mở đầu cho nghiên cứu về vai trò của tính không thanh khoản trong quá trình định giá tài sản. Với dữ liệu là TSSL tháng của các công ty niêm yết trên NYSE trong giai đoạn 1961-1980, chênh lệch giá mua-giá bán (bid-ask spread) 8 là biến đại diện cho tính không thanh khoản, tác giả tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa TSSL kỳ vọng và tính không thanh khoản. Nghiên cứu “The seasonal behavior of the liquidity premium in asset pricing” của Eleswarapu và Reinganum (1993): kiểm tra kết quả nghiên cứu của Amihud và Mendelson (1986) trên cơ sỡ dữ liệu mới cập nhật hơn từ 1961-1990. Bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa TSSL kỳ vọng và tính không thanh khoản.
Tuy nhiên, kết quả chỉ có ý nghĩa thống kê trong giới hạn tháng Giêng. Tác động của chênh lệch giá mua-giá bán đối với TSSL kỳ vọng khác không và không có ý nghĩa thống kê trong những tháng khác tháng Giêng. Nghiên cứu “Market microstructure and asset pricing: On the compensation for illiquidity in stock returns” của Brennan và Subrahmanyam (1996): với dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn từ 1984-1988, mở rộng từ nghiên cứu của Amihud và Mendelson (1986) khi xem xét tính thanh khoản trong mô hình của Fama-French. Kết quả tìm thấy mối quan hệ đồng biến có ý nghĩa giữa TSSL kỳ vọng và tính không thanh khoản trong sự có mặt các nhân tố thị trường, quy mô và giá trị.
Nghiên cứu của Peterson và Fialkowski (1994) và Brennan và Subrahmanyam (1996) đưa ra quan niệm cho rằng: chênh lệch giá mua-giá bán là biến đại diện kém cho tính thanh khoản. Điều đó dẫn đến những cách thức đo lường khác cho tính thanh khoản như khối lượng giao dịch (Brennan và cộng sự, 1998), tỷ lệ vòng quay trong giao dịch (Datar và cộng sự, 1998), Chan và Faff, 2005), độ lệch chuẩn của tỷ lệ vòng quay trong giao dịch và khối lượng giao dịch, và hệ số phương sai của tỷ lệ vòng quay trong giao dịch và khối lượng giao dịch (Chordia và cộng sự, 2001), thước đo tính thanh khoản của Pastor và Stambaugh (Ho và Hung, 2009), thước đo tính không thanh khoản của Amihud (2002) (Lagoarde- Segot,2009; Jankowitsch và cộng sự, 2011) và tỷ lệ thanh khoản của Liu (2006). Nhìn chung, những nghiên cứu này hỗ trợ cho những kết quả nghiên cứu của Amihud và Mendelson (1986). 9 Nghiên cứu “Trading activity and expected stock returns” của Chordia, Subrahmanyam và Anshuman (2001): với dữ liệu nghiên cứu là TSSL hàng tháng của các cổ phiếu phổ thông niêm yết trên NYSE-AMEX trong giai đoạn 01.
Bài nghiên cứu sử dụng số liệu về hoạt động giao dịch (bao gồm khối lượng và giá trị giao dịch) làm biến đại diện cho tính thanh khoản của cổ phiếu. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa TSSL trung bình của cổ phiếu và mức độ thanh khoản, trong sự kiểm soát các nhân tố quy mô, giá trị, quán tính và tính thanh khoản. Nghiên cứu “Illiquidity and stock returns: cross-section and time-series effects” của Amihud (2002): sử dụng dữ liệu nghiên cứu của NYSE giai đoạn 1964-1997. Kết quả chỉ ra rằng tính không thanh khoản kỳ vọng của thị trường có tác động dương lên TSSL vượt trội của cổ phiếu, đề xuất rằng TSSL vượt trội mong đợi của cổ phiếu phần nào đại diện một phần bù không thanh khoản.
Kết quả này bổ sung có mối quan hệ đồng biến giữa TSSL và tính không thanh khoản. Những nghiên cứu gần đây chuyển từ việc cho rằng tính thanh khoản là một đặc tính của chứng khoán sang tính thanh khoản là một nhân tố rủi ro tổng thể. Nghiên cứu của Jacoby và cộng sự (2000) phát triển mô hình dựa trên mô hình CAPM nhằm chỉ ra rằng rủi ro hệ thống được đo lường dựa trên TSSL thuần (sau khi trừ chênh lệch giá mua-bán) trong điều kiện có chi phí thanh khoản. Nghiên cứu của Acharya và Pederson (2005) đưa biến tính thanh khoản có điều chỉnh beta của Jacoby và cộng sự vào mô hình 4 nhân tố và nhận thấy rằng mô hình của họ có ý nghĩa cao hơn mô hình CAPM truyền thống.
Nghiên cứu của Pastor và Stambaugh (2003) phát hiện rằng chứng khoán có độ nhạy với nhân tố thanh khoản thị trường cao hơn thì yêu cầu TSSL cao hơn so với các chứng khoán có độ nhạy cảm thấp. Nghiên cứu của Liu (2006) sử dụng một biến đại diện mới cho tính thanh khoản và tìm thấy bằng chứng xác định thanh khoản là yếu tố quan trọng trong rủi ro định giá. Tác giả đề nghị mô hình hai nhân tố (nhân tố thị trường và tính thanh khoản) – mô hình giải thích tốt cho biến phụ thuộc - TSSL chứng khoán. 10 Nghiên cứu “The importance of liquidity as as factor in asset pricing” của Keene và Peterson (2007): sử dụng hồi quy chuỗi thời gian theo mô hình Fama-French nhằm xác định liệu tính thanh khoản có phải là một nhân tố rủi ro ảnh hưởng đến TSSL chứng khoán.
Kết quả cho rằng tính thanh khoản là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến TSSL của danh mục, thậm chí sau khi các ảnh hưởng của nhân tố thị trường, quy mô, giá trị và yếu tố quán tính được kiểm soát. Nghiên cứu “Liquidity and asset pricing under the three-moment CAPM paradigm của Nguyen, Mishra, Prakash và Ghosh (2007): nghiên cứu vai trò của tính thanh khoản đối với TSSL trong sự tác động của mô hình CAPM, mô hình 3 nhân tố Fama-French và nhân tố tính thanh khoản của Pastor và Stambaugh (2003), với dữ liệu nghiên cứu là chứng khoán niêm yết trên NYSE/AMEX trong giai đoạn 1963-2004. Sử dụng tỷ lệ vòng quay trong giao dịch là biến đại diện cho tính thanh khoản, tác giả tìm thấy chứng khoán có tỉ lệ thu nhập thấp (kém thanh khoản) đòi hỏi một TSSL cao hơn so với chứng khoán có tỉ lệ thu nhập cao (thanh khoản tốt). Kết quả nghiên cứu còn cho thấy rằng phần bù thanh khoản tồn tại trong thị trường chứng khoán và tính thanh khoản là một nhân tố riêng biệt, không bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các nhân tố phi thị trường, nhân tố thị trường hay các đặc tính khác của cổ phiếu.
Nghiên cứu “Asset pricing and the illiquidity premium” của Chan, Faff (2005): nghiên cứu vai trò tính thanh khoản trong định giá tài sản ở Úc thông qua dữ liệu tháng trong giai đoạn 1990-1998. Kết quả xác định biến thanh khoản (đo lường bằng tỉ lệ thu nhập) có thể giải thích biến TSSL chứng khoán trong sự kiểm soát các nhân tố theo Fama-French (nhân tố quy mô, giá trị và quán tính). Thêm vào đó, tác giả cũng kiểm tra tính vững của nhân tố tính thanh khoản trong vai trò định giá tài sản tại thị trường Úc. Nghiên cứu “Liquidity and asset pricing: Evidence from the Hong Kong stock market” của Keith S.K Tam (2011): nghiên cứu tính thanh khoản tại thị trường chứng khoán Hong Kong trong giai đoạn 1981-2004.
Tác giả cũng tìm thấy vai trò quan trọng của tính thanh khoản trong việc xác định TSSL 11 của chứng khoán khi xem xét cùng các nhân tố định giá tài sản khác. Trong đó, hệ số tính thanh khoản (được tính bằng tỉ lệ thu nhập) có giá trị dương ở nhóm danh mục công ty nhỏ, tính thanh khoản kém và hệ số tính thanh khoản có giá trị âm ở nhóm danh mục công ty lớn, tính thanh khoản tốt. Bài viết còn kết luận mô hình 4 nhân tố (bao gồm nhân tố thị trường, nhân tố quy mô, nhân tố giá trị và nhân tố tính thanh khoản) là mô hình tốt nhất có thể giải thích TSSL chứng khoán Hong Kong, trong khi yếu tố xu hướng không có tác động đến việc định giá. Nghiên cứu “Tác động của thanh khoản đến suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” của Nguyễn Anh Phong (2012): Bài nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của thanh khoản và rủi ro thanh khoản lên suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết tại TTCK Việt Nam.
Nghiên cứu đo tính thanh khoản bằng ba cách khác nhau: thứ nhất là đo bằng tỷ lệ giữa số lượng cổ phiếu giao dịch chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành; thứ hai là đo bằng giá trị giao dịch bình quân trong tháng của cổ phiếu và thứ ba là đo bằng tỷ lệ giữa giá trị giao dịch bình quân trong tháng so với giá trị giao dịch bình quân toàn thị trường. Khác với các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ giữa số lượng cổ phiếu giao dịch chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành không có ảnh hưởng đến TSSL và rủi ro các cổ phiếu niêm yết, ngược lại hai chỉ số thanh khoản còn lại có quan hệ với TSSL, trong khi chỉ số beta có quan hệ khá mờ nhạt đến TSSL của các cổ phiếu. Từ việc tham khảo các nghiên cứu trước đây tại các thị trường khác nhau, tác giả nhận thấy có nhiều cách xác định biến đại diện cho tính thanh khoản và kết quả về mối quan hệ giữa tính thanh khoản và TSSL cổ phiếu chưa thống nhất.