Nghiên cứu điều chế và khảo sát TiO2 nano quang xúc tác biến tính neođim tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Nghiên cứu điều chế và khảo sát cấu trúc hoạt tính quang xúc tác của bột titan đioxit nano biến tính neođim, ứng dụng trong công nghệ xanh.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa Vô Cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

2011

80
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: Giới thiệu chung về vật liệu TiO2 kích thước nano

1.1. Đặc điểm cấu trúc và tính chất vật lý của TiO2 kích thước nano

1.2. Một số tính chất quan trọng của vật liệu TiO2 kích thước nano

1.3. Các ứng dụng của TiO2 kích thước nano mét

1.4. Giới thiệu chung về vật liệu TiO2 kích thước nano biến tính

1.5. Phân loại quang xúc tác trên cơ sở TiO2 kích thước nano

1.6. Sự biến tính của vật liệu TiO2 kích thước nano mét

1.7. Vật liệu TiO2 nano biến tính bằng neođim

1.8. Các phương pháp điều chế bột TiO2 kích thước nanomet

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Mục tiêu và các nội dung nghiên cứu của luận văn

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Hoá chất, dụng cụ và thiết bị

2.4. Điều chế bột TiO2 biến tính Nd3+ bằng phương pháp sol-gel

2.5. Điều chế bột TiO2 biến tính Nd3+ bằng phương pháp thủy phân

2.6. Phương pháp khảo sát khả năng phân hủy quang xanh metylen trong dung dịch nước của bột TiO2 biến tính

2.7. Các phương pháp hóa lý dùng để nghiên cứu cấu trúc và đặc tính của bột Nd-TiO2 biến tính

2.7.1. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

2.7.2. Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM)

2.7.3. Phương pháp phân tích nhiệt

2.7.4. Phương pháp phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX)

2.7.5. Phương pháp BET

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Điều chế Nd-TiO2 bằng phương pháp sol-gel

3.2. Khảo sát quá trình phân hủy nhiệt của gel khô bằng phương pháp phân tích nhiệt

3.3. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian làm già gel

3.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy

3.5. Ảnh hưởng nhiệt độ nung

3.6. Ảnh hưởng tỷ lệ % Nd/TiO2 (mol/mol)

3.7. Điều chế Nd-TiO2 bằng phương pháp thủy phân

3.8. Khảo sát quá trình phân hủy nhiệt của mẫu TiO2 và Nd-TiO2

3.9. Ảnh hưởng của lượng urê

3.10. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân

3.11. Ảnh hưởng của nhiệt độ nung

3.12. Ảnh hưởng tỷ lệ % Nd/TiO2 (mol/mol)

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu TiO2 nano quang xúc tác biến tính neođim

Nghiên cứu về TiO2 nano quang xúc tác biến tính neođim đang thu hút sự chú ý lớn trong lĩnh vực khoa học vật liệu. TiO2 là một trong những chất xúc tác bán dẫn phổ biến nhất, được sử dụng rộng rãi trong nhiều ứng dụng như xử lý nước, sản xuất năng lượng và trong ngành công nghiệp hóa chất. Việc biến tính TiO2 bằng các ion như neođim không chỉ cải thiện hoạt tính quang xúc tác mà còn mở rộng khả năng ứng dụng của nó trong các lĩnh vực khác nhau.

1.1. Đặc điểm cấu trúc của TiO2 nano

TiO2 nano có ba dạng thù hình chính: anatase, rutile và brookite. Mỗi dạng có cấu trúc tinh thể và tính chất vật lý khác nhau, ảnh hưởng đến khả năng quang xúc tác. Cấu trúc của TiO2 nano cho phép tăng diện tích bề mặt, từ đó nâng cao khả năng hấp thụ ánh sáng và hoạt động quang xúc tác.

1.2. Tính chất quang học của TiO2 nano

Tính chất quang học của TiO2 nano rất quan trọng trong việc xác định khả năng quang xúc tác. Đặc biệt, dải trống của TiO2 ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ ánh sáng. Việc biến tính bằng neođim giúp giảm dải trống, cho phép TiO2 hoạt động hiệu quả hơn dưới ánh sáng nhìn thấy.

II. Thách thức trong nghiên cứu TiO2 nano quang xúc tác

Mặc dù TiO2 nano có nhiều ưu điểm, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong nghiên cứu và ứng dụng của nó. Một trong những vấn đề chính là khả năng hấp thụ ánh sáng. TiO2 chỉ có thể hoạt động hiệu quả dưới ánh sáng tử ngoại, điều này hạn chế khả năng ứng dụng trong thực tế. Việc biến tính bằng neođim có thể giải quyết vấn đề này, nhưng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng để tối ưu hóa quy trình.

2.1. Hạn chế về khả năng hấp thụ ánh sáng

Khả năng hấp thụ ánh sáng của TiO2 chủ yếu nằm trong vùng tử ngoại, điều này làm giảm hiệu quả quang xúc tác. Việc biến tính bằng neođim có thể giúp mở rộng khả năng hấp thụ ánh sáng, nhưng cần phải tìm ra tỷ lệ tối ưu giữa TiO2 và neođim.

2.2. Vấn đề ổn định của TiO2 nano

Sự ổn định của TiO2 nano trong môi trường thực tế cũng là một thách thức lớn. Các nghiên cứu cần tập trung vào việc cải thiện độ bền của TiO2 sau khi biến tính, nhằm đảm bảo hiệu suất quang xúc tác trong thời gian dài.

III. Phương pháp điều chế TiO2 nano biến tính neođim hiệu quả

Có nhiều phương pháp để điều chế TiO2 nano biến tính neođim, trong đó phương pháp sol-gel và thủy phân là hai phương pháp phổ biến nhất. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến cấu trúc và tính chất của sản phẩm cuối cùng.

3.1. Phương pháp sol gel

Phương pháp sol-gel cho phép điều chế TiO2 nano với kích thước hạt đồng đều và kiểm soát tốt cấu trúc. Quá trình này bao gồm việc hòa tan các tiền chất titan trong dung môi, sau đó tạo gel và nung để thu được TiO2 biến tính neođim.

3.2. Phương pháp thủy phân

Phương pháp thủy phân sử dụng nước để tạo ra TiO2 nano từ các muối titan. Phương pháp này đơn giản và tiết kiệm chi phí, nhưng cần kiểm soát nhiệt độ và thời gian để đảm bảo chất lượng sản phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của TiO2 nano biến tính neođim

TiO2 nano biến tính neođim có nhiều ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực như xử lý nước, sản xuất năng lượng và trong ngành công nghiệp hóa chất. Khả năng quang xúc tác của nó giúp phân hủy các chất ô nhiễm trong nước và không khí, đồng thời có thể được sử dụng trong các thiết bị chuyển hóa năng lượng mặt trời.

4.1. Ứng dụng trong xử lý nước

TiO2 nano biến tính neođim có khả năng phân hủy các chất ô nhiễm trong nước, giúp cải thiện chất lượng nước. Nghiên cứu cho thấy rằng TiO2 có thể phân hủy hiệu quả các hợp chất hữu cơ độc hại dưới ánh sáng.

4.2. Ứng dụng trong sản xuất năng lượng

Với khả năng chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học, TiO2 nano biến tính neođim có thể được sử dụng trong các thiết bị năng lượng mặt trời, giúp tăng hiệu suất chuyển đổi năng lượng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của TiO2 nano

Nghiên cứu về TiO2 nano biến tính neođim đang mở ra nhiều triển vọng mới trong lĩnh vực quang xúc tác. Việc cải thiện khả năng hấp thụ ánh sáng và ổn định của TiO2 sẽ là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển các ứng dụng mới. Tương lai của TiO2 nano hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giải pháp hiệu quả cho các vấn đề ô nhiễm môi trường và năng lượng.

5.1. Triển vọng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình điều chế TiO2 nano biến tính neođim, nhằm nâng cao hiệu suất quang xúc tác và mở rộng khả năng ứng dụng của nó trong thực tế.

5.2. Ứng dụng trong công nghệ xanh

Với khả năng phân hủy các chất ô nhiễm và chuyển hóa năng lượng, TiO2 nano biến tính neođim có thể đóng góp lớn vào công nghệ xanh, giúp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giới thiệu chung về vật liệu TiO2 kích thước nano mét 1. Đặc điểm cấu trúc và tính chất vật lý của TiO2 kích thước nano mét [2,6] Tinh thể titan đioxit lại có 3 dạng thù hình khác nhau: anatase, rutile và brookite, ngoài ra còn 2 dạng chỉ tồn tại dưới điều kiện áp suất cao đó là đơn tà baddeleyite và dạng trực thoi, thường chỉ được tìm thấy gần các miệng núi lửa. Trong đó, rutile là dạng thù hình phổ biến nhất và bền vững nhất, cả anatase và brookite đều chuyển sang rutile khi nung ở nhiệt độ cao.

Dạng anatase Dạng rutile Dạng brookite Hình 1. Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO2 Cấu trúc mạng lưới tinh thể của rutile, anatase và brookite đều được xây dựng từ các đa diện phối trí tám mặt (octahedra) TiO6 nối với nhau qua cạnh hoặc qua đỉnh oxi chung. Mỗi ion Ti4+ được bao quanh bởi tám mặt tạo bởi sáu ion O2-. Hình khối bát diện của TiO2 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Văn Khanh Luận văn thạc sĩ khoa học Các mạng lưới tinh thể của rutile, anatase và brookite khác nhau bởi sự biến dạng của mỗi hình tám mặt và cách gắn kết giữa các octahedra.

Hình tám mặt trong rutile là không đồng đều do đó có sự biến dạng orthorhombic (hệ trực thoi) yếu. Các octahedra của anatase bị biến dạng mạnh hơn, vì vậy mức đối xứng của hệ là thấp hơn hệ trực thoi. Khoảng cách Ti – Ti trong anatase lớn hơn trong rutile nhưng khoảng cách Ti - O trong anatase lại ngắn hơn so với rutile. Trong cả ba dạng tinh thể thù hình của TiO2 các octahedra được nối với nhau qua đỉnh hoặc qua cạnh (Hình 1.

Một số các thông số vật lý của TiO2 như đã chỉ ra ở bảng 1. Một số tính chất vật lý của tinh thể rutile và anatase Các thông số Rutile Anatase Cấu trúc tinh thể Tứ diện Tứ diện a = b (Å) 4,58 3,78 Thông số mạng c (Å) 2,95 9,49 Khối lượng riêng (g/ cm3) 4,25 3,895 Chiết suất 2,754 2,54 Độ rộng vùng cấm (eV) 3,05 3,25 Ở nhiệt độ cao chuyển Nhiệt độ nóng chảy 1830  1850OC thành rutile Hầu hết các tài liệu tham khảo đều chỉ ra rằng quá trình thuỷ phân các muối vô cơ đều tạo ra tiền chất titan đioxit dạng vô định hình hoặc dạng cấu trúc anatase hay rutile. Quá trình chuyển dạng thù hình của TiO2 vô định hình - anatase - rutile bị ảnh hưởng rõ rệt bởi các điều kiện tổng hợp và các tạp chất, quá trình chuyển pha từ dạng vô định hình hoặc cấu trúc anatase sang cấu trúc rutile xảy ra ở nhiệt độ trên 4500C. Ví dụ: với các axit metatitanic sạch, không có tạp chất, thì nhiệt độ chuyển pha từ anatase thành rutile sẽ nằm trong khoảng 6107300C.

Với axit metatitanic 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Văn Khanh Luận văn thạc sĩ khoa học thu được khi thuỷ phân các muối clorua và nitrat của titan thì quá trình chuyển thành rutile dễ dàng hơn nhiều (ở gần 5000C). Trong khi đó, với axit metatitanic đã được điều chế bằng cách thuỷ phân các muối sunfat thì nhiệt độ chuyển pha sẽ cao hơn, nằm trong khoảng 8509000C. Điều này có thể là do có sự liên quan đến sự có mặt của các ion sunfat SO42- nằm dưới dạng hấp phụ[20,40]. Ngoài ion SO42- nhiệt độ chuyển anatase thành rutile cũng bị tăng cao khi có mặt một lượng nhỏ tạp chất SiO2, cũng như khi có mặt HCl trong khí quyển bao quanh.

Theo tác giả công trình [8] thì năng lượng hoạt hoá của quá trình chuyển anatase thành rutile phụ thuộc vào kích thước hạt của anatase, nếu kích thước hạt càng bé thì năng lượng hoạt hoá cần thiết để chuyển anatase thành rutile càng nhỏ. Theo các tác giả công trình [5] thì sự có mặt của pha brookite có ảnh hưởng đến sự chuyển pha anatase thành rutile: Khi tăng nhiệt độ nung thì tốc độ chuyển pha brookite sang rutile xảy ra nhanh hơn tốc độ chuyển pha anatase sang rutile nên tạo ra nhiều mầm tinh thể rutile hơn, đặc biệt với các mẫu TiO2 chứa càng nhiều pha brookite thì sự chuyển pha anatase sang rutile xảy ra càng nhanh, quá trình chuyển pha xảy ra hoàn toàn ở 9000C. Một số tính chất quan trọng của vật liệu TiO2 kích thước nano mét Titan đioxit dạng khối là một chất tương đối bền với các tác nhân hóa học, tính chất này cũng thể hiện đầy đủ ở titan đioxit kích thước nano. Titan đioxit nói chung không phản ứng với nước, không phản ứng với dung dịch axit loãng, dung dịch ammoniac, tan ít trong dung dịch kiềm loãng nhưng lại tan khá tốt trong borac và phốt phát nóng chảy.

TiO2 còn thể hiện tính oxi hóa trong các phản ứng với những chất khử mạnh ở nhiệt độ cao. [13] Với kích thước hạt rất nhỏ, diện tích bề mặt riêng lớn, titan đioxit lại thể hiện nhiều tính chất rất đặc biệt hơn hẳn TiO2 dạng khối, nhờ đó nó được ứng dụng một cách rộng rãi trong công nghệ, sản xuất và đời sống. Trong đó, hai tính chất hoạt tính quang xúc tác và đặc tính siêu thấm ướt của vật liệu TiO2 kích thước nano là đáng chú ý nhất. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Văn Khanh Luận văn thạc sĩ khoa học 1.

Hoạt tính quang xúc tác của vật liệu TiO2 kích thước nano mét [32, 47] Năm 1930, khái niệm xúc tác quang ra đời. Trong hoá học nó dùng để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng đồng thời của chất xúc tác và ánh sáng, hay nói cách khác, ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác, giúp cho phản ứng xảy ra. Nguyên lý cơ bản về quá trình quang xúc tác trên các chất bán dẫn là khi được kích thích bởi ánh sáng có năng lượng lớn hay bằng độ rộng vùng cấm của chất bán dẫn (thường là tia tử ngoại do độ rộng vùng cấm của nó khá lớn ~3.2eV) sẽ tạo ra cặp electron - lỗ trống (e, h+) ở vùng dẫn và vùng hóa trị. Những cặp electron – lỗ trống này sẽ di chuyển ra bề mặt để thực hiện phản ứng oxi hóa- khử.

Các lỗ trống có thể tham gia trực tiếp vào phản ứng oxi hóa các chất độc hại, hoặc có thể tham gia vào giai đoạn trung gian tạo thành các gốc tự do hoạt động như ( OH , O  2 ). Tương tự như thế các electron sẽ tham gia vào các quá trình khử tạo thành các gốc tự do. Các gốc tự do sẽ tiếp tục oxi hóa các chất hữu cơ bị hấp phụ trên bề mặt chất xúc tác thành sản phẩm cuối cùng không độc hại là CO2 và HO2. Cơ chế xảy ra như sau: Hình 1.

Cơ chế của quá trình quang xúc tác của vật liệu TiO2 khi được chiếu sáng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Văn Khanh Luận văn thạc sĩ khoa học TiO2 + hv  TiO2 (h+ + e-) (1.14) TiO2 (h+) + H2O  OH + H+ + TiO2 (1.15) TiO2 (h+) + OH-  OH + TiO2 (1.18) TiO2 (e-) + H2O2  OH- + OH + TiO2 (1.22) Từ các phương trình (1.17) ở trên ta thấy rằng điện tử chuyển từ chất hấp phụ sang TiO2. Từ phương trình (1.18) ta thấy phân tử O2 có mặt trong môi trường sẽ nhận điện tử để trở thành O  2. Từ các phương trình trên cho thấy quá trình oxi hoá phân huỷ chủ yếu phụ thuộc vào nồng độ của gốc OH hấp phụ trên bề mặt TiO2 (phương trình 1.15) và lượng oxi hoà tan (phương trình 1. Sự bổ sung thêm H 2O2 vào sẽ làm tăng hiệu quả phản ứng (phương trình 1.19) và gốc O  2 sinh ra cũng tham gia vào phản ứng (phương trình 1.

Các gốc sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh (chủ yếu là OH và HO2 ). Hợp chất hữu cơ sẽ bị hấp phụ trên bề mặt TiO2 và bị oxi hoá bởi OH và HO2. Sản phẩm cuối cùng của phản ứng quang hoá là CO2 ,H2O. Trong quá trình xúc tác quang, hiệu suất phản ứng có thể bị giảm bởi sự tái kết hợp của các electron và lỗ trống [37]: e- + h+ → (SC) + E (1.23) Trong đó (SC) là tâm bán dẫn trung hoà và E là năng lượng được giải phóng ra dưới dạng bức xạ điện từ (hv’ ≤ hv) hoặc nhiệt.

Và hiệu suất lượng tử của quá trình quang xúc tác được tính bằng: (1.24) 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Văn Khanh Luận văn thạc sĩ khoa học Trong đó : kc : tốc độ vận chuyển electron kk : tốc độ tái kết hợp của các electron và lỗ trống Như vậy để tăng hiệu suất phản ứng quang xúc tác, có 2 cách: thứ nhất tăng tốc độ vận chuyển điện tích và thứ hai là giảm tốc độ tái kết hợp của các electron và lỗ trống. Để thực hiện phương án 2: giảm tốc độ tái kết hợp, “bẫy điện tích” được sử dụng để thúc đẩy sự bẫy điện tử và lỗ trống trên bề mặt, tăng thời gian tồn tại của electron và lỗ trống trong chất bán dẫn. Điều này dẫn tới việc làm tăng hiệu quả của quá trình chuyển điện tích tới chất phản ứng. Bẫy điện tích có thể được tạo ra bằng cách biến tính bề mặt chất bán dẫn như đưa thêm ion kim loại, chất biến tính vào hoặc sự tổ hợp với các chất bán dẫn khác dẫn tới sự giảm tốc độ tái kết hợp điện tử - lỗ trống và kết quả là tăng hiệu suất lượng tử của quá trình quang xúc tác.

Đó cũng chính là mục đích của việc đưa các nguyên tố kim loại hay các nguyên tố phi kim vào trong cấu trúc của TiO2 và tạo ra các khuyết tật của mạng tinh thể. Kích thước hạt và cấu trúc TiO2 ảnh hưởng nhiều đến khả năng xúc tác quang hoá. Bột TiO2 có kích thước càng nhỏ thì hoạt tính xúc tác càng cao. Hầu hết các tài liệu đều chỉ ra rằng TiO2 dạng bột kích thước nano mét có cấu trúc anatase có hoạt tính xúc tác cao nhất [10].

Tính chất siêu thấm nước của vật liệu TiO2. [32] Trong các vật liệu mà chúng ta vẫn đang sử dụng hàng ngày, bề mặt của chúng thường có tính kị nước ở một mức độ nào đó, đặc trưng bởi góc thấm ướt: Bề mặt thấm ướt chất lỏng, góc thấm ướt < 900 Không thấm ướt hay kỵ lỏng, góc thấm ướt > 900 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Văn Khanh Luận văn thạc sĩ khoa học Hình 1. Các góc tiếp xúc của chất lỏng và bề mặt thấm ướt Với mặt kính, gạch men, hay các vật liệu vô cơ khác, góc thấm ướt thường là từ 200 – 300. Các vật liệu hữu cơ như nhựa plastic, meca góc thấm ướt thường dao động trong khoảng 700 -900.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ