Nghiên cứu tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ bã cà phê để nuôi cấy Saccharomyces cerevisiae

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp công nghệ sinh học nghiên cứu cải thiện kết quả thủy phân bã cà phê sử dụng trong nuôi, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Đặt vấn đề

2. CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ BÃ CÀ PHÊ VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC

2.1. Giới thiệu về bã cà phê và thành phần hóa học

2.2. Một số ứng dụng của thành phần carbohydrate trong bã cà phê

2.2.1. Lên men sản xuất cồn sinh học

2.2.2. Chế tạo than hoạt tính (Biochar)

2.2.3. Vật liệu composite

2.3. Các phương pháp tiền xử lý

2.3.1. Tiền xử lý bằng phương pháp vật lý

2.3.2. Tiền xử lý bằng phương pháp hóa học

2.3.3. Tiền xử lý bằng phương pháp sinh học

2.4. Phương pháp quang phổ hấp thu phân tử (UV-Visible spectrophotometer)

2.5. Kỹ thuật sắc kí lỏng cao áp (High performance liquid chromatography)

2.6. Phương pháp đáp ứng bề mặt (Response Surface Methodology)

2.7. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

3.2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

3.3. Hướng pháp nghiên cứu

3.4. Định lượng polysaccharide

3.5. Tách dầu trong bã cà phê

3.6. Tối ưu hóa điều kiện tiền xử lý bã cà phê

3.7. Thủy phân bã cà phê sau tiền xử lý với enzyme

3.8. Định lượng đường khử và thành phần monosaccharide trong dịch thủy phân

3.9. Khảo sát khả năng nuôi cấy nấm men của dịch đường sau thủy phân

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tối ưu hóa điều kiện tiền xử lý bã cà phê bằng phương pháp bề mặt đáp ứng kết hợp nghiệm thức tâm (RSM-CCD)

4.2. Thủy phân bã cà phê sau tiền xử lý bằng enzyme

4.2.1. Ảnh hưởng của liều lượng enzyme đến hiệu quả thủy phân

4.2.2. Thủy phân kết hợp hai loại enzyme Cellulast và Viscozyme

4.2.3. Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch đệm đến hiệu quả thủy phân

4.2.4. Ảnh hưởng của tiền xử lý tới hiệu quả thủy phân polysaccharide

4.3. Khảo sát khả năng tăng sinh Saccharomyces cerevisiae bằng dịch thủy phân bã cà phê

4.3.1. Kết quả theo dõi mật độ vi sinh vật

4.3.2. Kết quả theo dõi nồng độ đường khử trong dịch tăng sinh

4.3.3. Kết quả xác định mật độ tế bào

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

DANH SÁCH BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ bã cà phê

Nghiên cứu tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ bã cà phê nhằm giải quyết vấn đề chất thải từ ngành cà phê. Bã cà phê chứa hàm lượng carbohydrate cao, nhưng chưa được khai thác triệt để. Việc tối ưu hóa quy trình này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra nguồn nguyên liệu giá trị cho ngành công nghiệp thực phẩm và sinh học.

1.1. Bã cà phê và thành phần hóa học của nó

Bã cà phê (BCP) chứa nhiều polysaccharide như cellulose và hemicellulose. Các thành phần này có thể được thủy phân thành đường khử, phục vụ cho quá trình nuôi cấy vi sinh vật. Nghiên cứu cho thấy BCP có thể cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho sản xuất sinh khối.

1.2. Tầm quan trọng của việc tối ưu hóa quy trình

Tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ BCP giúp nâng cao hiệu suất thu hồi đường khử. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường bằng cách giảm thiểu chất thải.

II. Vấn đề và thách thức trong việc thu nhận đường từ bã cà phê

Mặc dù bã cà phê chứa nhiều carbohydrate, nhưng việc thu nhận đường từ chúng gặp nhiều thách thức. Hiệu suất thủy phân thường thấp, chỉ đạt từ 9-18% khối lượng BCP khô. Các yếu tố như nồng độ enzyme, điều kiện pH và nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến quá trình này.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất thu nhận đường

Nồng độ enzyme và tỷ lệ dung môi: bã cà phê là hai yếu tố quan trọng. Nghiên cứu cho thấy, việc tối ưu hóa các yếu tố này có thể gia tăng đáng kể hiệu suất thu hồi đường khử từ BCP.

2.2. Thách thức trong việc ứng dụng thực tiễn

Việc ứng dụng dịch thủy phân BCP trong nuôi cấy vi sinh vật còn gặp khó khăn do sự hiện diện của các hợp chất ức chế. Cần có các nghiên cứu sâu hơn để tìm ra giải pháp khắc phục.

III. Phương pháp tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ bã cà phê

Phương pháp tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ bã cà phê bao gồm tiền xử lý bằng kiềm và enzyme. Sử dụng mô hình bề mặt đáp ứng giúp xác định các điều kiện tối ưu cho quá trình thủy phân.

3.1. Tiền xử lý bã cà phê bằng kiềm

Tiền xử lý bằng kiềm giúp phá vỡ cấu trúc lignocellulose, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thủy phân. Nghiên cứu cho thấy nồng độ NaOH 3,5% là điều kiện tối ưu.

3.2. Thủy phân bã cà phê bằng enzyme

Thủy phân bã cà phê bằng enzyme Cellulast và Viscozyme cho kết quả tốt nhất. Nghiên cứu cho thấy nồng độ enzyme 4% và pH 4.8-5.0 là điều kiện lý tưởng để thu nhận đường khử.

IV. Ứng dụng thực tiễn của dịch thủy phân bã cà phê trong nuôi cấy Saccharomyces cerevisiae

Dịch thủy phân bã cà phê có thể được sử dụng làm môi trường nuôi cấy cho Saccharomyces cerevisiae. Nghiên cứu cho thấy, dịch này có thể cung cấp nguồn đường khử dồi dào cho sự phát triển của vi sinh vật.

4.1. Khả năng tăng sinh của Saccharomyces cerevisiae

Mật độ tế bào của S. cerevisiae đạt 1,19 x 10^7 CFU/mL khi nuôi cấy trong dịch thủy phân bã cà phê. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của BCP trong sản xuất sinh khối.

4.2. Kết quả theo dõi nồng độ đường khử

Nồng độ đường khử trong dịch thủy phân đạt 10195 mg/L, cho thấy hiệu quả của quy trình tối ưu hóa. Kết quả này mở ra hướng đi mới cho việc sử dụng BCP trong sản xuất thực phẩm.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ bã cà phê

Nghiên cứu tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ bã cà phê đã đạt được những kết quả khả quan. Việc ứng dụng dịch thủy phân trong nuôi cấy vi sinh vật không chỉ giúp giảm thiểu chất thải mà còn tạo ra sản phẩm có giá trị.

5.1. Tương lai của nghiên cứu

Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện hiệu suất thu hồi đường khử từ BCP. Các phương pháp mới và công nghệ sinh học có thể được áp dụng để nâng cao hiệu quả.

5.2. Ứng dụng trong ngành công nghiệp

Dịch thủy phân bã cà phê có thể được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm và sinh học. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp công nghệ sinh học nghiên cứu nâng cao hiệu quả thủy phân bã cà phê sử dụng trong nuôi cấy nấm men saccharomyces cerevisiae

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cà phê (CP) hiện nay đang là mặt hàng thương mại nhiều thứ hai thế giới chỉ sau đầu mỏ và là loại thức uống phổ biến chỉ sau nước. Theo ước tính của Tổ chức Ca phê Quốc tế (ICO), trong giai đoạn 2019 - 2020 toàn thế giới tiêu thụ 169.34 triệu bao cà phê loại 60 kg (tương đương 10,2 triệu tấn). Việt Nam là nước xuất khâu cà phê đứng thứ hai thế giới với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng, lượng tiêu thụ nội địa tăng lên nhanh chóng, từ 1,68 kg/người năm 2009 lên trên 2 kg/người năm 2020. Theo Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam, sản lượng cà phê tại Việt Nam năm 2020 đạt 1,74 triệu tấn và khoảng 10% lượng cà phê được sử dụng trong nước.

Một số ước tính cho thấy, chế biến 1 tấn cà phê nhân có thể thải ra môi trường khoảng 650 kg chất thải (Murthy và Naidu, 2012), sản xuất CP hòa tan và pha chế nước uống từ CP đã thải ra hơn 6 triệu tấn bã cà phê (BCP) mỗi năm trên toàn thế giới (Karmee, 2018). Sự phat triển của ngành ca phê đã tao ra một lượng lớn chat thải cho môi trường, nhưng giải pháp xử lý phổ biến hiện nay tại nước ta là chôn lấp. Ngoài ra, BCP cũng đã được tận dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học, than hoạt tính và chất hấp phụ sinh học, vật liệu composite; các hợp chất có hoạt tính sinh học như acid béo (linoleic acid, palmitic acid), phenolic, caffein nhằm ứng dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm (Campos -Vaga va ctv, 2015; Liu va ctv, 2020; Franca va Oliveira, 2022). BCP có chứa một lượng lớn là carbohydrate, trên 50% (Ballesteros va ctv, 2014; Kovalcik và ctv, 2018).

Day cũng là thành phần được quan tâm nghiên cứu hiện nay, chủ yếu được sử dụng làm các loại vật liệu hoặc lên men tạo cồn sinh học. Một số nghiên cứu cũng đã thử nghiệm thủy phân BCP bằng phương pháp enzyme để tạo dịch đường có hoạt tinh sinh học, nhưng hiệu suất đường hóa thường thấp chỉ đạt 9 - 18% khối lượng BCP khô (Kopp và ctv, 2019; Bhaturiwala và Modi, 2020). Các phương pháp tiền xử lý BCP với acid loãng, kiềm, dung môi hoặc kết hợp các phương pháp trên có khả năng tăng cường hiệu quả thủy phân BCP để thu nhận dịch đường. Trong một nghiên cứu gần đây, BCP được tiền xử lý hai bước, bắt đầu bằng phương pháp kiềm và tiếp theo là xử lý bằng dung môi.

Kết quả cho thấy việc kết hợp hai bước tiền xử lý này làm gia tăng hiệu quả thủy phân đáng kể, hàm lượng đường khử cao gấp 1,7 lần so với mẫu không xử lý (Trinh và ctv, 2022). Vì vậy, đề tài đã được tiến hành 1 nhằm tối ưu quy trình tiền xử lý BCP bằng phương pháp kết hợp kiềm và dung môi với mục tiêu gia tăng hiệu suất thủy phân đề thu nhận dịch giàu đường. Nhiều nghiên cứu gần đây đã thử nghiệm khả năng nuôi cấy vi sinh vật bằng môi trường có dịch thủy phân BCP. Monente và ctv (2015) đã chứng minh sự hiện diện của các hợp chất phenolic, caffein hay melanoidin trong dịch thủy phân gây ức chế sự phát của một số vi khuẩn gram (+), nhưng các chủng Lactobacillus vẫn có khả năng phát triển mạnh do tiết ra acid lacic làm phân hủy hoặc chuyển hóa các hợp chất trên (Hudeckova va ctv, 2018; Wongsiridetchai va ctv, 2021; Piekarska-Radzik và Klewicka, 2021).

Saccharomyces cerevisiae là một loại nam men có nhiều ứng dụng rộng rãi trong công nghệ lên men sản xuất đồ uống, thực phẩm và là lợi khuẩn hỗ trợ cho hệ tiêu hóa của con người và động vật. BCP đã được lên men đề sản xuất cồn sinh học nhờ hoạt động của S. Dịch thủy phân BCP với hàm lượng đường cao có tiềm năng được sử dụng làm môi trường nuôi cấy tăng sinh vi sinh vật, trong đó đối tượng chúng tôi quan tâm nghiên cứu là sinh khối S. Mục tiêu dé tài Đề tài được tiến hành nhằm nâng cao hiệu qua thủy phân thu nhận đường khử từ bã ca phê bằng cách tối ưu hóa điều kiện tiền xử lý.

Đồng thời khảo sát khả năng ứng dụng dich thủy phân BCP trong nuôi cấy tăng sinh thu nhận sinh khối nam men Saccharomyces cerevisiae. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Tối ưu hóa quy trình tiền xử lý bã cà phê. Nội dung 2: Thủy phân bã cà phê sau tiền xử lý với enzyme. Nội dung 3: Khao sát khả năng nuôi cây nam men Saccharomyces cerevisiae bằng dịch thủy phân bã cà phê.

Giới thiệu về bã cà phê và thành phan hóa học Tất cả phần xác cà phê sau khi qua chế biến, bao gồm xác từ chế biến CP hòa tan, từ pha chế CP rang xay và bã từ các ngành công nghiệp thực phẩm có sử dụng ca phê khác đều được gọi chung là “bã cà phê”. Thành phần hóa học của BCP phụ thuộc vào loại CP, vị trí địa lý, tuổi cây, khí hậu và điều kiện thổ nhưỡng của vùng trồng CP (Murthy va Naidu, 2012). Ba cà phê. Thành phần hóa học của bã ca phê (Bomfim va ctv, 2022).

Thanh phan chủ yếu của BCP là các polysaccharide gồm hemicellulose (30 - 40%) va cellulose (8 - 15%) (Kovalcik va ctv, 2018; Bomfim va ctv, 2022). Cellulose là hợp chất cao phân tử được cấu tao từ các liên kết B-D-glucose. Hemicellulose được cấu tạo từ các polymer không đồng nhất là các loại đường pentose (xylose, arabinose) va hexose (mannose, glucose, galactose). Cellulose và hemicellulose thường liên kết với nhau tạo ra cấu trúc bền vững hơn cho thành tế bào.

Các polysaccharide này có thể được phân cắt thành các monosaccharide hoặc oligosaccharide dưới tác động của enzyme (Pujol và ctv, 2013; Cerino-Córdova và ctv, 2020). Các loại đường đơn chính được tìm thấy trong BCP bao gồm glucose (12,4%), mannose (19,1%), galactose (16,4%) và arabinose (3,6%) (Ballesteros và ctv, 2014). Các monosaccharide nói chung đều liên quan tới tới hai chức năng chính của tế bào là dự trữ và sản xuất năng lượng (Pigman và Horton, 1972). Loại đường đơn phổ biến va dé sử dụng nhất đối với cơ thể là glucose, trong khi galactose cũng có thé chuyền hóa thành glucose thông qua một số phản ứng sinh hóa.

Mannose va arabinose lại được biết đến với nhiều lợi ích về sức khỏe khác. Chúng được chứng minh có lợi với hệ thống miễn dịch, bệnh đái tháo đường, chống lại sự phát triển của các khối u (Li va ctv, 2019; Wu và ctv, 2019; Pol và ctv, 2022). Lignin chiém khoang 20 - 30% trong BCP (Ballesteros va ctv, 2014). Lignin la một trong những thành phan chính cau tạo nên vách tế bao thực vật.

Về co ban, nó là một polyme tự nhiên có cấu trúc phức tạp chứa nhiều nhóm chức bao gồm sulfonate, methoxyl, carbonyl, phenolic và hydroxyl béo. Lignin có khả năng chống phân hủy sinh học, chống oxy hóa, bền nhiệt và hàm lượng carbon cao. Mặc dù cấu trúc phức tap, lignin lại có tiềm năng như là một nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu sinh học và là tiền chat cho quá trình sản xuất các hợp chất có giá trị cao (Naseem và ctv, 2016). BCP có thành phan protein khá cao khoảng 13 - 17 % (Bomfim và ctv, 2022).

Phan dầu trong BCP (7 - 21%) cũng là thành phan có giá trị được nghiên dé tổng hop polyhydroxyalkanoate, sản xuất chất hoạt động bề mặt, tông hop biodiesel, thành phần bổ sung trong các công thức kem chống nắng (Battista va ctv 2020; Kwon va ctv, 2013). Các thành phần khác được tìm thấy trong bã cà phê với lượng nhỏ hơn bao gồm tro (1 - 2%) và các hợp chat có hoạt tính chéng oxy hóa. Thanh phần các hợp chất chống oxy hóa đa dạng, gồm chlorogenic acid, caffeoylquynic acids, feruloylquynic acids, p-coumaroylquynic acids, caffeic acid, ferulic acid, quinic acid và các ester của chúng (Zuorro và Lavecchia, 2012). Các hợp chất này có mặt trong ca dau và dịch thủy phân BCP (Choi va Koh, 2017; Vu va ctv, 2021).

Một số ứng dung của thành phan carbohydrate trong bã ca phê 2. Lên men sản xuất cồn sinh học Giải pháp tái sử dụng các phế phẩm giàu carbon có nguồn gốc từ thực vật giúp tận dụng nguyên liệu đồng thời giảm rác thải cho môi trường. Hướng xử lý đầu tiên thường được đề cập đến hiện nay là sản xuất cồn sinh học (bioethanol). Nghiên cứu của Burniol-Figols va ctv (2016) đã tiến hành thủy phân BCP bằng phương pháp kết hợp giữa acid và enzyme thu nhận các loại đường đơn, phần dịch thủy phân sau đó được lên men bằng S.

Sản phẩm sau lên men có nồng độ ethanol khoảng 38,9 g/L. Một nghiên cứu khác đã tiễn hành chiết xuất dau trước khi thủy phân và lên men bằng quy trình tương tự, họ thu được ethanol có nồng độ 50 g/L (Battista và ctv, 2020). Việc sản xuất cồn sinh học từ BCP được đánh giá là phương pháp mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường (Burniol-Figols và ctv, 2016). Chế tạo than hoạt tính Bên cạnh việc giảm lượng rác thải ra môi trường, xử lý ô nhiễm cũng đáng được quan tâm.

Một trong những sáng kiến có thể giải quyết vấn đề ô nhiễm là sản xuất than hoạt tính từ bã cà phê để làm chất hấp phụ. Để tạo than hoạt tính, vật liệu thường được xử lý qua 2 bước: carbon hoá ở nhiệt cao nhằm làm giảm bớt các thành phan dé bay hơi và dé phân hủy, sau đó vật liệu sẽ được hoạt hóa dé cải thiện diện tích bề mặt bằng phương pháp hóa lý kết hợp. Năm 2017, Afdhol va ctv đã tiến hành hoạt hóa BCP với ZnCh và phủ than hoạt tính lên bề mặt khẩu trang. Thử nghiệm đã cho thấy nhiều ưu điểm vượt trội về khả năng hấp phụ chất ô nhiễm trong không khí.

Than hoạt tính từ BCP cũng đã được sử dụng dé xử lý ô nhiễm trong nước, chang hạn như loại bỏ bisphenol-A, môt hợp chất hữu cơ có thể gây rối loạn nội tiết được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp nhựa. Than hoạt tính từ BCP được hoạt hóa bằng phương pháp hóa học với ZnCl› có khả năng hấp phụ bisphenol-A tối đa tới 123,22 mg/g (Alves và ctv, 2019). Vật liệu composite Việc chế tạo vật liệu tổng hợp (composite) từ cấu trúc lignocellulose cũng là xu hướng được quan tâm trong những năm gần đây. Năm 2008, Công ty Singtex (Đài Loan) đã đã chế tạo thành công sợi “S.

Cafe” từ bã cà phê ở nhiệt độ 160°C. Sản phẩm làm từ sợi cà phê có khả năng kiểm soát mùi, nhanh khô và chống tia cực tím. Thành công này đã trở thành tiền đề cho nhiều nghiên cứu tiếp theo. Một số ý tưởng đã thử nghiệm đưa BCP vào làm chất gia cô và chất độn cho các vật liệu polymer khác nhau như polypropylene, polylactide va polyvinyl alcohol (Leow và ctv, 2021; Miiller và ctv, 2020).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tối ưu hóa quy trình thu nhận đường từ bã cà phê để nuôi cấy Saccharomyces cerevisiae" mang đến cái nhìn sâu sắc về việc tận dụng nguồn nguyên liệu từ bã cà phê, một sản phẩm phụ thường bị lãng quên, để sản xuất đường phục vụ cho quá trình nuôi cấy nấm men. Nghiên cứu này không chỉ giúp giảm thiểu lãng phí mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các quy trình sản xuất bền vững trong ngành công nghiệp thực phẩm. Các điểm chính của tài liệu bao gồm phương pháp tối ưu hóa quy trình thu nhận, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất thu nhận đường, và tiềm năng ứng dụng trong sản xuất thực phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về các quy trình thu nhận và ứng dụng enzyme trong công nghệ thực phẩm, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm thu nhận glycosaminoglycans gags bằng xúc tác thủy phân bởi enzyme protamex và tinh sạch, nơi trình bày về việc sử dụng enzyme trong việc thu nhận các hợp chất giá trị từ nguồn nguyên liệu tự nhiên. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thiết kế t vector dùng cho tách dòng phân tử bằng phương pháp sử dụng enzyme xcmi cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về ứng dụng enzyme trong các quy trình tách dòng phân tử, giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của enzyme trong công nghệ sinh học. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này.