Luận Án Tiến Sĩ: Nghiên Cứu Tính Kinh Tế Theo Quy Mô Trong Ngành May Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích tính kinh tế theo quy mô (economies of scale) trong ngành may Việt Nam, đánh giá hiệu quả sản xuất và tăng trưởng doanh nghiệp.

Chuyên ngành

Kinh tế vi mô

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2011

197
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG VÀ HÌNH

1. CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích, nội dung, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

1.2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

1.2.2. Nội dung nghiên cứu

1.2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

1.3. Đóng góp của luận án và đề xuất các nghiên cứu tiếp theo

1.4. Kết cấu của luận án

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU & CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH KINH TẾ THEO QUI MÔ

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô

2.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô trong các ngành

2.1.2. Nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô của các DN trong ngành May Việt Nam

2.1.3. Các phương pháp đánh giá về tính kinh tế theo qui mô đã được sử dụng

2.2. Cơ sở lý luận về tính kinh tế theo qui mô (Economies of scale)

2.2.1. Khái niệm tính kinh tế theo qui mô

2.2.2. Những yếu tố tác động đến tính kinh tế theo qui mô

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

3.1. Phương pháp thu thập thông tin

3.1.1. Nghiên cứu tại bàn, kế thừa

3.1.2. Khảo sát, phỏng vấn chuyên gia

3.1.3. Điều tra bằng phiếu câu hỏi qua thư

3.1.4. Tổng hợp, phân tích dữ liệu từ các cuộc điều tra của Tổng cục thống kê

3.2. Phương pháp đánh giá tính kinh tế theo qui mô của các DN May Việt Nam

3.2.1. Lý do sử dụng phương pháp định vị tính kinh tế theo qui mô dựa vào số liệu trong quá khứ và hàm sản xuất

3.2.2. Phương pháp định vị tính kinh tế theo qui mô sử dụng số liệu quá khứ và hàm sản xuất

3.2.3. Phương pháp đánh giá tác động (DID)

4. CHƯƠNG 4: NGÀNH MAY THẾ GIỚI & MAY VIỆT NAM - TỔNG QUAN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

4.1. Đặc điểm của ngành May nói chung và xu hướng phát triển của May thế giới

4.1.1. Đặc điểm của ngành May nói chung

4.1.2. Xu hướng phát triển của May thế giới

4.2. Lịch sử phát triển & thực trạng ngành May Việt Nam

4.2.1. Lịch sử phát triển của ngành May Việt Nam

4.2.2. Thực trạng về thị trường của Dệt May Việt Nam giai đoạn 2000-2009

4.2.3. Tập đoàn Dệt May Việt Nam và Hiệp hội Dệt may Việt Nam

4.2.3.1. Tập đoàn Dệt May Việt Nam
4.2.3.2. Hiệp hội Dệt may Việt Nam

4.2.4. Ngành May Việt Nam trong chuỗi Dệt may ASEAN

4.3. Xu thế, chiến lược phát triển của ngành May Việt Nam giai đoạn 2010- 2020

4.3.1. Xu thế cho Ngành May Việt Nam

4.3.2. Chiến lược phát triển của ngành May Việt Nam

5. CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TÍNH KINH TẾ THEO QUI MÔ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY VIỆT NAM

5.1. Kết quả điều tra các DN May Việt Nam giai đoạn 2000-2009

5.1.1. Thông tin chung về các DN May được điều tra

5.1.2. Khó khăn của các DN May giai đoạn 2000-2009

5.1.3. Các thông tin liên quan đến tính kinh tế theo qui mô

5.1.4. Các quan điểm về vai trò của Hiệp hội Dệt may Việt Nam

5.1.5. Thực trạng về cơ cấu tổ chức, hệ thống chính sách quản lý của các DN May Việt Nam giai đoạn 2000-2009

5.1.6. Các hoạt động về đầu tư máy móc thiết bị, nghiên cứu phát triển của các DN May Việt Nam giai đoạn 2000-2009

5.1.7. Đánh giá chung về kết quả điều tra của các DN May Việt Nam trong 10 năm qua và hạn chế của điều tra

5.1.7.1. Đánh giá chung về kết quả điều tra của các DN May giai đoạn 2000-2009
5.1.7.2. Hạn chế của mẫu điều tra

5.2. Kết quả phân tích định lượng về tính kinh tế theo qui mô của ngành May Việt Nam

5.2.1. Đề xuất mô hình và các biến số trong mô hình nghiên cứu

5.2.2. Mô tả thống kê các biến số

5.2.3. Kết quả ước lượng mô hình cho các loại doanh nghiệp

5.2.4. Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về tính kinh tế theo qui mô & kết luận cho các loại hình DN May giai đoạn 2000-2009

6. CHƯƠNG 6: KIẾN NGHỊ & KẾT LUẬN KHAI THÁC TÍNH KINH TẾ THEO QUI MÔ TRONG NGÀNH MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020

6.1. Giải pháp cho các nhóm DN May Việt Nam nhằm khai thác tính kinh tế theo qui mô bên trong

6.1.1. Tăng số lượng nhà máy của mỗi DN may, qui mô của mỗi nhà máy mới bằng hoặc nhỏ hơn qui mô của nhà máy hiện tại

6.1.2. Nhóm giải pháp cho các DNNN

6.1.3. Nhóm giải pháp cho các DNNNN

6.1.4. Nhóm giải pháp cho các DNĐTNN

6.2. Nhóm giải pháp cho các DN May nhằm khai thác tính kinh tế theo qui mô bên ngoài

6.2.1. Đào tạo nguồn nhân lực của may Việt Nam đáp ứng yêu cầu của ngành

6.2.2. VINATEX, Hiệp hội Dệt May Việt Nam và các DN May kết hợp để tạo ra các cụm liên kết công nghiệp (CLKCN) tại các địa phương

6.2.3. DN May Việt Nam nên hướng đến lập "xưởng may chung" giữa các nước ASEAN

6.3. Các kiến nghị cho Hiệp hội Dệt May Việt Nam

6.3.1. Xây dựng một thị trường nội bộ cho Hiệp hội Dệt May Việt Nam

6.3.2. Tư vấn các DN May tìm kiếm, ứng dụng các công nghệ mới trong sản xuất

6.3.3. Phát triển số lượng và chất lượng các hội viên của hiệp hội theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp cung ứng các yếu tố đầu vào

6.4. Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan chính quyền có liên quan

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tính kinh tế theo quy mô và ngành may Việt Nam

Tính kinh tế theo quy mô (Economies of Scale) là khái niệm quan trọng trong kinh tế học, chỉ mối quan hệ giữa sự thay đổi chi phí trung bình và sản lượng đầu ra. Trong ngành may Việt Nam, việc tận dụng lợi thế quy mô giúp các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngành may Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm, từ gia công xuất khẩu đến việc đối mặt với thách thức từ các đối thủ như Trung Quốc, Ấn Độ. Nghiên cứu này tập trung phân tích tối ưu hóa chi phísản xuất hàng loạt để đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp may trong bối cảnh hội nhập kinh tế.

1.1. Khái niệm và yếu tố ảnh hưởng đến tính kinh tế theo quy mô

Tính kinh tế theo quy mô được định nghĩa là sự giảm chi phí trung bình khi sản lượng tăng lên. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm quản lý doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh, và tăng cường năng lực sản xuất. Trong ngành may, việc áp dụng công nghệ hiện đại và sản xuất hàng loạt giúp giảm chi phí đơn vị. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp khó khăn trong việc tận dụng lợi thế này do hạn chế về vốn và công nghệ.

1.2. Thực trạng ngành may Việt Nam

Ngành may Việt Nam chủ yếu tập trung vào gia công xuất khẩu, với các thị trường chính là Mỹ, EU và Nhật Bản. Tuy nhiên, sự cạnh tranh gay gắt từ các nước như Trung Quốc và Ấn Độ đã đặt ra thách thức lớn. Các doanh nghiệp may Việt Nam cần tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất để duy trì vị thế. Nghiên cứu này phân tích thực trạng và xu hướng phát triển của ngành may trong giai đoạn 2000-2009, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp.

II. Phương pháp nghiên cứu và đánh giá tính kinh tế theo quy mô

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích kinh tếhàm sản xuất để đánh giá tính kinh tế theo quy mô trong các doanh nghiệp may Việt Nam. Phương pháp định vị tính kinh tế theo quy mô dựa trên số liệu quá khứ và hàm sản xuất giúp xác định mức độ hiệu quả của các doanh nghiệp. Ngoài ra, phương pháp đánh giá tác động (DID) được áp dụng để phân tích ảnh hưởng của các chính sách chính phủ đến hiệu quả sản xuất.

2.1. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ các cuộc khảo sát, phỏng vấn chuyên gia, và điều tra bằng phiếu câu hỏi. Các số liệu từ Tổng cục Thống kê cũng được sử dụng để đảm bảo tính chính xác. Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuấttăng trưởng doanh thu trong ngành may.

2.2. Đánh giá tính kinh tế theo quy mô

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về tính kinh tế theo quy mô giữa các nhóm doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn thường đạt hiệu quả cao hơn nhờ sản xuất hàng loạttối ưu hóa chi phí. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần cải thiện quản lý doanh nghiệpchiến lược kinh doanh để tận dụng lợi thế quy mô.

III. Kết quả phân tích và kiến nghị

Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tận dụng tính kinh tế theo quy mô là yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp may Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Các giải pháp được đề xuất bao gồm tăng cường năng lực sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực, và xây dựng cụm liên kết công nghiệp. Ngoài ra, các kiến nghị về chính sách hỗ trợ từ chính phủ và hiệp hội cũng được đưa ra nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành may.

3.1. Giải pháp cho các nhóm doanh nghiệp

Các doanh nghiệp lớn cần tập trung vào sản xuất hàng loạttối ưu hóa chi phí. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần cải thiện quản lý doanh nghiệpchiến lược kinh doanh. Việc đào tạo nguồn nhân lựcáp dụng công nghệ mới cũng là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp tận dụng lợi thế quy mô.

3.2. Kiến nghị chính sách

Chính phủ cần hỗ trợ các doanh nghiệp may thông qua các chính sách ưu đãi về thuế và vốn. Hiệp hội Dệt May Việt Nam cần đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng thị trường nội bộtư vấn công nghệ. Các giải pháp này sẽ giúp ngành may Việt Nam phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính kinh tế theo qui mô economies of scale của các doanh nghiệp may việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lời mở ñầu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu & cơ sở lý luận về tính kinh tế theo qui mô Chương 3: Phương pháp nghiên cứu của luận án Chương 4: Ngành May thế giới và May Việt Nam- Tổng quan và chiến lược phát triển 8 Chương 5: Phân tích kết quả về tính kinh tế theo qui mô của các DN May Việt Nam giai ñoạn 2000-2009 Chương 6: Kiến nghị & kết luận khai thác tính kinh tế theo quy mô trong ngành May Việt Nam giai ñoạn 2010-2020 Tài liệu tham khảo Danh mục các công trình khoa học của tác giả Phụ lục 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU & CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH KINH TẾ THEO QUI MÔ 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô trong các ngành Nhà kinh tế học Adam Smith [50,tr.16-17]- trong lý thuyết của mình về kinh tế học là người ñầu tiên xác ñịnh phân công lao ñộng và chuyên môn hóa cao là hai yếu tố giúp doanh nghiệp ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô. Tiếp sau quan ñiểm của Adam Smith, Alfred Marshall [50,tr.18-20], tiến một bước cao hơn khi phân biệt sự khác nhau giữa tính kinh tế theo qui mô bên trong và bên ngoài (internal and external economies of scale).

Ông cũng ñưa ra các nguyên nhân dẫn ñến tính kinh tế theo qui mô và tính phi kinh tế theo qui mô. Cuối năm 1980, Paul Krugman [51] ñã xuất bản cuốn “Scale Economies, Product Differentiation, and the Pattern of Trade” xuất bản bởi Hiệp hội kinh tế Mỹ (American Economic Association). Cuốn sách này ñề cập ñến 3 yếu tố làm thay ñổi chi phí sản xuất sản phẩm và tạo lợi thế cho các doanh nghiệp bao gồm tính kinh tế theo qui mô, sự khác biệt sản phẩm và các kênh phân phối sản phẩm. Năm 1997, Karsten Junius- Kiev Institute of World Economics- ðức [47] tiến hành một nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô ñể tìm ra các yếu tố ảnh hưởng ñến tính kinh tế theo qui mô bên trong và bên ngoài dựa trên các nghiên cứu ñã có về chủ ñề này trên thế giới.

Kết quả là khi qui mô thay ñổi thì tính kinh tế theo qui mô sẽ khác nhau. Các yếu tố tác ñộng ñến tính kinh tế theo qui mô bên trong bao gồm sự phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, ảnh hưởng học hỏi và ñường cong kinh nghiệm. Các yếu tố tác ñộng ñến tính kinh tế theo qui mô bên ngoài bao gồm vị trí ñịa lý, sự chia sẻ các nguồn lực ñầu vào của các DN trong cùng khu vực ñịa lý. 10 Năm 2001, Russell Rhine [29] giáo sư của Trường cao ñẳng St.Mary của Maryland, USA ñề cập ñến vấn ñề này trong cuốn “Tính kinh tế theo qui mô và sử dụng vốn tối ưu trong sản xuất ñiện và hạt nhân.” Cuốn sách này kiểm tra tính kinh tế theo qui mô có tồn tại trong ngành sản xuất ñiện và hạt nhân hay không với số liệu 5 năm.

Bởi vì ngành ñiện ñược cấp quá nhiều vốn nên mô hình tối thiểu hóa chi phí không áp dụng ñược, vì vậy ông ñưa ra hàm chi phí về mối quan hệ giữa sản lượng và chi phí biến ñổi chứ không phải hàm chi phí về mối quan hệ giữa sản lượng với tổng chi phí. Tính kinh tế theo qui mô cũng xuất hiện theo biến về chi phí biến ñổi. Các bằng chứng cho thấy các ngành này hoạt ñộng ở phần dốc xuống của ñường chi phí trung bình dài hạn, có nghĩa là ngành ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô. Tiếp ñó, ñến tháng 12/2004, William H.

Greene [38] ñề cập ñến tính kinh tế theo qui mô trong ngành ñiện ở nước Nhật, trong cuốn sách “So sánh chi phí, tính kinh tế theo qui mô, hiệu quả kinh tế theo phạm vi trong ngành ñiện ở Nhật Bản” ñược xuất bản bởi Hiệp hội Kinh tế ðông Á và Nhà xuất bản Blackwell. Cuốn sách có phần ñề cập sâu ñến ước lượng hàm sản xuất của ngành ñiện Nhật Bản giai ñoạn 1978 ñến 1998. ðầu tiên, ông ñiều tra liệu ngành ñiện ở Nhật bản có phải là ñộc quyền tự nhiên không. Ông nhận thấy, ngành này ñạt ñược cả tính kinh tế theo qui mô và tính kinh tế theo phạm vi, tức vẫn là ngành ñộc quyền tự nhiên.

Sau ñó, ông ñưa ra 2 mô hình, trong ñó có một mô hình ñề cập ñến ño lường tính kinh tế theo qui mô và theo phạm vi. Nghiên cứu này tập trung vào việc mô hình hóa và phân tích cơ cấu chi phí của các công ty cung cấp nước. Một biểu số liệu giữa các công ty trong khu vực cung cấp nước nông thôn vùng Tây và ðông ñức ñã ñược tác giả nghiên cứu và phân tích. Kết quả là không công ty ñược nghiên cứu nào ñạt ñược 11 tính kinh tế theo qui mô.

Qui mô tối ưu của các công ty ñược nghiên cứu gấp 3 lần so với qui mô hiện tại của nó. Những nghiên cứu này ñã ñưa ra các bằng chứng ñể chứng minh rằng các quản lý bằng hành chính của Chính phủ ðức trong ngành này ñã không tạo ra hoạt ñộng hiệu quả cho các doanh nghiệp. Vì vậy, chính phủ cần phải ñiều chỉnh chính sách ñể giúp các doanh nghiệp trong ngành này ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô. Khái niệm về tính kinh tế theo qui mô không chỉ tồn tại ở Châu Âu và Châu Mỹ mà còn lan sang Châu Á.

Năm 2004, trong ngành Công nghệ thông tin ở Ấn ðộ, một trong những nền kinh tế phát triển sớm ở Châu Á, các công ty ñã nhanh chóng ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô nhằm giảm bớt áp lực từ nhu cầu tăng lương cho nhân viên. Chính vì vậy, nhiều công ty trong ñó có Sierra Atlantic, một công ty phát triển các phần mềm ứng dụng dựa vào Sillicon Valley ñã nhanh chóng lựa chọn những chiến lược dài hạn mở rộng qui mô công ty ñể tìm cách ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô. Còn ở Việt Nam, ñã có một số ñề tài nghiên cứu về vấn ñề này như “Diễn ñàn phát triển Việt Nam” năm 2004, cụ thể trong lĩnh vực sữa và nghiên cứu này cũng cho thấy, ngành sữa cũng tìm thấy tính kinh tế theo qui mô khi qui mô sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành tăng lên. John Hendra [21], ðiều phối viên Thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cũng ñồng ý với quan ñiểm này khi viết bài “WTO, Hội nhập kinh tế và Phát triển con người: Chính sách công nghệ ñảm bảo công nghiệp hoá thành công”, 2006.

Quan ñiểm của ông là: “Việc gia nhập WTO là bước ñầu tiên rất cần thiết ñể ñạt ñược tính kinh tế theo quy mô và tính kinh tế theo phạm vi vì việc tiếp cận với các thị trường quốc tế lớn nhất tạo ra những nhu cầu sản phẩm không có ở thị trường nội ñịa”. Gần ñây nhất, tháng 10/2008, Stockhom - Viện Khoa học hoàng gia Thụy ðiển ñã quyết ñịnh trao giải The Sveriges Riksbank kinh tế- Alfred Nobel 2008 cho Paul Krugman [52], giáo sư kinh tế và kinh doanh quốc tế của trường ðại học 12 Princeton, Hoa Kì vì những phân tích của ông về các mô hình thương mại và ñịa ñiểm của các hoạt ñộng kinh tế. Cách tiếp cận của Krugman dựa trên giả thuyết là nhiều hàng hóa và dịch vụ có thể ñược sản xuất ra với chi phí rẻ hơn nếu sản xuất hàng loạt, một khái niệm cơ sở phổ biến ñược biết ñến là tính kinh tế theo quy mô. Trong khi ñó người tiêu dùng lại cầu nhiều loại hàng hóa ña dạng.

Do ñó sản xuất theo quy mô nhỏ cho một thị trường ñịa phương ñược thay thế bởi sản xuất quy mô lớn cho thị trường thế giới, nơi mà các hãng sản xuất có cùng mặt hàng tương tự sẽ cạnh tranh với nhau. Nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô của các DN trong ngành May Việt Nam Tính kinh tế theo qui mô trong ngành May ñã ñược ñề cập ñến rải rác trong các phân tích về ngành May Việt Nam và các ngành công nghiệp nhẹ. Nguyễn Khắc Minh [26], cựu giảng viên Khoa Kinh tế học của Trường ðại học Kinh tế quốc dân ñã nghiên cứu một ñề tài cấp Bộ có liên quan ñến vấn ñề tính kinh tế theo qui mô và ngành Dệt may, ñó là “Sử dụng phương pháp ước lượng hàm sản xuất ñể xác ñịnh ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ ñến tăng trưởng kinh tế của một số ngành sản xuất của Việt Nam”. Cụ thể, Giáo sư nghiên cứu thực trạng ngành Công nghiệp Thành phố Hà Nội giai ñoạn 1990-2003 với 3 khu vực: Công nghiệp, Nông nghiệp và Dịch vụ cũng như 5 ngành kinh tế trọng ñiểm của Hà nội là ðiện, ðiện tử, Cơ kim khí, Chế biến thực phẩm, May và Da giầy.

ðến 2006, nghiên cứu này hoàn thành và có ứng dụng trong các ngành ñã nêu trên ở ñịa bàn Hà Nội. Nghiên cứu này ñề cập ñến vấn ñề nếu công nghệ ñược cải tiến, năng suất lao ñộng sẽ tăng lên dẫn ñến chi phí sản xuất thấp hơn nhưng không khẳng ñịnh việc doanh nghiệp có mở rộng qui mô sản xuất hay không. Năm 2010, ðoàn Tiểu Long trong bài “Giải oan cho nền kinh tế gia công”, (http://www.vn) ñã ñề cập ñến vấn ñề này của ngành May Việt Nam. Tác giả cho rằng một nhà máy may ñang sử dụng 1.000 công nhân, với sản lượng 1 triệu bộ quần áo/ năm.

Nếu họ muốn tăng sản lượng thêm 20%, thì họ 13 cần tăng số công nhân và dây chuyền may thêm 20%, nhưng nhiều thứ khác không cần tăng thêm tương ứng như hệ thống giao thông nội bộ, bảo vệ, kế toán, văn phòng. Do ñó suất ñầu tư và chi phí trên mỗi sản phẩm giảm ñi. ðó là lợi thế của nhà máy lớn so với nhà máy nhỏ. Nhưng nếu họ muốn sử dụng số 20% công nhân tăng thêm ñó vào việc khác như dệt vải, thì họ sẽ phải xây thêm nhà máy dệt.

Rõ ràng làm theo cách này suất ñầu tư sẽ cao hơn rất nhiều so với cách mở rộng công ñoạn may, trong khi giá trị mới ñược tạo ra là như nhau trong cả hai trường hợp. Các nghiên cứu khác cho rằng trong giai ñoạn 2000-2008, DN May Việt Nam là ngành kinh tế gia công xuất khẩu, phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu của các nước khác, ñang bán sức lao ñộng với giá rẻ mạt, công ñoạn gia công là công ñoạn tạo ra “giá trị gia tăng” thấp nhất trong chuỗi giá trị, vì thế cần chuyển sang công ñoạn khác có “giá trị gia tăng” cao hơn. Tuy nhiên, năm 2009 ñánh dấu một sự khủng hoảng trong xuất khẩu sản phẩm may.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên Cứu Tính Kinh Tế Theo Quy Mô (Economies of Scale) Trong Các Doanh Nghiệp May Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu phân tích lợi thế kinh tế nhờ quy mô trong ngành may mặc Việt Nam. Nghiên cứu này tập trung vào việc làm rõ cách các doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí, nâng cao năng suất và tăng khả năng cạnh tranh thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về các yếu tố như chi phí cố định, chi phí biến đổi, và cách chúng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, chuyên gia tư vấn và sinh viên muốn tìm hiểu sâu về chiến lược phát triển bền vững trong ngành may mặc.

Để mở rộng kiến thức về tối ưu hóa sản xuất, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá mối quan hệ giữa hoạt động HSE và trách nhiệm xã hội trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất tại công ty TNHH Fashion Garments 2, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn toàn diện về việc kết hợp yếu tố môi trường và xã hội để tăng hiệu quả sản xuất. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh ứng dụng sơ đồ dòng giá trị để cải tiến hiệu quả đóng gói tại Mondelez Kinh Đô Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng công cụ quản lý hiện đại để tối ưu hóa quy trình. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh giảm leadtime để đáp ứng đơn hàng gấp tại Fujikura Fiber Optics Việt Nam là một nghiên cứu thực tiễn về cách giảm thời gian sản xuất, một yếu tố quan trọng trong việc đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô.