Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 1. Khái niệm và đặc điểm của tội cướp tài sản 1. Khái niệm * Khái niệm tội phạm Để bảo vệ đặc quyền của của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với những người nào thực hiện các hành vi đó. Do đó, tội phạm mang bản chất là một hiện tượng có tính chất pháp lý.
Với thuộc tính là hiện tượng mang tính xã hội - pháp lý, tội phạm luôn chứa đựng đặc tính chống lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, làm ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích chung của cộng đồng, xâm phạm tới quyền, tự do, các lợi ích hợp pháp của con người, xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội. Nghiên cứu Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, nhà làm luật nước ta đã ghi nhận định nghĩa tội phạm tại khoản 1 Điều 8 BLHS. Đây được coi là khái niệm đầy đủ, khoa học và toàn diện nhất dưới mọi góc độ nghiên cứu khoa học luật hình sự. * Khái niệm tội cướp tài sản: Hành vi cướp tài sản được coi là tội phạm và được quy định tại Điều 168 BLHS năm 2015.
Tuy được quy định và xét xử sớm như vậy nhưng trong lí luận và thực tiễn khái niệm này dưới sự mô tả hành vi khách quan vẫn còn có sự nhận thức khác nhau được quy định trong luật, cơ quan có thẩm quyền cũng không kịp thời ban hành văn bản giải thích quy định của luật, việc có 5 các cách hiểu khác nhau về quy định của luật, nhất là của những người làm công tác áp dụng pháp luật trong các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ làm cho công tác áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn thiếu chính xác và không thống nhất, làm giảm chất lượng xét xử. Từ đó có thể hiểu, khái niệm tội cướp tài sản như sau: Tội cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện một trong các hành vi sau: 1) Hành vi dùng vũ lực làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản; 2) Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản; 3) Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Đặc điểm Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy tội cướp tài sản có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, tội cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm 02 khách thể quan trọng đó là quyền sở hữu tài sản và sức khỏe của con người. Đây là đặc điểm khá căn bản của tội cướp tài sản, bởi các tội phạm thông thường chỉ xâm phạm đến 01 khách thể.
Ví dụ tội trộm cắp tài sản chỉ xâm phạm quyền sở hữu của công dân. Tuy nhiên, tội cướp tài sản lại xâm phạm 02 khách thể, đây cũng được sử dụng làm dấu hiệu phân biệt với các tội phạm tương đồng khác. Thứ hai, tội cướp tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Theo đó, khi xác định hành vi của một người phạm tội cướp tài sản thì chắc chắn lỗi của người đó là lỗi có ý trực tiếp, người thực hiện hành vi cướp tài sản với mong muốn chiếm đoạt tài sản và chắc chắn nhận thức được việc cướp, dùng 6 vũ lực có thể gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe của bị hại, mất mát về tài sản nhưng người phạm tội vẫn cố ý thực hiện và mong muốn hậu quả trực tiếp là thiệt hại về tài sản xảy ra.
Thứ ba: Hành vi cướp là hành vi trái pháp luật. Bộ luật hình sự là văn bản pháp luật duy nhất quy định về tội phạm và hình phạt, theo đó, một hành vi bị coi là tội phạm và ghi nhận trong bộ luật hình sự thì chắc chắn hành vi đó mang đặc trưng là có tính trái pháp luật, xâm phạm khách thể được pháp luật hình sự. Và điều đó không ngoài trừ trong tội cướp tài sản. Thứ tư, tội cướp tài sản là tội đặc biệt nguy hiểm cho xã hội với mức khung hình phạt cao nhất lên đến tù chung thân.
Có thể thấy, tội cướp tài sản là một trong những tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội đặc biệt cao, bởi trong các tội xâm phạm sở hữu thì tôi cướp tài sản là tội phạm có mức khung hình phạt cao nhất có thể lên đến tù chung thân. Dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội cướp tài sản 1. Dấu hiệu pháp lý Tội cướp tài sản được cấu thành khi thỏa mãn đủ 04 yếu tố: mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, khách thể của tội phạm và chủ thể của tội phạm. Về mặt khách quan Tội cướp tài sản được thể hiện bởi một trong các hành vi: dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Trong đó: + Hành vi dùng vũ lực: Hành vi dùng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh vật chất (có hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội như 7 dao, súng. trợ giúp) tác động đến thân thể người bị tấn công (thường là người chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lí, bảo vệ, trông coi tài sản) làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Hành động tấn công tác động vào cơ thể của người bị tấn công (như: Đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém.) có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công tức (làm cho nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại đến sức khoẻ hoặc bị chết) và làm cho họ mất khả năng chống cự lại nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể (không có tỷ lệ thương tật) hoặc công khai để cho người bị tấn công biết. Xét mối quan hệ sở hữu, thì tài sản bị chiếm đoạt có thể là tài sản của người bị tấn công hoặc của người khác nhưng người bị tấn công thường là người đang trực tiếp quản lý tài sản hoặc cá biệt người bị tấn công không có trách nhiệm quản lý tài sản nhưng có thể làm cản trở việc chiếm đoạt của người phạm tội.
+ Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: là hành vi dùng lời nói đe doạ (dọa giết chết, dọa gây thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ) hoặc hành động đe dọa (dí dao, súng vào người) hoặc và thường là kết hợp cả hai (có lời nói, cử chỉ đe doạ và kèm theo công cụ, phương tiện trợ giúp) dọa sẽ dùng ngay tức thì vũ lực nếu người bị tấn công (người chủ tài sản người quản lí tài sản, người thân của người chủ tài sản.) chống cự lại để buộc người bị tấn công phải sợ và tin rằng nếu không đưa tài sản thì tính mạng, sức khỏe sẽ bị nguy hại. Ví dụ: dí dao vào cổ, dí súng vào người yêu cầu người bị hại giao ngay tài sản nếu không sẽ bị đâm, bị bắn ngay lập tức. Người bị tấn công không có điều kiện để chống cự cũng là dấu hiệu quan trọng cho phép phân biệt hành vi “đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc” 8 trong tội cướp tài sản với hành vi “đe doạ sẽ dùng vũ lực” trong tội cưỡng đoạt tài sản. + Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được: là hành vi không phải là dùng vũ lực, cũng không phải là đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng lại làm cho người bị tấn công lâm tuy biết sự việc đang xảy ra nhưng không có cách nào chống cự được (như bị trói, bị nhét giẻ vào mồm không kêu cứu được, bị nhốt vào buồng kín không thể chạy đi cầu cứu…), hoặc tuy không bị nguy hại đến tính mạng, sức khỏe nhựng không thể nhận thức được sự việc đang xảy ra.
Để xác định hành vi này, trước hết phải xuất phát từ phía người bị hại phải là người bị tấn công, nhưng không phải bị tấn công bởi hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc mà bị trấn công bởi hành vi khác. Như vậy, hành vi khác mà nhà làm luật quy định trong cấu thành trước hết nó phải là hành vi tấn công người bị hại, mức độ tấn công tới mức người bị hại không thể chống cự được. - Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, không kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không. Do khách thể của tội cướp là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân nên hậu quả của tội cướp tài sản có thể là thiệt hại về tài sản nhưng cũng có thể là những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm.
Mặt chủ quan của tội phạm 9 Tội cướp tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Theo đó, khi xác định hành vi của một người phạm tội cướp tài sản thì chắc chắn lỗi của người đó là lỗi có ý trực tiếp, người thực hiện hành vi cướp tài sản với mong muốn chiếm đoạt tài sản và chắc chắn nhận thức được việc cướp, dùng vũ lực có thể gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe của bị hại, mất mát về tài sản nhưng người phạm tội vẫn cố ý thực hiện và mong muốn hậu quả trực tiếp là thiệt hại về tài sản xảy ra. Khách thể tội phạm Khách thể của tội cướp tài sản chính là quyền sở hữu hợp pháp về tài sản và quyền được bảo hộ về sức khỏe. Đây là đặc trưng riêng của tội cướp tài sản so với các tội xâm phạm sở hữu khách khi xâm phạm 02 khách thể là quyền sở hữu và sức khỏe của người khác.