đặt vấn đề 4 trang, tổng quan tài liệu 32 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 22 trang, kết quả nghiên cứu 38 trang, bàn luận 40 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang. Luận án có 43 bảng, 12 biểu đồ, 1 hình, 1 sơ đồ, 162 tài liệu tham khảo: 36 tài liệu tiếng Việt, 126 tài liệu tiếng Anh. Định nghĩa và phân loại nhồi máu não Định nghĩa về đột quỵ của Hội đột quỵ Hoa kỳ 2013: Nhồi máu hệ thần kinh trung ương (Central nervous system infarction) là tình trạng chết tế bào não, tủy sống hoặc võng mạc do thiếu máu, dựa trên giải phẫu bệnh, chẩn đoán hình ảnh thần kinh và/hoặc các bằng chứng lâm sàng của tổn thương vĩnh viễn. Nhồi máu hệ thần kinh trung ương bao gồm: - Đột quỵ thiếu máu (ischemic stroke) để chỉ những trường hợp nhồi máu hệ thần kinh trung ương có triệu chứng - Nhồi máu não thầm lặng (silent infartion) để chỉ những trường hợp không phát hiện triệu chứng lâm sàng.
Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua là giai đoạn ngắn rối loạn chức năng thần kinh do thiếu máu não hoặc võng mạc, với các triệu chứng lâm sàng thường kéo dài dưới 1 giờ, và không có bằng chứng nhồi máu não cấp tính. Đột quỵ bao gồm cả chảy máu trong não (intracerebral hemorrhage) và chảy máu dưới nhện (subarachnoid hemorrhage). - Phân loại theo giai đoạn + NMN cấp : Tuần đầu sau khởi bệnh + NMN bán cấp : Tuần thứ 2 đến tuần thứ 4 + NMN mạn : Sau tuần thứ 4 1. Cơ chế bệnh sinh của nhồi máu não Hai cơ chế cơ bản tham gia vào quá trình gây tai biến thiếu máu não là cơ chế nghẽn mạch (thường do huyết khối, cục tắc) và cơ chế huyết động học.
TỔ HỢP CHẤT CHỈ ĐIỂM SINH HỌC TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ DỰ BÁO TIÊN LƯỢNG NHỒI MÁU NÃO Mặc dù có nhiều chất chỉ diểm sinh học (CCĐSH) giúp chẩn đoán nhồi máu não (NMN) nhưng không có một CCĐSH đơn lẻ nào là đặc trưng. Do đó, nhiều nghiên cứu đã tiến hành phối hợp nhiều CCĐSH với nhau tạo thành một tổ hợp, để tăng độ nhạy và độ đặc hiệu. Tổ hợp có D-Dimer. D-Dimer, một CCĐSH của sự tiêu hủy fibrin, thể hiện hoạt tính sinh học của plasmin, tăng ngay trong giờ đầu sau khi thiếu máu não và kéo dài tới vài tháng, phản ánh sự rối loạn đông máu cấp và mạn tính.
Một số nghiên cứu đánh giá nhiều CCĐSH của quá trình đông máu đã rút ra kết luận nồng độ D–Dimer rất nhạy trong đột quỵ, có thể giúp phân biệt được nguồn gốc của đột quỵ và là yếu tố tiên lượng mạnh nhất đối với mức độ nặng và sự tái lập trong giai đoạn bán cấp. D-Dimer có khả năng dự đoán cao về tình trạng diễn tiến nặng lâm sàng, (DTNLS) tình trạng tử vong và nguy cơ tái phát của đột quỵ NMN. Nồng độ D-Dimer tăng có thể phản ánh sự phản ứng trong pha cấp và sự hoạt hóa đông máu thứ phát từ phá hủy mô hoặc là biến chứng của đột quỵ. Tổ hợp có vWF và VCAM-1 - Yếu tố đông máu von Willebrand (vWF) Yếu tố đông máu vWF, có bản chất là protein, là yếu tố hoạt động như chất tải của yếu tố VIII, được coi như CCĐSH tiên lượng đối với TBMNM thoáng qua, hoặc TBMMN hình thành.
Cũng vì lý do liên quan đến quá trình hình thành huyết khối mà gần đây vWF được nghiên cứu như là một CCĐSH đặc biệt trong NMN. vWF cũng tăng sớm trong vòng 12 giờ sau khi khởi phát bệnh. - Phân tử bám dính tế bào mạch máu 1 (Vascular cell adhesion molecule- VCAM-1) Phân tử VCAM-1 là một seletin hòa tan thuộc nhóm những phân tử globulin miễn dịch bám vào tế bào thành mạch. Trong quá trình viêm, nồng độ VCAM -1 tăng lên, bám dính vào các tế bào nội mạc.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy nồng độ chất này tăng cao trong máu 4 giờ sau khi triệu chứng thiếu máu não xuất hiện. Tổ hợp có MCP-1 Monocyte chemotactic protein 1 (MCP-1) là một protein có ái lực hóa học với bạch cầu đơn nhân, có xu hướng hút bạch cầu đơn nhân, có mặt trong dịch não tủy và hoạt lực tăng đáng kể 24 giờ sau triệu chứng thiếu máu não, nồng độ chất này không thay đổi trong máu. MCP-1 là một chemokine được tiết ra từ tế bào thần kinh và tế bào hình sao sau đột quỵ, nó cũng được biết là làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu máu cục bộ. Kết quả này cũng cho thấy MCP-1 có thể đóng một vai trò trong phản ứng viêm ở giai đoạn sớm của đột quỵ thiếu máu não và có giá trị tiên lượng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Nhóm bệnh: Là những bệnh nhân (BN) NMN giai đoạn cấp từ 18 trở lên. Bị NMN lần đầu tiên. Không có những bệnh lý kèm theo ảnh hưởng đến tăng nồng độ vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer huyết tương.
Điều trị nội trú tại khoa Hồi sức cấp cứu và khoa Nội Tổng hợp Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn Bình Định. Tự nguyện tham gia nhóm nghiên cứu. Nhóm chứng: Là những người khỏe mạnh, có độ tuổi tương đương với nhóm bệnh. Chưa lần nào bị tai TBMMN đến thời điểm nghiên cứu.
Không có những bệnh lý kèm theo ảnh hưởng đến tăng nồng độ vWF, VCAM-1, MCP- 1, D-Dimer huyết tương. Tự nguyện tham gia nhóm nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu: Từ 01 / 2015 đến 01 / 2016. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Theo phương pháp mô tả cắt ngang, có so sánh và đối chiếu với nhóm chứng.
Bệnh nhân được đánh giá tại 2 thời điểm: Lúc mới vào viện và 48 giờ sau khi vào viện. Cách thức chọn mẫu: Theo công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ. pvWF = 0,94 (theo nghiên cứu của Mark A. Reynolds và cs, tỷ lệ tăng vWF ở bệnh nhân NMN cấp là 94%).
PVCAM 1 = 0,91 (theo nghiên cứu của Lynch J.R và cs, tỷ lệ tăng VCAM-1 ở bệnh nhân NMN cấp là 91%). Như vậy, cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi từ 34 đến 49 BN. Thực tế chúng tôi nghiên cứu 50 BN NMN và 40 người chứng. Các bước tiến hành Bước 1: Chọn bệnh nhân đột quỵ, chụp não cắt lớp vi tính (NCLVT) trên máy Aquilion Toshiba – Nhât, có tổn thương dạng NMN.
Bước 2: Tiến hành nghiên cứu vào 2 thời điểm: 2. Lúc vào viện *Khám lâm sàng (LS): Bệnh nhân được khám, đánh giá 2 thang điểm Glasgow, NIHSS. Khai thác tình trạng hút thuốc lá, uống rượu. *Lấy máu xét nghiệm: - Đối với vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer: BN được lấy 2 ml máu ngay lúc vào viện, tiến hành ly tâm với tốc độ 3.000 vòng / 1 phút trong 05 phút, sau đó được bảo quản ở - 20°C.
Mỗi 10 đến 15 mẫu được chuyển nhanh ra Bệnh viện TW Huế bằng xe đông lạnh có thiết bị bảo quản. Xét nghiệm được thực hiện bằng kỷ thuật ELISA trên máy EVOLIS ở Khoa Sinh hóa và Huyết hoc. - Đối với glucose, bạch cầu, tiểu cầu, bilan lipid, creatinin: BN được lấy máu lúc đói ngày đầu tiên. Các xét nghiệm này được thực hiện tại Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn, Bình Định trên máy SAT 600.
Sau 48 giờ: Đánh giá lại tình trạng lâm sàng của bệnh nhân cũng thông qua 2 thang điểm Glasgow và NIHSS. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU - Đề cương nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Y đức phê duyệt. - Bệnh nhân và/hoặc gia đình được giải thích đầy đủ và đồng ý tham gia nghiên cứu. Thông tin cá nhân cũng như thông tin về tình trạng sức khỏe của BN được bảo mật hoàn toàn.
ĐẶC ĐIỂM CHUNG MẪU NGHIÊN CỨU Bảng 3.1 Phân bố về tuổi của nhóm bệnh và nhóm chứng. Nhóm nghiên cứu Nhóm bệnh Nhóm chứng p Tuổi (n=50 ) (n=40 ) Tuổi Nam 66,30 ± 16,00 65,20 ± 17,30 >0,05 TB Nữ 74,40 ± 8,90 74,40 ± 9,50 >0,05 (X±SD ) Chung 69,70 ± 14,00 69,40 ± 14,90 >0,05 Tuổi lớn nhất 93 91 Tuổi nhỏ nhất 33 41 Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tuổi và giới giữa 2 nhóm. NỒNG ĐỘ vWF, VCAM-1, MCP-1 VÀ D-Dimer HUYẾT TƯƠNG Bảng 3.2 Nồng độ trung bình (TB) vWF, VCAM-1, MCP-1 và D- Dimer huyết tương nhóm bệnh và chứng. Nhóm nghiên Nhóm bệnh Nhóm chứng cứu p (n=50) (n=40) CCĐSH vWF (Mu/ml) 176,03 ± 18,11 148,98 ± 19,04 <0,001 X ± SD VCAM-1 (ng/ml) 53,87 ± 3,35 43,64 ± 4,36 <0,001 X ± SD MCP-1 (pg/ml) 357,47 ± 111,07 190,88 ± 51,66 <0,001 X ± SD D-Dimer (ng/ml) 1016,72 ± 524,06 329,40 ± 90,17 <0,001 X ± SD Nồng độ trung bình 4 CCĐSH nhóm bệnh đều cao hơn nhóm chứng.
GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA TỔ HỢP CCĐSH vWF, VCAM- 1, MCP-1, D-Dimer Ở BỆNH NHÂN NMN CẤP 3. Tỷ lệ BN NMN có nồng độ vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer huyết tương tăng trên điểm cắt chẩn đoán Bảng 3.3 Giá trị điểm cắt giới hạn (giá trị tối ưu để chẩn đoán bệnh) của vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer huyết tương trong chẩn đoán NMN cấp. Điểm cắt Độ nhạy Độ đặc hiệu Khoảng tin AUC p giới hạn Se (%) Sp (%) cậy 95% vWF >169 94,00 90,00 0,960 0,896-0,990 <0,001 (Mu/ml) VCAM- >49,60 98,00 97,50 0,983 0,930-0,999 <0,001 1 (ng/ml) MCP-1 >247,62 84,00 97,50 0,925 0,849-0,970 <0,001 (pg/ml) D-Dimer >425 96,00 92,50 0,984 0,932-0,999 <0,001 (ng/ml) Giá trị điểm cắt chẩn đoán của vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer đều có diện tích dưới đường cong (ACU) trên 0,9. Và qua phân tích có tỷ lệ BN NMN tăng trên điểm cắt chẩn đoán là rất cao.
vWF có 94%, VCAM-1 có 98%, MCP- có 84%, D-Dimer có 96%. Tỷ lệ bệnh nhân NMN có nồng độ vWF, VCAM-1, MCP-1, D- Dimer huyết tương tăng trên nồng độ trung bình của nhóm chứng Bảng 3.4 Tỷ lệ BN NMN có nồng độ vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer huyết tương tăng trên nồng độ trung bình cuả nhóm chứng Kết quả Nhóm bệnh (n=50) CCĐSH (n) Tỷ lệ (%) vWF Có tăng 49 98,00 Không tăng 1 2,00 VCAM-1 Có tăng 49 98,00 Không tăng 1 2,00 MCP-1 Có tăng 49 98.00 Không tăng 1 2,00 D-Dimer Có tăng 50 100 Không tăng 0 0 Tỷ lệ BN NMN có nồng độ vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer huyết tương tăng trên nồng độ TB cuả nhóm chứng rất cao từ 98% - 100%. Độ nhạy, độ đặc hiệu của tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D- Dimer trong chẩn đoán NMN cấp Bảng 3.5 Độ nhạy, độ đặc hiệu của tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D- Dimer trong chẩn đoán NMN cấp.