brazil 8,729 11,323 14,132 13,962 15,573 Trong quá trình tìm kiếm các phương pháp cải thiện hiệu quả của nhiên liệu sinh học, các nhà hóa học đã nhận thấy rằng butanol là phương án lựa chọn tốt hơn ethanol.
Vì vậy, họ đang nỗ lực tìm kiếm những phương pháp tốt nhất để sản xuất butanol ở quy mô lớn nhằm thay thế cho ethanol. HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 8 Thị trường thế giới có nhu cầu butanol ước tính khoảng, 32 tỷ l/năm, trong đó nhu cầu của thị trường Mỹ khoảng 832,6 triệu l/năm. Nhu cầu thị trường thế giới dự kiến tăng đáng kể nếu biobutanol được sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế. Các nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản đang có nhu cầu cao về butanol cho sự phát triển công nghiệp.
Giá thị trường cho một gallon dao động từ 3 tới 4 đô la [15].2 Tính chất Butanol (danh pháp IUPAC) còn được gọi là rượu butylic, n-butanol hoặc methylolpropane, là một rượu gồm 4 cacbon có công thức phân tử C4H9OH (KLPT=74,1 mol-1). Butanol là một chất lỏng không màu, dễ cháy, kỵ lỏng, có mùi thơm như chuối hương và có mùi cồn mạnh. Khi tiếp xúc trực tiếp nó có thể gây kích ứng mắt và da. Hơi của nó có tác dụng kích thích vào niêm mạc màng và có khả năng gây mê khi hít phải ở nồng độ cao.
Butanol hầu như hòa tan hoàn toàn với các dung môi hữu cơ phổ biến, nhưng lại ít hòa tan trong nước [4]. Cấu trúc phân tử n-Butanol HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 9 Bảng 1. Tính chất vật lý của n-Butanol [5] Tính chất Giá trị Công thức phân tử C4H9OH Khối lượng phân tử 74,12 (g/mol) Trạng thái Lỏng, không màu Khối lượng riêng 0,81 (g/cm3) Áp suất hơi 4,2 mmHg (20oC) Nhiệt độ đông đặc -90oC Nhiệt độ sôi 119oC Độ tan trong nước 7,7 g/100 ml H2O (20oC) Điểm chớp cháy 355oC Độ nhớt 2,947 cP (20oC ) Nhiệt hóa học Enthalpy tạo thành ∆fH0298 -328 kJ/mol Enthalpy đốt cháy ∆fH0298 -2670 kJ/mol Entropy S0298 225,7 JK-1mol-1 1.3 Ứng dụng Butanol thực sự là một hóa chất quan trọng được sử dụng với lượng lớn trong các ngành công nghiệp. Gần một nửa sản lượng butanol được sản xuất trên toàn thế giới được sử dụng làm dung môi ở dạng butylacrylate và este methacrylate trong sản xuất các loại sơn như enamel, nitrocellulose, keo dán, chất đàn hồi, công nghệ dệt may, sản xuất sợi, nhựa, sản xuất kính an toàn, chất tẩy rửa [7],[8].
Các hợp chất quan trọng có nguồn gốc từ butanol như butyl ete glycol,butylacetate,amin butyl, nhựa amin và chất dẻo. Butanol cũng được sử dụng làm dung môi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm như nước hoa, các sản phẩm trang điểm cho mắt, sơn móng tay…và được dùng cho việc sản xuất các lại thuốc kháng sinh, vitamin và hormone [6]. HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 10 Một trong những ứng dụng ưu việt của biobutanol (butanol sinh học) được nghiên cứu gần đây là được sử dụng để pha trộn vào xăng dầu làm nhiên liệu chính cho các động cơ. Trong khi ethanol đã nhận được rất nhiều sự quan tâm như là một nguồn nhiên liệu hỗ trợ thì butanol lại cho thấy nó có thể là một lựa chọn tốt hơn so với ethanol vì có các tính chất hóa học và vật lý phù hợp [4],[13] .3 So sánh tính chất của butanol so với những loại nhiên liệu khác [4][9] Tính chất Butanol Xăng Ethanol Nhiệt độ sôi (oC) 117 27-221 78 Tỷ trọng ở 20oC (g/ml) 0,81 0,7-0,8 0,785 Khả năng tan trong 100g nước Không tan Không tan Tan Áp suất hơi bão hòa (kPa) 2,3 62 15 Mật độ năng lượng (MJ.l-1) 27-29,2 32 19,6 Nhiệt bay hơi (MJ/kg) 0,43 0,36 0,92 Nhiệt dung riêng (kJ/kmol.K) 178 160-300 112,3 Chỉ số Octane 96 91-99 129 Độ nhớt (10-3 Pa.s) 2,593 0,24-0,32 1,078 Nghiên cứu sử dụng Bio-butanol thay thế cho Bio-ethanol đem đến rất nhiều thuận lợi : Giá trị năng lượng của butanol là 29,2 MJ/l trong khi giá trị năng lượng của ethanol chỉ là 19,6 MJ/l của xăng là 32 MJ/l, giá trị năng lượng của butanol nhiều hơn ethanol khoảng 25%.
Dựa vào áp suất hơi có thể thấy butanol sử dụng an toàn hơn so với ethanol, do butanol ít bay hơi hơn so với ethanol và xăng. HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 11 Khả năng hòa tan ít trong nước của butanol cho phép nó có thể được pha trong xăng dầu ở nồng độ cao hơn bất kỳ loại nhiên liệu sinh học nào mà không sợ bị tách pha làm xuất hiện nước, trong khi ethanol chỉ có thể pha thêm 25% [14]. Tính hút ẩm, tách pha và ăn mòn rất thấp do đó có thể tồn trữ, vận chuyển và phân phối xăng pha n-butanol bằng cơ sở hạ tầng xăng dầu hiện hữu. Trong quá trình đốt cháy, butanol không thải ra các hợp chất chứa NOx, SO2, đây là ưu điểm vượt trội về môi trường so với các nguồn nguyên liệu khác [13] .3 Các phương pháp và qui trình sản xuất n-butanol Quá trình tổng hợp n-butanol được nghiên cứu trên nhiều phương pháp khác nhau như hóa học, sinh học…Nhưng thách thức đặt ra hiện nay là làm thế nào để tổng hợp n-butanol với chi phí rẻ, thân thiện với môi trường, tổng hợp được với số lượng lớn.
HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 12 Hình 1.6 Sơ đồ qui trình tổng hợp Butanol từ nguồn nguyên liệu thực vật [14] Từ trước những năm 1950 butanol được sản xuất chủ yếu từ quá trình lên men tinh bột và mật rỉ. Sau năm 1950 đến nay, butanol chủ yếu được sản xuất từ nguyên liệu hóa dầu cho hiệu suất sản phẩm cao và có hiệu quả kinh tế hơn quá trình lên men truyền thống. Và đến ngày nay, butanol được sản xuất chủ yếu từ nguyên liệu hóa dầu làm dung môi cung cấp cho ngành công nghiệp sơn, nhuộm … Dưới đây là phần tóm lược trình bày về các công nghệ sản xuất butanol phổ biến nhất được thương mại hóa và ứng dụng rộng rãi trên thế giới. - Công nghệ sản xuất từ nguyên liệu tinh bột (lên men ABE).
- Công nghệ sản xuất từ nguyên liệu hóa dầu. HVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG 13 1.1 Sản xuất butanol bằng con đường lên men ABE Năm 1912, Chaim Weizmann là người đã nuôi cấy thành công chủng vi khuẩn Clostridium acetobutylcium có khả năng lên men tinh bột tạo ra các sản phẩm đồng thời gồm Aceton: Butanol:Ethanol với tỷ lệ tương ứng là 3:6:1.