CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIEN VE NANG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CUA NGÀNH CHE 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu điển hình trong nước Tại các địa phương có ngành chè phát triển, các công trình nghiên cứu về chè thì rất nhiều, nhưng để nghiên cứu cụ thể từ khía cạnh năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm chè, doanh nghiệp chè lại không có nhiều, và một sản phẩm nghiên cứu chuyên về nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành chè địa phương là gần như chưa có (theo chủ quan nghiên cứu của tác g1ả). Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của một sản phẩm, một doanh nghiệp cụ thể đòi hỏi sự tiếp cận khác với nghiên cứu về phát triển ngành chè nói chung, mặc du về cơ bản đều hướng tới mục đích thúc đây ngành chè, các sản phẩm hay doanh nghiệp sản xuất chè phát triển.
Trong nhóm 5 địa phương có ngành chè phát triển nhất cả nước, Thái Nguyên là tỉnh có nhiều đề tài nghiên cứu về năng lực cạnh tranh chè nhất. Một phan của kết quả đó do thương hiệu chè xanh Thái Nguyên nỗi tiếng nhất cả nước, công tác đầu tư, quy hoạch có bài bản của chính quyền tỉnh đã đưa chè thành sản phẩm gắn liền với danh xưng địa phương, đã được định hình rất rõ ràng trong nhận thức người tiêu dùng. Các công trình nghiên cứu đã công bố thường tập chung vào nâng cao năng lực cạnh tranh cho một sản phẩm chè nhất định (chè xanh đặc sản, chẻ đen.) hoặc một vùng chè, một doanh nghiệp cụ thé. Điều đó có ưu điểm với đối tượng nghiên cứu hẹp, công trình sẽ có được sự đảo sâu cụ thé những vấn đề sát thực.
Tuy nhiên, nhược điểm của nó là vì không có tính bao quát chung, nhìn nhận theo nhiều góc độ, mà ở đây quan trọng nhất là các chính sách, chương trình, định hướng phát triển của tỉnh. Nói cách khác là không có sự đồng bộ với sự phát triển chung của cả ngành chè địa phương. Những công trình nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản pham chè, các doanh nghiệp chè được xây dựng đều có tính thực tế và tính kế thừa cao. Là những công trình thực sự mang lại nhiều lợi ích thiết thực, ứng dụng tốt trong lý luận cũng như thực tiễn.
Ở đây, các tác giả căn cứ trên tình hình thực tế của địa phương có ngành chè rất phát triển, với những chính sách, định hướng, phương pháp thực hiện đã tương đối hiệu quả và được nghiên cứu nhiều. Thế nên, một giải pháp mới được đưa ra sẽ là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu hết sức công phu và tâm huyết của những người thực sự có tâm với cây chè. Những công trình nghiên cứu di trước đã đưa ra thực trạng đối tượng được nghiên cứu tại thời điểm thực hiện, đồng thời đã có những kiến nghị, giải pháp cụ thé cho từng đối tượng nghiên cứu. Ngành chè các địa phương có rất nhiều điểm tương đồng trong quá trình hình thành và phát triển, do đó những giải pháp được đưa ra đều có lợi đối với sự phát triển chung của ngành chè, với từng địa phương trong từng giai đoạn cụ thể.
Và đó là những căn cứ rất hữu ích, có tính kế thừa đối với các công trình nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè về sau. Tình hình nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè Yên Bái Đối với việc nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè Yên Bái đến thời điểm thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả chưa tìm thấy, chưa nghe đến một công trình nào nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cho đối tượng có liên quan tới chè chứ chưa nói đến cả ngành chè của tỉnh. Đây là một tính mới, nhưng đồng thời cùng là một điểm rất khó khăn đối với việc thực hiện nghiên cứu này. Là người đầu tiên thực hiện đề tài về nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè Yên Bái, tất cả những công việc thực hiện đều rất hạn chế căn cứ thực tiễn để kế thừa, điều này chắc chắn sẽ dẫn đến những thiếu sót trong kết quả nghiên cứu.
Nói riêng đến những nghiên cứu về chè tỉnh Yên Bái thì chỉ dừng lại ở những báo cáo thực tập tốt nghiệp, nghiên cứu dé phát triển chè một huyện cụ thé. Tác giả thực hiện nghiên cứu gần đây nhất cũng đã được 3 năm, đây là khoảng thời gian khá dài để có thể áp dụng những kết quả nghiên cứu theo thực tế hiện tại. Nhìn chung, đã có không ít các công trình nghiên cứu đề cập đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các đối tượng có liên quan đến ngành chè, đóng góp lớn vào sự phát triển chung của ngành chè Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu đó có nhiều giá trị làm cơ sở cho việc hoàn thiện giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành ché.
Tuy nhiên, các công trình khoa học đã thực hiện từ trước tới nay chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chẻ của tỉnh Yên Bái. Tác giả thực hiện luận văn này với mong muốn sẽ đóng góp một phần công sức bé nhỏ đề dần nâng cao năng lực cạnh tranh và sự phát triển cho ngành chè tỉnh Yên Bái. Luận văn xin kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình. Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chè 1.
Một số khái niệm về Cạnh tranh và Năng lực cạnh tranh 1. Về cạnh tranh Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa như hiện nay, các khái niệm liên quan đến cạnh tranh là rất khác nhau. Theo các chính trị gia kinh tế: "Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ dé giành chiến thắng trên thị trường và khách hàng cho doanh nghiệp của họ". Theo quan điểm của ngành Marketing, cạnh tranh được định nghĩa: "Cạnh tranh là thực hiện chiến thuật và chiến lược phù hợp với tiềm năng kinh doanh, chiến lược xử lý tốt chiến thuật của đối thủ, giành lợi thế trong thương mại hàng hoá và dịch vụ dé tối đa hóa lợi nhuận".
Trong Từ điển tiếng Việt được soạn thảo bởi Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam vào năm 1995 (trang 36): "Cạnh tranh là sự đua tranh giữa các nhà sản xuất hàng hóa, thương nhân, nhà đầu tư trong nền kinh tế thị trường định hướng bởi mối quan hệ cung cầu dé đạt được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và có lợi nhất trên thị trường". Theo định nghĩa này, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các quốc gia đã trở nên bình dang hơn. Từ điển bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện về sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2005). Theo Samuelson thì: Cạnh tranh là sự kinh địch giữa các DN cạnh tranh với nhau dé giành khách hang, thị trường (Paul A Samuelson, 1985).
Dé có cái nhìn khái quát nhất, chúng ta có thé tom lại như sau: Cạnh tranh là một trong những đặc điểm cơ bản của nên kinh tế thị trường, là động lực phát triển của nên kinh tế thị trường. Cạnh tranh là sự sống con của doanh nghiệp. Cạnh tranh cũng có thể là sự đua tranh giữa các doanh nghiệp cho một vài nhân to hoặc khách hàng dé cải thiện vị trí của mình trên thị trường, đề đạt được những mục tiêu cụ thể như: lợi nhuận, doanh số, thị phân we Mô hình năm yếu tổ cạnh tranh của Michael Porter Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp mà hoạt động trên thị trường phải được dưới một áp lực cạnh tranh nhất định mà phụ thuộc vao năm yếu tố cạnh tranh cơ bản, đại diện bởi mô hình trong Hình 1.1: DOI THU TIEM NANG Nguy cơ có đối thủ gia nhập mới Sức mạnh mặc cả CÁC ĐÓI THỦ Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp TRONG NGANH của khách hang NHÀ KHÁCH HÀNG CUNG CÁP ` NHÀ PHÂN PHÓI Cạnh tranh giữa các DN đang có mặt trên thị trường Sự đe dọa của hàng hóa và dịch vụ thay thế SAN PHAM DỊCH VỤ THAY THÉ Hình 1.1: Mô hình các yếu tố cạnh tranh của Michael Porter 1. Về nâng cao năng lực cạnh tranh Từ những năm 1980, thuật ngữ "cạnh tranh" đã được sử dụng rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu và các doanh nhân.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, những thuật ngữ này được sử dụng như nhau ở các cấp độ khác nhau của sự cạnh tranh và có thé thay thé cho nhau. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, những thuật ngữ này không giống nhau và mỗi nhà nghiên cứu lại cung cấp một cách nhìn khác về nó. Vì vậy, để có thé đưa ra một định nghĩa chính xác và riêng biệt và phản ánh từng thời điểm cụ thé là một điều khó thực hiện. Trong nghiên cứu này, tôi xin nêu tóm tắt nội dung một số khái niệm sau đây: Năng lực cạnh tranh là một trong những quan điểm chưa có sự thống nhất, nói đến năng lực cạnh tranh phải nói đến chủ thé của cạnh tranh, do đó không có khái niệm 10 năng lực cạnh tranh nói chung mà khái niệm năng lực cạnh tranh được áp dụng với cả hai cấp độ: cấp vĩ mô (năng lực cạnh tranh quốc gia hoặc của cả khu vực) và cấp vi mô (năng lực cạnh tranh của DN và năng lực cạnh tranh của sản phẩm).
Tác giả Michael Porter cũng thừa nhận rằng không thê đưa ra một khái niệm tuyệt đối của năng lực cạnh tranh. Theo ông thì “Đề cạnh tranh thành công, doanh nghiệp phải có lợi thế cạnh tranh của một trong hai hình thức: chi phí sản xuất thấp hoặc khác biệt sản phẩm” (Michael Porter, 1990). * Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF): khả năng cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế và đặc điểm kinh tế khác.