Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Tạ Thị Thanh Huyền có tiêu đề chính thức: "Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè ở vùng Đông Bắc Bắc bộ theo hướng phát triển bền vững", được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2011) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thế Chinh và PGS. Trần Chí Thiện (trong văn bản có ghi PSG. Trần Trí Thiện). Luận án thuộc chuyên ngành Phân bố lực lượng sản xuất và Phân vùng kinh tế, mã số 62.01.
Vùng Đông Bắc Bắc bộ giữ vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam với các tiềm năng nổi bật về đất lâm nghiệp, khoáng sản và cây công nghiệp. Trong cơ cấu cây trồng của vùng, cây chè giữ vai trò chủ lực với tổng diện tích năm 2009 đạt 76.574 ha, chiếm 58,85% tổng diện tích chè cả nước. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương thúc đẩy phát triển và hình thành các vùng chuyên canh tập trung tại các tỉnh như Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, thực tiễn tổ chức lãnh thổ sản xuất chè tại đây vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Tình trạng sản xuất còn phân tán; hiệu quả kinh tế chưa cao; chất lượng sản phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ; giá trị gia tăng ở khâu trồng nguyên liệu chiếm tỷ lệ rất thấp trong toàn chuỗi giá trị; mất cân đối nghiêm trọng giữa sản lượng nguyên liệu búp tươi và năng lực chế biến công nghiệp; liên kết giữa vùng tập trung với các điểm phân tán còn lỏng lẻo. Bên cạnh đó, việc lựa chọn các tiểu vùng ưu tiên phát triển chè nhằm vừa khai thác đất dốc, phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường sinh thái, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Mục tiêu chung của luận án là luận chứng cơ sở khoa học và thực tiễn về các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè theo hướng phát triển bền vững; từ đó nghiên cứu và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè ở vùng Đông Bắc Bắc bộ. Mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè theo hướng phát triển bền vững.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè ở vùng Đông Bắc Bắc bộ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè theo hướng bền vững ở vùng Đông Bắc Bắc bộ.
Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:
- Dựa trên những căn cứ khoa học gì để phát triển bền vững các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè?
- Sự phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè ở vùng Đông Bắc Bắc bộ hiện nay như thế nào?
- Những giải pháp nào cho vấn đề phát triển bền vững các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè ở vùng Đông Bắc Bắc Bộ?
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè, trong đó chủ thể trực tiếp tham gia bao gồm: hộ gia đình, trang trại, các hợp tác xã (HTX) và các doanh nghiệp.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tập trung vào hai hướng liên kết không gian: liên kết theo chiều dọc (các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành chè) và liên kết theo chiều ngang của lãnh thổ (tác động của quy hoạch, đầu tư công hạ tầng, thông tin thị trường và dịch vụ công). Trong quy trình sản xuất gồm trồng nguyên liệu và chế biến, đề tài tập trung vào khâu trồng chè nguyên liệu; đồng thời xem xét khía cạnh bền vững trên phạm vi lãnh thổ.
- Không gian: Bao gồm 10 tỉnh vùng Đông Bắc Bắc bộ: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ và Bắc Giang.
- Thời gian và dữ liệu: Giai đoạn nghiên cứu từ năm 1999 đến năm 2009, tập trung phân tích sâu bộ số liệu năm 2009.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu liên quan đến cây chè và tổ chức lãnh thổ sản xuất:
- Hướng nghiên cứu về cơ sở vật chất kỹ thuật: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Kim Trọng (1992) giải quyết vấn đề xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành chè Việt Nam đến năm 2010.
- Hướng nghiên cứu về giao đất và tư liệu sản xuất nông hộ: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Tài (1993) bàn về việc giao đất và tư liệu sản xuất cho hộ gia đình trồng chè.
- Hướng nghiên cứu về hợp tác và liên kết tiêu thụ: Công trình của Trần Quang Huy (2010) đề cập các giải pháp tăng cường mối quan hệ hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ chè ở vùng chè trọng điểm tỉnh Thái Nguyên.
- Hướng nghiên cứu về kinh tế phát triển ngành chè địa phương: Nghiên cứu của Phạm Thị Lý (2001) về các vấn đề kinh tế phát triển cây chè ở tỉnh Thái Nguyên.
- Các chương trình, dự án quốc tế: Các dự án hỗ trợ và công trình nghiên cứu sản xuất kinh doanh chè của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) từ Hà Lan, Thụy Điển, Nhật Bản, Tây Ban Nha đã và đang triển khai trên địa bàn vùng Đông Bắc Bắc bộ.
- Cơ sở lý luận về tổ chức không gian: Tác giả điểm lại quan điểm "Phân bố lực lượng sản xuất" của các nhà khoa học Liên Xô trước đây; khái niệm "Tổ chức không gian kinh tế - xã hội" của các học giả phương Tây từ cuối thế kỷ 19; quan niệm tổ chức lãnh thổ của Ngô Doãn Vịnh; luận điểm về "Tổ chức không gian phát triển mở" của TS. Vũ Như Vân (2007); luận điểm về tính tất yếu khách quan của tổ chức lãnh thổ của GS.TSKH Nguyễn Thế Bá; định nghĩa phát triển bền vững của FAO và khái niệm nông nghiệp bền vững của Harwood.
Vị trí của luận án được xác lập dựa trên khoảng trống nghiên cứu thực tế: Các công trình trước đây chỉ mới tiếp cận từng khía cạnh riêng rẽ như cơ sở kỹ thuật, giao đất, hợp tác tiêu thụ nội tỉnh hoặc triển khai qua các dự án can thiệp quy mô hẹp. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, các công trình về tổ chức sản xuất và phân bố sản xuất chè trên phạm vi liên tỉnh của cả nước cũng như vùng Đông Bắc Bắc bộ còn rất ít và chưa thỏa đáng. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè theo hướng phát triển bền vững tại vùng Đông Bắc Bắc bộ dưới góc độ kết hợp cả chuỗi giá trị ngành hàng và quy hoạch liên kết không gian lãnh thổ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án kế thừa và sử dụng các khái niệm nền tảng:
- Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp: Được hiểu là hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở quy trình kỹ thuật mới, chuyên môn hóa, tập trung hóa, liên hợp hóa và hợp tác hóa sản xuất nhằm sử dụng hiệu quả nhất các điều kiện tự nhiên, kinh tế, lao động và bảo đảm năng suất lao động xã hội cao.
- Nông nghiệp bền vững: Theo định nghĩa của Harwood và FAO, đó là nền nông nghiệp hướng đến bảo vệ và phát huy lợi ích con người trên cơ sở duy trì nguồn lực tự nhiên, tối thiểu hóa lãng phí, giảm thiểu tác hại môi trường và nâng cao thu nhập cho cư dân nông nghiệp.
- Phát triển bền vững các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè: Tác giả định nghĩa đây là sự liên kết không gian theo chiều dọc và chiều ngang của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị ngành chè; gắn kết lĩnh vực trồng, chế biến, tiêu thụ với đầu tư công của Nhà nước để tạo sự liên kết ngang giữa các địa phương, hình thành vùng chè theo lợi thế so sánh và bảo đảm lợi ích của các bên tham gia.
- Công thức đo lường hiệu quả: Hiệu quả = Kết quả / Chi phí. Hiệu quả kinh tế của tổ chức lãnh thổ phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả đầu ra với các chi phí vật tư, lao động, vốn; đồng thời tích hợp với các mục tiêu xã hội (việc làm, thu nhập) và môi trường (chống xói mòn, phủ xanh đất dốc, cân bằng sinh thái).
Khung phân tích của luận án tích hợp hai trục không gian:
- Trục chiều ngang: Đánh giá tác động của quy hoạch, đầu tư công hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thủy lợi, điện), dịch vụ công (khuyến nông, khuyến công, chuyển giao khoa học kỹ thuật, giống, xúc tiến thương mại) và cơ chế chính sách kinh tế vĩ mô đến sự phân bố sản xuất giữa các địa phương.
- Trục chiều dọc: Đánh giá sự tham gia của các chủ thể vào chuỗi giá trị ngành chè: Người sản xuất chè búp tươi (hộ gia đình, trang trại, HTX) -> Người thu gom -> Cơ sở chế biến (chế biến thủ công hộ gia đình và chế biến công nghiệp) -> Kênh tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:
- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận chuỗi giá trị, tiếp cận không gian lãnh thổ và tiếp cận kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
- Nguồn tư liệu thứ cấp: Dữ liệu giai đoạn 1999 - 2009 được thu thập từ Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Cục Trồng trọt, Trung tâm Tin học và Thống kê thuộc Bộ Nông nghiệp & PTNT; Ban Phát triển vùng thuộc Viện Chiến lược Phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc; Tổng Công ty Chè Việt Nam (Vinatea); Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Công thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư của 10 tỉnh vùng Đông Bắc Bắc bộ.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra khảo sát thực địa bằng bảng hỏi có cấu trúc đối với các nhóm hộ nông dân trồng chè, chủ trang trại, ban quản trị HTX và lãnh đạo doanh nghiệp chế biến; kết hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA).
- Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê, so sánh, phân tích chuỗi giá trị để xác định dòng sản phẩm và cơ cấu giá trị gia tăng. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu gồm diện tích, năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), lãi gộp (GM) và tỷ trọng giá trị gia tăng thu nhập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè theo hướng phát triển bền vững
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý thuyết và đúc kết kinh nghiệm quốc tế, trong nước. Tác giả luận giải sâu về hai hình thức liên kết: liên kết chiều ngang (tập trung vào quy hoạch vùng chuyên canh gắn với nhà máy, đầu tư hạ tầng giao thông - thủy lợi và dịch vụ khuyến nông) và liên kết chiều dọc (sự kết nối giữa nông hộ, trang trại, HTX, người thu gom và doanh nghiệp chế biến). Sáu nhóm nhân tố ảnh hưởng được xác định gồm: (1) Điều kiện tự nhiên; (2) Kiến thức và kinh nghiệm sản xuất; (3) Kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất, chế biến; (4) Đầu tư công và dịch vụ công; (5) Thị trường tiêu thụ; (6) Cơ chế chính sách quản lý nhà nước (điển hình như Quyết định số 43/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).
Kinh nghiệm quốc tế được tổng hợp từ 4 quốc gia:
- Ấn Độ: Chính phủ thành lập Ủy ban Chè (Tea Board) điều tiết thống nhất; các vùng chè tập trung 300 - 500 ha do doanh nghiệp quản lý liền vùng gắn với nhà máy chế biến trong bán kính không quá 5 km; không khoán đến sản phẩm cuối cùng mà áp dụng khoán công đoạn hoặc công nhật có giám sát kỹ thuật; công suất nhà máy được khống chế như hạn ngạch bắt buộc tương ứng nguồn nguyên liệu.
- Sri Lanka: Ủy ban Chè trực thuộc Bộ Nông nghiệp quản lý toàn diện từ quy hoạch đến độc quyền kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật; cơ cấu sản xuất gồm 45% diện tích tiểu điền (<2 ha) và 55% diện tích trang trại lớn (>2 ha); 80% sản lượng được giao dịch qua thị trường đấu giá Colombo thành lập từ năm 1883.
- Kenya: Ủy ban Chè hoạt động độc lập song song với Bộ Nông nghiệp; 80% chè canh tác tại trang trại gia đình; Cơ quan Phát triển Chè Kenya (KTDA) hoạt động như đại lý môi giới ký hợp đồng 3 năm/lần với các nhà máy; 80% sản phẩm tiêu thụ qua sàn đấu giá.
- Trung Quốc: Diện tích chè lớn nhất thế giới (1.130 nghìn ha) nhưng sản lượng chỉ bằng 3/4 và năng suất bằng 1/2 Ấn Độ do tổ chức sản xuất nhỏ lẻ theo hộ, thiếu doanh nghiệp quy mô lớn dẫn dắt.
Tại Việt Nam, sau giai đoạn khôi phục từ năm 1997, ngành chè đã phát triển tại 35 tỉnh, thành với gần 170 giống. Tính đến năm 2009, cả nước có 131.098 ha chè, 455 cơ sở chế biến, xuất khẩu chính ngạch 130.000 tấn chè. Tác giả đánh giá mô hình của Việt Nam có nét tương đồng với Trung Quốc ở tính chất sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết chặt chẽ.
Bảng 1: Tăng trưởng về diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam (1999 - 2009)
(Nguồn: Luận án trích dẫn từ Bảng 1.1 văn bản)
| Chỉ tiêu |
Năm 1999 |
Năm 2005 |
Năm 2006 |
Năm 2007 |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
Tốc độ tăng BQ (%) |
| Diện tích (ha) |
84.463 |
122.700 |
124.500 |
126.000 |
129.000 |
131.098 |
4,5 |
| Sản lượng quy khô (tấn) |
52.769 |
110.000 |
120.000 |
135.000 |
140.000 |
168.000 |
7,4 |
| Sản lượng chè khô XK (tấn) |
36.000 |
88.000 |
95.000 |
100.000 |
105.000 |
130.000 |
7,1 |
| Kim ngạch XK (triệu USD) |
45,2 |
96,8 |
111,6 |
131,5 |
133,2 |
158,4 |
7,4 |
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày tổng quan về địa bàn 10 tỉnh vùng Đông Bắc Bắc bộ. Vùng có diện tích tự nhiên 57.894 km2, chiếm 17,49% diện tích cả nước; dân số năm 2009 đạt 8.358 nghìn người, chiếm 9,72% dân số cả nước. Vị trí địa lý tiếp giáp vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có 1.147 km đường biên giới đất liền với Trung Quốc qua 4 tỉnh (Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn), sở hữu 3 cửa khẩu quốc tế, 6 cửa khẩu quốc gia và 12 cửa khẩu địa phương. Địa hình gồm các dải đồi bát úp, độ dốc thoải dưới 25 độ, đất feralit chua (pH 4 - 5,5) cùng chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng đồi núi, tạo môi trường sinh thái phù hợp cho cây chè phát triển.
Nội dung phương pháp nghiên cứu được chương này trình bày chi tiết qua:
- Thiết lập khung phân tích đánh giá tác động không gian theo hai chiều dọc - ngang.
- Quy trình chọn điểm nghiên cứu đại diện cho các vùng sinh thái và các mô hình tổ chức chè tập trung tại các tỉnh trọng điểm.
- Quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp từ hệ thống thống kê bộ ngành và dữ liệu sơ cấp từ các cuộc điều tra thực địa.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích kinh tế lượng nông hộ, tính toán lãi gộp (GM), giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC) và xác định cơ cấu phân phối dòng thu nhập trong chuỗi giá trị.
Chương 3: Thực trạng các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè vùng Đông Bắc Bắc bộ
Chương 3 phân tích thực trạng tổ chức lãnh thổ của vùng ĐBBB với quy mô diện tích chè 76.574 ha (chiếm 58,85% cả nước).
- Về tổ chức theo chiều ngang: Vùng đã hình thành các vùng chuyên canh chè tại Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang. Tuy nhiên, quy hoạch vùng chè chưa gắn kết được vùng nguyên liệu với các nhà máy chế biến và doanh nghiệp thương mại. Kết cấu hạ tầng giao thông nội vùng, hệ thống thủy lợi tưới tiêu còn thiếu và yếu, gây trở ngại cho việc vận chuyển búp tươi và áp dụng kỹ thuật thâm canh.
- Về tổ chức theo chiều dọc: Các chủ thể tham gia chuỗi giá trị bao gồm hộ gia đình (quy mô nhỏ, chiếm đa số), trang trại, HTX và các doanh nghiệp chế biến công nghiệp. Kênh tiêu thụ của hộ và trang trại phụ thuộc lớn vào tư thương thu gom búp tươi.
- Phân phối giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị: Kết quả phân tích chuỗi giá trị của luận án chỉ ra sự bất hợp lý lớn trong phân phối thu nhập:
- Các cơ sở chế biến chiếm tới 55,2% tổng giá trị gia tăng về thu nhập trong toàn chuỗi giá trị chè của vùng.
- Các hộ sản xuất chè nguyên liệu chịu nhiều chi phí vật tư và công lao động nhưng chỉ nhận được 2,6% tổng giá trị gia tăng về thu nhập.
- Các vấn đề tồn tại cốt lõi được rút ra:
- Khâu sản xuất: Quy mô diện tích đất đai nhỏ lẻ, manh mún; tỷ lệ giống cũ cao; tập quán canh tác lạc hậu; năng lực vốn hạn chế và khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức.
- Khâu chế biến: Số lượng cơ sở chế biến phát triển ồ ạt, dẫn đến tổng công suất chế biến công nghiệp vượt quá khả năng cung ứng chè búp tươi của vùng nguyên liệu; tạo ra tình trạng tranh mua nguyên liệu, phá vỡ hợp đồng và hạ thấp tiêu chuẩn chất lượng.
- Khâu tiêu thụ: Năng lực cạnh tranh thấp, chủng loại sản phẩm đơn điệu, xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô hoặc sơ chế nên giá bán xuất khẩu thấp hơn nhiều so với mặt bằng thế giới.
Chương 4: Một số giải pháp nhằm phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè ở vùng Đông Bắc Bắc bộ theo hướng phát triển bền vững
Tác giả đề xuất định hướng phát triển dựa trên 4 quan điểm: Bám sát nhu cầu thị trường; dựa vào lợi thế so sánh của từng tiểu vùng; coi trọng vai trò đầu tư công của Nhà nước; tuân thủ nguyên tắc phát triển bền vững kết hợp kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
Phương hướng quy hoạch xác định mục tiêu quy hoạch tổng thể không gian sản xuất chè cho toàn vùng và chi tiết cho từng tỉnh đến năm 2020, kiểm soát việc mở rộng nhà máy chế biến tương thích với sản lượng nguyên liệu.
Năm nhóm giải pháp cụ thể được luận án đưa ra:
- Giải pháp tổ chức lãnh thổ theo chiều ngang: Rà soát, hoàn thiện quy hoạch các vùng chuyên canh chè gắn kết chặt chẽ với cơ sở chế biến; ưu tiên đầu tư công xây dựng hạ tầng giao thông và hệ thống thủy lợi tưới tiêu chủ động; đẩy mạnh mạng lưới khuyến nông, khuyến công và xúc tiến thương mại.
- Giải pháp tổ chức lãnh thổ theo chiều dọc: Tái cơ cấu chuỗi giá trị nhằm phân phối lại thu nhập một cách công bằng hơn; nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng cho người trồng chè; thiết lập hợp đồng kinh tế ràng buộc trách nhiệm giữa người trồng chè, HTX và nhà máy chế biến.
- Hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Hoàn thiện chính sách đất đai nhằm khuyến khích dồn điền đổi thửa, tích tụ đất đai phát triển kinh tế trang trại; hoàn thiện chính sách tín dụng hỗ trợ vốn đầu tư thâm canh; đẩy mạnh chính sách phát triển và chuyển giao khoa học công nghệ, thay thế giống cũ bằng giống mới chất lượng cao.
- Hoàn thiện chính sách đầu tư công và dịch vụ công: Nhà nước tập trung vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng công cộng, hỗ trợ kiểm định vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý chất lượng thuốc bảo vệ thực vật và xây dựng thương hiệu chỉ dẫn địa lý.
- Nâng cao năng lực cho các hình thức tổ chức: Tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực quản trị cho các chủ trang trại, ban điều hành HTX; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ chế biến hiện đại, đa dạng hóa sản phẩm tinh chế và cải tiến mẫu mã bao bì phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt học thuật và lý luận:
- Luận án đưa ra cách tiếp cận mới trong nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường, kết hợp hữu cơ giữa liên kết chiều dọc (các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành chè) và liên kết chiều ngang (mối quan hệ giữa vùng nguyên liệu, khu vực chế biến, tiêu thụ thông qua hạ tầng và dịch vụ công theo lợi thế so sánh).
- Luận chứng và làm rõ 6 nhóm nhân tố tác động đến các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè theo hướng phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế.
Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện về thực trạng phân bố và tổ chức sản xuất chè tại 10 tỉnh vùng Đông Bắc Bắc bộ giai đoạn 1999 - 2009.
- Định lượng sự mất cân đối trong phân phối thu nhập của chuỗi giá trị chè vùng Đông Bắc Bắc bộ: chỉ ra các cơ sở chế biến chiếm 55,2% giá trị gia tăng về thu nhập, trong khi người trồng chè nguyên liệu chỉ hưởng 2,6%.
- Phát hiện tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa tổng công suất chế biến công nghiệp vượt xa khả năng cung cấp của vùng nguyên liệu, gây nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và định hướng quy hoạch không gian sản xuất chè toàn vùng đến năm 2020, làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý ngành chè tại các địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về nội dung: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở khâu trồng chè nguyên liệu và xem xét tính bền vững trên phạm vi lãnh thổ, chưa đi sâu phân tích toàn diện công nghệ chế biến sâu và mạng lưới logistics bán lẻ quốc tế.
- Về dữ liệu: Bộ số liệu thực nghiệm được giới hạn trong giai đoạn 1999 - 2009, trọng tâm phân tích sâu là năm 2009, do đó chưa phản ánh được các biến động về cơ cấu thị trường xuất khẩu và chính sách nông nghiệp sau năm 2010.
- Về phạm vi mẫu: Các khảo sát thực nghiệm tập trung vào các vùng chè trọng điểm điển hình, chưa bao quát được đầy đủ các điểm chè phân tán tại các vùng sâu, vùng cao biên giới của 10 tỉnh.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu mô hình liên kết chuỗi giá trị đối với các sản phẩm chè hữu cơ, chè Shan tuyết cổ thụ vùng cao gắn với bảo hộ chỉ dẫn địa lý và du lịch sinh thái.
- Đánh giá sự chuyển dịch không gian sản xuất chè trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nghiên cứu cơ chế liên kết liên vùng giữa vùng Đông Bắc Bắc bộ với vùng Tây Bắc.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, UBND và Sở Nông nghiệp & PTNT 10 tỉnh vùng ĐBBB): Sử dụng tài liệu để rà soát quy hoạch vùng nguyên liệu, cấp phép công suất nhà máy chế biến, xây dựng chính sách đầu tư công hạ tầng giao thông - thủy lợi và quản lý phân bổ nguồn vốn khuyến nông.
- Các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và Hiệp hội Chè Việt Nam: Tham khảo kinh nghiệm quốc tế (mô hình đồn điền khép kín của Ấn Độ, sàn đấu giá của Sri Lanka và Kenya) cùng phương pháp phân bổ giá trị gia tăng chuỗi để tái lập hợp đồng bao tiêu bền vững với người nông dân.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế phát triển, Phân bố lực lượng sản xuất, Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo khung phân tích tích hợp không gian lãnh thổ và chuỗi giá trị, cùng phương pháp luận khảo sát đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất nông nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Vị trí của vùng Đông Bắc Bắc bộ đối với ngành chè Việt Nam được thể hiện qua con số nào trong luận án?
Theo số liệu năm 2009 được tác giả dẫn dụng, vùng Đông Bắc Bắc bộ có tổng diện tích chè đạt 76.574 ha, chiếm 58,85% tổng diện tích chè của cả nước, khẳng định vai trò quyết định của vùng đối với chiến lược phát triển sản xuất chè của Việt Nam.
2. Điểm bất hợp lý lớn nhất trong phân phối giá trị gia tăng chuỗi giá trị chè vùng Đông Bắc Bắc bộ là gì?
Kết quả phân tích chuỗi giá trị của luận án chỉ ra sự phân phối thu nhập không công bằng: Các cơ sở chế biến chiếm tới 55,2% tổng giá trị gia tăng về thu nhập trong chuỗi, trong khi các hộ gia đình sản xuất chè nguyên liệu có chi phí đầu tư cao nhưng chỉ nhận được 2,6% giá trị gia tăng về thu nhập.
3. Tình trạng mất cân đối giữa sản xuất nguyên liệu và cơ sở chế biến tại vùng Đông Bắc Bắc bộ diễn ra như thế nào?
Tại vùng Đông Bắc Bắc bộ, số lượng cơ sở chế biến phát triển quá nhiều, dẫn đến tổng công suất chế biến công nghiệp vượt quá khả năng cung ứng chè búp tươi của vùng nguyên liệu. Điều này gây ra tình trạng cạnh tranh mua bán không lành mạnh giữa các nhà máy, tranh mua búp tươi không bảo đảm phẩm cấp kỹ thuật và gây lãng phí nguồn lực đầu tư của vùng.
4. Luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm gì từ các quốc gia sản xuất chè lớn trên thế giới?
Tác giả đúc kết các bài học chính: Ấn Độ thành công nhờ mô hình đồn điền doanh nghiệp tập trung 300 - 500 ha khép kín với nhà máy trong bán kính dưới 5 km và khoán công đoạn; Sri Lanka quản lý tập trung toàn diện ngành chè qua Ủy ban Chè (bao gồm độc quyền kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật) và bán 80% sản lượng qua sàn đấu giá Colombo; Kenya tổ chức thu mua chè nông hộ qua KTDA và bán 80% qua sàn giao dịch; đồng thời các nước đều duy trì các trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên sâu do nhà nước và doanh nghiệp cùng tài trợ.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để phát triển bền vững các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè tại vùng Đông Bắc Bắc bộ?
Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Hoàn thiện quy hoạch vùng chuyên canh gắn với nhà máy, đầu tư hạ tầng và dịch vụ khuyến nông (chiều ngang); (2) Tái cơ cấu chuỗi giá trị nhằm phân phối công bằng thu nhập (chiều dọc); (3) Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô về đất đai, vốn tín dụng và khoa học công nghệ; (4) Hoàn thiện chính sách đầu tư công và dịch vụ công; (5) Nâng cao năng lực quản lý và công nghệ cho các hộ, HTX và doanh nghiệp chè.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Thị Thanh Huyền đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phương pháp luận về phát triển bền vững các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè dưới góc độ tiếp cận kết hợp liên kết không gian chiều ngang và chuỗi giá trị chiều dọc trong điều kiện kinh tế thị trường. Bằng việc phân tích toàn diện thực trạng tại 10 tỉnh vùng Đông Bắc Bắc bộ giai đoạn 1999 - 2009, công trình đã chỉ rõ những mâu thuẫn cốt lõi về phân phối giá trị gia tăng bất bình đẳng và sự mất cân đối giữa công suất chế biến với vùng nguyên liệu. Hệ thống quan điểm, phương hướng quy hoạch đến năm 2020 và 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn quan trọng, phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và phát triển bền vững ngành chè tại vùng Đông Bắc Bắc bộ.