Luận án tiến sĩ về xúc tác cacbon hóa từ bã tảo cho chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen

Luận án tiến sĩ phân tích tổng hợp xúc tác cacbon hóa mao quản trung bình từ nguồn bã tảo ứng dụng để chuyển hóa dầu lanh, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Chuyên ngành

Kỹ thuật hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

151
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI

1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

1.1. Xúc tác cacbon hóa và cacbon hóa MQTB

1.2. Khái quát chung về xúc tác cacbon hóa

1.3. Khái quát về xúc tác cacbon hóa MQTB

1.4. Các phương pháp chế tạo xúc tác cacbon hóa MQTB

1.5. Nguyên liệu bã tảo để tổng hợp xúc tác cacbon hóa MQTB

1.6. Giới thiệu chung về nhiên liệu kerosen và biokerosen

1.7. Kerosen và nhiên liệu phản lực

1.8. Khái quát về nhiên liệu biokerosen

1.9. Các loại nguyên liệu có thể chuyển hóa thành biokerosen

1.10. Các phương pháp tổng hợp biokerosen, phân đoạn cơ sở để chế tạo NLPL sinh học

1.11. Chuyển hóa dầu thực vật thành biokerosen theo phương pháp trao đổi este

1.12. Các phương pháp trao đổi este khác

1.13. Tình hình nghiên cứu về xúc tác meso cacbon hóa, nhiên liệu biokerosen trên thế giới và Việt Nam

1.14. Nghiên cứu về xúc tác meso cacbon hóa

1.15. Nghiên cứu về nhiên liệu biokerosen

2. THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Hóa chất và nguyên liệu sử dụng trong luận án

2.2. Nhiệt phân bã tảo thu biochar

2.3. Chế tạo xúc tác meso cacbon hóa

2.4. Phương pháp ngưng tụ tự sắp xếp - bay hơi dung môi

2.5. Phương pháp ngưng tụ tự sắp xếp - kết tinh thủy nhiệt

2.6. Đánh giá độ bền thủy nhiệt của xúc tác meso cacbon hóa

2.7. Tạo hạt cho xúc tác meso cacbon hóa

2.8. Chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen trên xúc tác meso cacbon hóa

2.9. Xác định một số chỉ tiêu cơ bản của dầu lanh

2.10. Khảo sát quá trình trao đổi este dầu lanh trên xúc tác meso cacbon hóa

2.11. Tính hiệu suất tạo biokerosen

2.12. Phối trộn biokerosen với Jet A-1 tạo NLPL sinh học

2.13. Các phương pháp phân tích hóa lý để xác định đặc trưng xúc tác

2.14. Phương pháp phổ quang điện tử tia X (XPS)

2.15. Phương pháp phân tích nhiệt khối lượng – nhiệt lượng quét kết hợp đầu dò khối phổ (TGA-DSC-MS)

2.16. Xác định độ dị thể của xúc tác. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

2.17. Phương pháp phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX)

2.18. Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM)

2.19. Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM)

2.20. Phương pháp phổ hồng ngoại (FT-IR)

2.21. Phương pháp giải hấp theo chương trình nhiệt độ

2.22. Phương pháp đẳng nhiệt hấp phụ - nhả hấp phụ N2 (BET)

2.23. Xác định một số tính chất cơ lý của xúc tác

2.24. Các phương pháp phân tích nguyên liệu và sản phẩm

2.25. Xác định tỷ trọng (ASTM D1298)

2.26. Xác định độ nhớt động học (ASTM D445)

2.27. Xác định chỉ số xà phòng (ASTM D5558). Xác định chỉ số axit (ASTM D664)

2.28. Xác định hàm lượng nước (ASTM D95)

2.29. Xác định chỉ số iot (EN-14111)

2.30. Xác định hàm lượng các tạp chất cơ học (ASTM D3042)

2.31. Xác định hàm lượng cặn cacbon (ASTM D189/97)

2.32. Xác định chiều cao ngọn lửa không khói (ASTM D1322)

2.33. Xác định thành phần chưng cất phân đoạn (ASTM D86)

2.34. Xác định nhiệt độ đông đặc (ASTM D97)

2.35. Xác định nhiệt độ chớp cháy cốc kín (ASTM D93)

2.36. Xác định hàm lượng hydrocacbon thơm (ASTM D1319)

2.37. Xác định hàm lượng lưu huỳnh (ASTM D7679)

2.38. Xác định ăn mòn mảnh đồng (ASTM D130)

2.39. Xác định độ ổn định oxy hóa (ASTM D2274)

2.40. Xác định độ dẫn điện (ASTM D2624)

2.41. Xác định tính bôi trơn (ASTM D5001)

2.42. Xác định hàm lượng nhựa thực tế (ASTM D381). Xác định ngoại quan (màu sắc, mùi) (ASTM D1500, D6045)

2.43. Thành phần hóa học của biokerosen

3. THẢO LUẬN KẾT QUẢ

3.1. Nghiên cứu chế tạo xúc tác cacbon hóa mao quản trung bình từ nguồn bã tảo

3.2. Nghiên cứu quá trình sunfo hóa biochar

3.3. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chế tạo xúc tác cacbon hóa MQTB từ biochar sunfo hóa

3.4. Nghiên cứu cấu trúc của xúc tác cacbon hóa MQTB

3.5. Nghiên cứu mở rộng kích thước mao quản cho xúc tác meso cacbon hóa bã tảo

3.6. Nghiên cứu độ bền nhiệt và độ bền thủy nhiệt của xúc tác meso cacbon hóa bã tảo

3.7. Nghiên cứu trạng thái hóa trị các nguyên tố có trong xúc tác

3.8. Nghiên cứu độ axit của xúc tác meso cacbon hóa bã tảo

3.9. Nghiên cứu tạo hạt cho xúc tác meso cacbon hóa bã tảo

3.10. Khảo sát quá trình tạo hạt

3.11. Cấu trúc MQTB của xúc tác trước và sau quá trình tạo hạt

3.12. Nghiên cứu quá trình chuyển hóa dầu lanh thành metyl este (biokerosen)

3.13. Phân tích tính chất nguyên liệu dầu lanh

3.14. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp biokerosen

3.15. Đánh giá độ ổn định của xúc tác meso cacbon hóa bã tảo

3.16. Xác định thành phần của sản phẩm biokerosen tổng hợp từ dầu lanh

3.17. Nghiên cứu phối trộn để chế tạo nlpl sinh học từ phân đoạn biokerosen đã tổng hợp

3.18. Một số chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng của biokerosen tổng hợp

3.19. Kết quả pha trộn tạo NLPL sinh học

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về đề tài

Nghiên cứu xúc tác cacbon từ bã tảo để chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen là một lĩnh vực quan trọng trong phát triển năng lượng tái tạo. Xúc tác cacbon hóa từ nguồn bã tảo được xem như một giải pháp bền vững, giúp giảm thiểu chất thải và tối ưu hóa quy trình sản xuất nhiên liệu sinh học. Việc sử dụng bã tảo không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra nguồn nguyên liệu giá trị cho quá trình sản xuất biokerosen. Mục tiêu chính của nghiên cứu là chế tạo thành công xúc tác meso cacbon hóa từ bã tảo, nhằm nâng cao hiệu suất chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao trong việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo.

II. Tổng quan lý thuyết

Nghiên cứu về xúc tác cacbon hóa đã chỉ ra rằng việc sử dụng bã tảo làm nguyên liệu có thể tạo ra các xúc tác có hoạt tính cao. Quá trình chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen thông qua xúc tác meso cacbon hóa là một phương pháp hiệu quả. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng xúc tác cacbon hóa có thể cải thiện hiệu suất chuyển hóa nhờ vào việc tạo ra các mao quản trung bình (MQTB) có kích thước phù hợp với các phân tử trong dầu thực vật. Điều này giúp tăng cường khả năng khuếch tán và tiếp xúc giữa các phân tử dầu và xúc tác, từ đó nâng cao hiệu suất tạo ra biokerosen. Các phương pháp chế tạo xúc tác cũng đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, với nhiều kỹ thuật hiện đại được áp dụng để tối ưu hóa cấu trúc và tính chất của xúc tác.

III. Thực nghiệm và các phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp thực nghiệm để chế tạo và đánh giá xúc tác meso cacbon hóa từ bã tảo. Các phương pháp như nhiệt phân, sunfo hóa và ngưng tụ đã được sử dụng để tạo ra biochar và xúc tác. Đặc biệt, phương pháp TG-DSC-MS đã được áp dụng để xác định thành phần khí sinh ra trong quá trình phân tích nhiệt xúc tác. Kết quả cho thấy xúc tác meso cacbon hóa có khả năng hoạt động cao và ổn định trong điều kiện phản ứng. Các chỉ tiêu hóa lý của biokerosen cũng được xác định để đánh giá chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về quá trình chế tạo xúc tác mà còn mở ra hướng đi mới cho việc sản xuất biokerosen từ dầu lanh.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy xúc tác meso cacbon hóa từ bã tảo có khả năng chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen với hiệu suất cao. Các yếu tố như nhiệt độ, thời gian phản ứng và hàm lượng xúc tác đều ảnh hưởng đến hiệu suất tạo ra biokerosen. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tối ưu hóa kích thước mao quản trong xúc tác là rất quan trọng để nâng cao khả năng khuếch tán của các phân tử dầu. Các kết quả này không chỉ khẳng định tính khả thi của việc sử dụng bã tảo làm nguyên liệu mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các quy trình sản xuất nhiên liệu sinh học bền vững hơn trong tương lai.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo. Biokerosen từ dầu lanh không chỉ đáp ứng nhu cầu năng lượng mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Việc sử dụng xúc tác cacbon hóa từ bã tảo không chỉ giúp giảm thiểu chất thải mà còn tạo ra nguồn nguyên liệu giá trị cho ngành công nghiệp năng lượng. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nhiên liệu sinh học, mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các công nghệ xanh và bền vững trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Xúc tác cacbon hóa và cacbon hóa MQTB 1. Khái quát chung về xúc tác cacbon hóa 1.

Tầm quan trọng của xúc tác cacbon hóa Kể từ khi khám phá ra hệ xúc tác axit rắn đi từ đường glucozơ, hay nói cách khác là xúc tác trên cơ sở cacbon hóa đường glucozơ, sau đó sunfo hóa sản phẩm bột đen đi từ đường này [79, 118], các quá trình chế tạo và phát triển loại xúc tác đó đang tăng lên nhanh chóng với rất nhiều ứng dụng như tổng hợp NLSH, biến tính các vật liệu nguồn. Xúc tác loại này được chế tạo theo phương pháp cacbon hóa không hoàn toàn đường tự nhiên tại nhiệt độ khoảng 400oC, sau đó sunfo hóa với axit sunfuric để hình thành các tâm axit. Theo nghiên cứu của tác giả [83], xúc tác có hoạt tính tương đương với axit sunfuric trong quá trình este hóa axit oleic, và mạnh hơn so với zirconi sunfat hóa, nhựa Amberlyst-15 hay axit niobic trong phản ứng trao đổi este dầu thực vật [129]. Các loại xúc tác trên cơ sở cacbon (từ đây gọi là xúc tác cacbon hóa) có rất nhiều ưu điểm của xúc tác axit rắn điển hình, được hình thành bởi đặc thù của các nguyên tử C sở hữu nhiều trạng thái lai hóa từ sp, sp2 cho đến sp3, mang đến khả năng tạo ra các cấu trúc khác nhau trong cùng một loại xúc tác như cấu trúc lớp, ống hay cấu trúc dạng cầu.

Cacbon có thể ở tồn tại từ hình thái tinh thể đến vô định hình nên có thể dễ dàng đưa các nhóm chức năng vào trong mạng lưới chất mang. Hơn nữa, những loại xúc tác này có thể được hoạt hóa để tăng diện tích bề mặt, mở rộng kích thước mao quản với bề mặt kị nước – một tính chất quan trọng để gắn các nhóm mang tính axit cao như sunfo cũng như duy trì hoạt tính trong môi trường có sự tham gia của nước. Xúc tác cacbon hóa được chế tạo dễ dàng từ những nguồn nguyên liệu tái tạo rẻ tiền như đường [18, 19, 118], gỗ [61], asphalten từ dầu thực vật [108], glyxerin [100], các loại cacbon composit [66, 78]; chúng cũng có thể được biến đổi để tạo ra những dạng có cấu trúc đặc trưng như ống nanocacbon đa thành sunfo hóa [108]. Như vậy, ngoài những nguồn nguyên liệu tái tạo đi từ dầu mỡ động thực vật, nay chúng ta còn có thể tổng hợp ra các xúc tác cũng có khả năng tái tạo đi từ cacbohydrat thiên nhiên.

Một loại vật liệu khác cũng thu hút được sự quan tâm đó là vật liệu xúc tác cacbon hóa dạng MQTB có bề mặt riêng lớn. Tính chất của MQTB mang đến cho xúc tác khả năng nâng cao hoạt tính và mở rộng các ứng dụng hơn so với xúc tác cacbon hóa thông thường có bề mặt riêng thấp [65, 66, 96]. Có nhiều phương pháp 14 luan an có thể ứng dụng để chế tạo loại xúc tác này như phương pháp sử dụng chất tạo cấu trúc silica [96, 124], phương pháp hoạt hóa hóa học [124], trong đó phương pháp sử dụng chất tạo cấu trúc dạng silica được ứng dụng phổ biến nhất do có thể tạo ra cấu trúc mao quản đồng đều, trật tự. Một số nghiên cứu [96, 124] cho biết, khi đưa chất tạo cấu trúc dạng silica vào quá trình tổng hợp sẽ làm bền các mao quản trong của vật liệu xúc tác, tránh được quá trình sập cấu trúc trong giai đoạn sunfo hóa.

Tuy nhiên, vẫn chưa có dữ liệu nào cho biết hoạt tính của các loại xúc tác đó trong trường hợp cấu trúc mao quản bị sập, nên vai trò của silica trong quá trình sunfo hóa vẫn chưa được nắm bắt rõ ràng. Theo đó, các ảnh hưởng của bề mặt riêng, kích thước mao quản, độ axit tổng và mật độ các nhóm -SO3H đến hoạt tính của các xúc tác cacbon hóa vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, rất cần có những nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ những quy luật trong quá trình chế tạo xúc tác, qua đó cải tiến phương pháp để tạo ra xúc tác tốt nhất. Nguyên lý của quá trình chế tạo xúc tác cacbon hóa Các vật liệu cacbohydrat, bao gồm đường đơn, đường đôi và đường đa, cấu tạo chủ yếu bởi các vòng piranozơ của glucozơ và furanozơ của fructozơ, liên kết với nhau bằng liên kết 1,4-glycosit. Một nghiên cứu từ năm 1951 của nhà tinh thể học Rosalind Franklin [104] và những thông tin thu được từ nghiên cứu của Okamura vào năm 2006 [117] cho biết, trong quá trình cacbon hóa không hoàn toàn, bên cạnh phản ứng ngưng tụ các nhóm –OH tách nước để hình thành các hệ đa vòng thơm ngưng tụ với cấu trúc 3D (chứa các liên kết ngang bền vững thông qua những nguyên tử cacbon lai hóa sp3 như trên hình 1.1 theo Franklin [104]), còn có các quá trình bẻ gãy các liên kết ngang này khi nhiệt độ cacbon hóa tăng lên.

Khi các liên kết ngang dần bị bẻ gãy do nhiệt độ cacbon hóa cao, các lớp đa vòng thơm ngưng tụ được giải phóng và sắp xếp có trật tự hơn. Đồng thời với quá trình đó, việc tách các nhóm –OH trong điều kiện nhiệt độ cao theo cơ chế gốc cũng tạo ra các gốc tự do trên mỗi lớp để ghép nối nhiều lớp thành hệ những đa vòng thơm ngưng tụ lớn hơn. Quá trình này xảy ra càng nhanh khi nhiệt độ cacbon hóa càng lớn và được gọi là sự ”kết tinh địa phương” hay ”graphit hóa”, cuối cùng có thể tạo ra một hệ thống các lớp đa vòng thơm ngưng tụ trật tự, đồng đều, dạng tinh thể tương tự graphit. 15 luan an Hình 1.

Cấu trúc không gian 3D của bột đen theo Franklin (trong đó các đoạn thẳng biểu trưng cho các lớp đa vòng thơm ngưng tụ, các đoạn cong dùng để chỉ các liên kết ngang thông qua những nguyên tử C lai hóa sp3) Quá trình graphit hóa làm giảm mạnh mật độ các vị trí tự do hay vị trí chưa bị thế trên vòng thơm; các vị trí này có khả năng được thế bằng nhóm –SO3H trong phản ứng sunfo hóa, đồng nghĩa với việc sự graphit hóa làm giảm lượng nhóm –SO3H thế vào, giảm tính axit và giảm hoạt tính xúc tác đối với quá trình tổng hợp alkyl este. Mặt khác, nếu nhiệt độ cacbon hóa quá thấp, quá trình ngưng tụ tách các nhóm –OH có tốc độ chậm làm cho bột đen thu được chứa quá nhiều nhóm –OH và ít các lớp 3D chứa đa vòng thơm ngưng tụ. Điều này cũng gây bất lợi cho giai đoạn sunfo hóa vì cũng làm giảm lượng nhóm –SO3H có thể đưa lên bề mặt xúc tác. Theo Toda và các cộng sự [118], quá trình cacbon hóa không hoàn toàn các vật liệu trên tạo ra bột đen chứa nhiều hệ đa vòng thơm ngưng tụ liên kết với nhau qua các nguyên tử C lai hóa sp3, do đó có cấu trúc không gian 3 chiều.

Cấu trúc xúc tác cacbon hóa theo Toda 16 luan an 1. Các phương pháp sunfo hóa Chất mang tạo thành sau quá trình cacbon hóa nguồn chứa đường được sunfo hóa để tạo ra các tâm axit. Có hai phương pháp sunfo hóa chủ yếu được sử dụng là phương pháp sunfo hóa pha lỏng và sunfo hóa pha hơi. Cả hai phương pháp đều có thể sử dụng axit sunfuric làm tác nhân phản ứng.

Sunfo hóa pha lỏng Quá trình sunfo hóa pha lỏng có thể thực hiện trong dung môi hoặc không có dung môi. Các loại dung môi có thể sử dụng là etanol, heptan và axeton. Trong quá trình sunfo hóa có dung môi, chất mang sẽ được hòa trộn với dung môi và tác nhân sunfo hóa (axit sunfuric, PSA hay một số tác nhân chứa nhóm sunfo khác) trong một bình cầu. Hỗn hợp được khuấy trộn trong 30 phút tại nhiệt độ phòng.

Sản phẩm sunfo hóa sau đó được lọc tách và sấy khô tại nhiệt độ phòng. Tiếp đến là quá trình rửa sản phẩm bằng nước nóng đến khi pH của nước rửa đạt trung hòa và không phát hiện ra ion sunfat nữa. Mẫu xúc tác lại tiếp tục được sấy tại 110oC qua đêm và có thể mang đi xác định các đặc trưng hóa lý sau đó. Sunfo hóa pha hơi Sự khác nhau cơ bản giữa sunfo hóa pha lỏng và sunfo hóa pha hơi dựa trên các ảnh hưởng đến tính chất vật lý và hóa học của xúc tác.

Trong khi sunfo hóa pha lỏng có thể làm sập hoàn toàn cấu trúc mao quản trong của chất mang thì sunfo hóa pha hơi giảm đáng kể hiệu ứng này. Sự khác biệt này có được do sự khác nhau trong cơ chế tiếp xúc giữa tác nhân và chất mang trong hai phương pháp. Trong phương pháp sunfo hóa pha lỏng, nồng độ của axit sunfuric có thể lên đến gần 20 mol/l tại 60oC, kết hợp với hiệu ứng mao quản – hiệu ứng điền đầy toàn bộ các mao quản trong bằng tác nhân sunfo hóa, làm cho phản ứng xảy ra cực kỳ mãnh liệt và có khả năng phá hủy hoàn toàn các tường thành mao quản. Ngược lại, trong quá trình sunfo hóa pha hơi, nồng độ axit suunfuric rất thấp (chỉ khoảng 0,0083 mol/l) tại nhiệt độ phản ứng nên phản ứng xảy ra êm dịu hơn nhiều, bảo vệ được các thành mao quản.

Trong phương pháp sunfo hóa pha hơi, sự khuếch tán của hơi thúc đẩy sự hấp phụ của axit sunfuric, đầu tiên lên bề mặt ngoài, sau đó len sâu vào các mao quản phía trong của các hạt chất mang. Sự khuếch tán và hấp phụ nhanh chóng này dẫn đến hình thành một lớp màng rất mỏng bao quanh các hạt chất mang, đồng thời với quá trình ngưng tụ hơi axit vào trong mao quản chất mang do hiệu ứng mao dẫn. Quá dư hơi axit sẽ tạo thành các màng đa lớp và nhanh chóng bão hòa lớp vật liệu, cản trở quá trình hấp phụ vào trong mao quản; do đó, việc tách bỏ các màng này là cần thiết để tăng bề mặt cho quá trình hấp phụ. Độ axit của xúc tác vì thế tăng mạnh sau mỗi lần sunfo hóa và rửa [58, 95].

Xúc tác cacbon hóa có thể chế tạo từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, miễn là trong thành phần của chúng có chứa nhiều cacbon, có các nhóm chức như –OH hoặc –COOH. Rất nhiều tiền chất có sản lượng lớn, giá thành rẻ có khả năng làm 17 luan an được việc đó như các loại đường đơn (glucozơ, fructozơ.), đường đôi (saccarozơ) hay đường đa như tinh bột, xenlulozơ. Thậm chí những nguyên liệu tưởng như là phế thải như lignin, các loại asphalten đi từ dầu thực vật hay dầu mỏ, sau quá trình cacbon hóa không hoàn toàn vẫn có hiệu quả sử dụng rất cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về xúc tác cacbon hóa từ bã tảo cho chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen" của tác giả Trần Quốc Hải, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Khánh Diệu Hồng tại Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển xúc tác cacbon từ bã tảo. Nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong việc chuyển hóa dầu lanh thành biokerosen, mà còn góp phần vào việc tái chế và sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu từ bã tảo, một vấn đề ngày càng được quan tâm trong bối cảnh bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng và nghiên cứu liên quan đến xúc tác và vật liệu carbon, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính, nơi nghiên cứu về vật liệu carbon và ứng dụng của chúng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ: Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các loại vật liệu xúc tác hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu thêm về các hợp chất tự nhiên và ứng dụng của chúng trong nghiên cứu sinh học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nghiên cứu này.