ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dưỡng (SDD) là một vấn đề luôn mang tính thời sự trong y khoa nói chung và ngoại khoa nói riêng. Nhiều bằng chứng đã cho thấy SDD gây tác động nghiêm trọng đến kết quả điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, và làm tăng gánh nặng kinh tế cho người bệnh (NB). Đối với NB ung thư, đặc biệt là ung thư đường tiêu hóa (UTĐTH), ảnh hưởng của SDD lên kết quả điều trị càng nghiêm trọng vì nhiều nguyên nhân. Đầu tiên, NB UTĐTH thường có tỉ lệ SDD cao hơn các loại bệnh khác, với tỉ lệ dao động từ 43,3% đến 77,2% [72], [7], [35].
Hơn nữa, NB UTĐTH thường đi kèm với hội chứng suy mòn, chán ăn, đôi khi kèm theo tắc nghẽn cơ học đường tiêu hóa, do đó tình trạng dinh dưỡng (TTDD) càng tồi tệ hơn. Ngoài ra, yêu cầu phẫu thuật và biến chứng hậu phẫu cũng góp phần làm nặng hơn TTDD của NB. Do đó, nghiên cứu về mối liên quan giữa TTDD và kết quả phẫu thuật UTĐTH mang tính cấp thiết và thời sự. Hiện tại, việc đánh giá TTDD của NB trước mổ có rất nhiều cách tiếp cận và mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm riêng.
Một số phương pháp đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền, kỹ thuật phức tạp do đó khó áp dụng trên thực tế. Ngược lại, một số phương pháp đánh giá TTDD dễ áp dụng trên lâm sàng (ví dụ đo cân nặng), nhưng giá trị tiên lượng lại rất hạn chế. Hiện nay, phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan SGA (Subjective Global Assessment) của Detsky và cs (đã được các tác giả Phạm Văn Năng, Lưu Ngân Tâm và cs phiên dịch) đã được triển khai rộng rãi vì vừa có tính ứng dụng vừa có giá trị cao trong nghiên cứu [27], [6], [7]. Tại Việt Nam, có rất nhiều báo cáo về tỉ lệ SDD của NB, theo Phạm Văn Năng (2006), Nguyễn Thùy An (2010) và Đặng Trần Khiêm (2013), tỉ lệ SDD của NB trước phẫu thuật vùng bụng trong khoảng 53 - 57% [6], [1], [3].
Gần đây, Nguyễn Hà Thanh Uyên và cs (2018) cho thấy có đến 56,4% NB bị. SDD trước mổ UTĐTH [13]. Ngoài ra, các nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật bụng ở nhóm NB SDD cao hơn nhóm NB không SDD [3], [46]. Tuy vậy, đa phần các báo cáo này chú trọng vào mối tương quan của SDD và tỉ lệ biến chứng chung của phẫu thuật bụng, chưa tìm thấy nghiên cứu nào báo cáo mối quan hệ giữa TTDD theo phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan SGA và mức độ nặng của biến chứng hậu phẫu (theo Clavien-Dindo hay theo chỉ số đánh giá biến chứng tổng quát CCI) ở NB UTĐTH.
Nhằm giúp phẫu thuật viên và điều dưỡng chú trọng, chăm sóc và điều trị tốt hơn cho người bệnh, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng và các biến chứng sớm sau phẫu thuật ung thư đường tiêu hóa”. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Liệu có mối liên quan giữa tình trạng SDD trước mổ theo SGA và biến chứng sớm sau phẫu thuật UTĐTH hay không? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu mối liên quan giữa tình trạng SDD trước mổ và biến chứng sớm sau phẫu thuật điều trị UTĐTH tại khoa Ngoại tiêu hóa bệnh viện Chợ Rẫy. Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỉ lệ SDD trước mổ ở người bệnh UTĐTH có chỉ định phẫu thuật triệt để theo phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan SGA 2.
Xác định tỉ lệ biến chứng sớm sau phẫu thuật (tỉ lệ biến chứng chung, độ nặng của biến chứng theo phân loại Clavien-Dindo và CCI) ở nhóm người bệnh bình thường (SGA-A) và nhóm người bệnh SDD (SGA-B, C) 3. Đánh giá mối liên quan giữa tình trạng SDD theo SGA và nguy cơ xuất hiện biến chứng sớm sau phẫu thuật cũng như độ nặng của biến chứng theo phân loại Clavien-Dindo và CCI. Dịch tễ Ung thư đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới. Năm 2020, UTĐTH có mặt trong 5 loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới, bao gồm ung thư đại trực tràng và ung thư dạ dày, chúng lần lượt đứng vị trí thứ ba và thứ năm trong tổng số các loại ung thư (tỉ lệ lần lượt là 10,0% và 5,6%) [66].
Ngoài ra, UTĐTH cũng có tỉ lệ tử vong cao hơn so với các loại ung thư khác. Cụ thể, tỉ lệ tử vong ung thư đại trực tràng đứng thứ 2 (9,4%), ung thư dạ dày đứng thứ 4 (7,7%) trong tất cả các loại ung thư [66]. Năm 2020 tại Việt Nam, tỉ lệ mắc ung thư trước 75 tuổi chuẩn hóa ở nam và nữ tương ứng là 19,5% và 14,5% [66]. Trong tổng số 182.563 ca ung thư mới phát hiện và 122.690 trường hợp tử vong do ung thư ở nước ta vào năm 2020, ung thư dạ dày đứng thứ 4 với tỉ lệ 9,8% và ung thư trực tràng đứng thứ 5 với tỉ lệ mắc bệnh là 5,1% [66].
Có thể thấy các UTĐTH luôn nằm trong nhóm các loại ung thư thường gặp nhất và xu hướng mắc bệnh có khuynh hướng gia tăng. Yếu tố nguy cơ Do ống tiêu hóa là nơi trực tiếp tiếp xúc với thức ăn và các sản phẩm của quá trình chuyển hóa, UTĐTH có mối quan hệ mật thiết với chế độ ăn. Tuy nhiên, cơ chế bệnh sinh của UTĐTH vẫn còn đang được nghiên cứu. Lý do chính do sự sinh ung ở đường tiêu hóa là một quá trình lâu dài gồm nhiều bước, do nhiều yếu tố bên ngoài môi trường cũng như vai trò nội tại liên quan đến các oncogen và các gen ức chế khối u tác động [80], [39].
Nhìn chung, đa số các nghiên cứu cho rằng chế độ ăn giàu chất xơ, và ít thịt đỏ, ít mỡ bão hòa giúp giảm nguy cơ so với nhóm dân số có chế độ ăn ngược lại [80], [39]. Ngoài ra, việc hút thuốc và lạm dụng rượu bia cũng được biết đến là những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ UTĐTH [80], [39]. hóa, do vậy, cũng trong nghiên cứu, để tránh thông tin bị rối và nhiễu, chúng tôi chỉ đề cập đến giai đoạn chung, ví dụ như ung thư giai đoạn sớm (giai đoạn 0, I và II) hay giai đoạn tiến triển (giai đoạn III và IV) [31]. Điều trị UTĐTH Hiện nay, UTĐTH có rất nhiều phương pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, ức chế miễn dịch, liệu pháp trúng đích và điều trị đa mô thức.
Tuy vậy, trong đa số trường hợp khi ung thư còn khu trú, phẫu thuật vẫn luôn được cân nhắc như là phương pháp điều trị triệt để nhất [53]. Để đạt được hiệu quả điều trị, cần có sự phối hợp của các chuyên khoa như chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, ung bướu và ngoại khoa. Trong một số trường hợp, có thể hóa xạ trước mổ để giảm giai đoạn, tăng khả năng phẫu thuật triệt để, mang lại hiệu quả sống còn sau mổ cao nhất cho NB. PHẪU THUẬT UNG THƯ ĐƯỜNG TIÊU HÓA 1.
Nguyên tắc điều trị Nguyên tắc chung là cắt rộng rãi đoạn ống tiêu hóa mang u cùng với mạc treo tương ứng, mạch máu nuôi dưỡng, mạch bạch huyết, đảm bảo diện cắt an toàn [53]. Phẫu thuật đối với UTĐTH vì vậy cũng rất đa dạng: - Thực quản: cắt thực quản kèm nạo hạch - Dạ dày: cắt toàn bộ hay bán phần dạ dày kèm nạo hạch - Tá tràng: cắt tá tràng bảo tồn đầu tụy hay cắt khối tá tụy - Ruột non: cắt đoạn ruột non kèm nạo hạch - Đại tràng: cắt đại tràng phải, ngang, trái, chậu hông tùy theo vị trí u - Trực tràng: cắt trực tràng trên, thấp kèm nạo hạch, phẫu thuật Miles - Ống hậu môn: phẫu thuật Miles Ngoài ra, tùy theo kinh nghiệm phẫu thuật viên và điều kiện nơi phẫu thuật, phẫu thuật UTĐTH có thể tiến hành bằng mổ mở hay qua nội soi. (PTNS), hay có sự hỗ trợ Robot. Kết quả sớm sau mổ Kết quả sớm sau mổ UTĐTH chủ yếu đề cập đến 3 vấn đề chính [53]: - Thời gian hồi phục lưu thông ruột sau mổ: thể hiện qua lâm sàng có trung tiện, bụng mềm, xẹp, không có biểu hiện nôn ói, ứ đọng lưu thông đường tiêu hóa.
- Thời gian nằm viện: đánh giá qua thời gian nằm viện hậu phẫu, tính từ khi NB phẫu thuật đến khi xuất viện hoặc tử vong, tùy theo yếu tố nào xảy ra trước. Nhìn chung NB được phẫu thuật nội soi có thời gian nằm viện hậu phẫu ngắn hơn so với nhóm mổ mở. - Biến chứng sớm sau mổ: được chúng tôi đề cập chi tiết ở mục bên dưới Biến chứng sớm sau mổ Biến chứng sau mổ là một trong những tiêu chuẩn chính đánh giá tính khả thi và an toàn của phương pháp phẫu thuật. Được đánh giá từ ngày thứ nhất sau mổ đến khi xuất viện, gồm có những biến chứng liên quan trực tiếp đến phẫu thuật (nhiễm trùng vết mổ, xì dò miệng nối, xuất huyết miệng nối.) và các biến chứng khác (viêm phổi, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng huyết,.
Nhiều tác giả cho rằng một số biến chứng (nhiễm trùng vết mổ, viêm phổi, xì dò miệng nối.) liên quan tình trạng dinh dưỡng trước mổ của người bệnh. Nhiễm trùng vết mổ (NTVM) NTVM là nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật. Những nhà nghiên cứu đã sử dụng định nghĩa này một cách rộng rãi nhằm đưa ra những cải tiến trong điều trị [76], [36]. - NTVM nông: xảy ra trong 30 ngày đầu hậu phẫu, chỉ liên quan đến.
nhiễm trùng da và mô dưới da tại vị trí vết mổ, và có một trong các dấu hiệu sau: (a) vết mổ có mủ, (b) cấy mủ vết mổ dương tính, (c) không can thiệp mở rộng vết mổ và NB có biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau tại vết mổ. - NTVM sâu: xảy ra trong 30 ngày hay 90 ngày đầu hậu phẫu, liên quan đến lớp mạc cơ, lớp cơ tại vị trí vết mổ, và có một trong các dấu hiệu sau: (a) dẫn lưu ra mủ từ dưới sâu của đường mổ, (b) cần mở rộng vết mổ để can thiệp và cấy mủ dương tính và NB có biểu hiện sốt, đề kháng khu trú tại vết mổ, (c) phát hiện áp xe qua thăm khám hay chẩn đoán hình ảnh - NTVM tạng: xảy ra trong 30 ngày hay 90 ngày đầu hậu phẫu, liên quan đến tạng dưới lớp cơ, và NB có một trong các dấu hiệu sau (a) dẫn lưu mủ từ ống dẫn lưu hậu phẫu, (b) cấy mủ dương tính từ dẫn lưu, (c) phát hiện áp xe qua thăm khám hay chẩn đoán hình ảnh, và có một trong các biểu hiện nhiễm trùng tạng liên quan.