Chương 1: Lời mở ñầu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu & cơ sở lý luận về tính kinh tế theo qui mô Chương 3: Phương pháp nghiên cứu của luận án Chương 4: Ngành May thế giới và May Việt Nam- Tổng quan và chiến lược phát triển 8 Chương 5: Phân tích kết quả về tính kinh tế theo qui mô của các DN May Việt Nam giai ñoạn 2000-2009 Chương 6: Kiến nghị & kết luận khai thác tính kinh tế theo quy mô trong ngành May Việt Nam giai ñoạn 2010-2020 Tài liệu tham khảo Danh mục các công trình khoa học của tác giả Phụ lục 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU & CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH KINH TẾ THEO QUI MÔ 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô trong các ngành Nhà kinh tế học Adam Smith [50,tr.16-17]- trong lý thuyết của mình về kinh tế học là người ñầu tiên xác ñịnh phân công lao ñộng và chuyên môn hóa cao là hai yếu tố giúp doanh nghiệp ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô. Tiếp sau quan ñiểm của Adam Smith, Alfred Marshall [50,tr.18-20], tiến một bước cao hơn khi phân biệt sự khác nhau giữa tính kinh tế theo qui mô bên trong và bên ngoài (internal and external economies of scale).
Ông cũng ñưa ra các nguyên nhân dẫn ñến tính kinh tế theo qui mô và tính phi kinh tế theo qui mô. Cuối năm 1980, Paul Krugman [51] ñã xuất bản cuốn “Scale Economies, Product Differentiation, and the Pattern of Trade” xuất bản bởi Hiệp hội kinh tế Mỹ (American Economic Association). Cuốn sách này ñề cập ñến 3 yếu tố làm thay ñổi chi phí sản xuất sản phẩm và tạo lợi thế cho các doanh nghiệp bao gồm tính kinh tế theo qui mô, sự khác biệt sản phẩm và các kênh phân phối sản phẩm. Năm 1997, Karsten Junius- Kiev Institute of World Economics- ðức [47] tiến hành một nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô ñể tìm ra các yếu tố ảnh hưởng ñến tính kinh tế theo qui mô bên trong và bên ngoài dựa trên các nghiên cứu ñã có về chủ ñề này trên thế giới.
Kết quả là khi qui mô thay ñổi thì tính kinh tế theo qui mô sẽ khác nhau. Các yếu tố tác ñộng ñến tính kinh tế theo qui mô bên trong bao gồm sự phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, ảnh hưởng học hỏi và ñường cong kinh nghiệm. Các yếu tố tác ñộng ñến tính kinh tế theo qui mô bên ngoài bao gồm vị trí ñịa lý, sự chia sẻ các nguồn lực ñầu vào của các DN trong cùng khu vực ñịa lý. 10 Năm 2001, Russell Rhine [29] giáo sư của Trường cao ñẳng St.Mary của Maryland, USA ñề cập ñến vấn ñề này trong cuốn “Tính kinh tế theo qui mô và sử dụng vốn tối ưu trong sản xuất ñiện và hạt nhân.” Cuốn sách này kiểm tra tính kinh tế theo qui mô có tồn tại trong ngành sản xuất ñiện và hạt nhân hay không với số liệu 5 năm.
Bởi vì ngành ñiện ñược cấp quá nhiều vốn nên mô hình tối thiểu hóa chi phí không áp dụng ñược, vì vậy ông ñưa ra hàm chi phí về mối quan hệ giữa sản lượng và chi phí biến ñổi chứ không phải hàm chi phí về mối quan hệ giữa sản lượng với tổng chi phí. Tính kinh tế theo qui mô cũng xuất hiện theo biến về chi phí biến ñổi. Các bằng chứng cho thấy các ngành này hoạt ñộng ở phần dốc xuống của ñường chi phí trung bình dài hạn, có nghĩa là ngành ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô. Tiếp ñó, ñến tháng 12/2004, William H.
Greene [38] ñề cập ñến tính kinh tế theo qui mô trong ngành ñiện ở nước Nhật, trong cuốn sách “So sánh chi phí, tính kinh tế theo qui mô, hiệu quả kinh tế theo phạm vi trong ngành ñiện ở Nhật Bản” ñược xuất bản bởi Hiệp hội Kinh tế ðông Á và Nhà xuất bản Blackwell. Cuốn sách có phần ñề cập sâu ñến ước lượng hàm sản xuất của ngành ñiện Nhật Bản giai ñoạn 1978 ñến 1998. ðầu tiên, ông ñiều tra liệu ngành ñiện ở Nhật bản có phải là ñộc quyền tự nhiên không. Ông nhận thấy, ngành này ñạt ñược cả tính kinh tế theo qui mô và tính kinh tế theo phạm vi, tức vẫn là ngành ñộc quyền tự nhiên.
Sau ñó, ông ñưa ra 2 mô hình, trong ñó có một mô hình ñề cập ñến ño lường tính kinh tế theo qui mô và theo phạm vi. Nghiên cứu này tập trung vào việc mô hình hóa và phân tích cơ cấu chi phí của các công ty cung cấp nước. Một biểu số liệu giữa các công ty trong khu vực cung cấp nước nông thôn vùng Tây và ðông ñức ñã ñược tác giả nghiên cứu và phân tích. Kết quả là không công ty ñược nghiên cứu nào ñạt ñược 11 tính kinh tế theo qui mô.
Qui mô tối ưu của các công ty ñược nghiên cứu gấp 3 lần so với qui mô hiện tại của nó. Những nghiên cứu này ñã ñưa ra các bằng chứng ñể chứng minh rằng các quản lý bằng hành chính của Chính phủ ðức trong ngành này ñã không tạo ra hoạt ñộng hiệu quả cho các doanh nghiệp. Vì vậy, chính phủ cần phải ñiều chỉnh chính sách ñể giúp các doanh nghiệp trong ngành này ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô. Khái niệm về tính kinh tế theo qui mô không chỉ tồn tại ở Châu Âu và Châu Mỹ mà còn lan sang Châu Á.
Năm 2004, trong ngành Công nghệ thông tin ở Ấn ðộ, một trong những nền kinh tế phát triển sớm ở Châu Á, các công ty ñã nhanh chóng ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô nhằm giảm bớt áp lực từ nhu cầu tăng lương cho nhân viên. Chính vì vậy, nhiều công ty trong ñó có Sierra Atlantic, một công ty phát triển các phần mềm ứng dụng dựa vào Sillicon Valley ñã nhanh chóng lựa chọn những chiến lược dài hạn mở rộng qui mô công ty ñể tìm cách ñạt ñược tính kinh tế theo qui mô. Còn ở Việt Nam, ñã có một số ñề tài nghiên cứu về vấn ñề này như “Diễn ñàn phát triển Việt Nam” năm 2004, cụ thể trong lĩnh vực sữa và nghiên cứu này cũng cho thấy, ngành sữa cũng tìm thấy tính kinh tế theo qui mô khi qui mô sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành tăng lên. John Hendra [21], ðiều phối viên Thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cũng ñồng ý với quan ñiểm này khi viết bài “WTO, Hội nhập kinh tế và Phát triển con người: Chính sách công nghệ ñảm bảo công nghiệp hoá thành công”, 2006.
Quan ñiểm của ông là: “Việc gia nhập WTO là bước ñầu tiên rất cần thiết ñể ñạt ñược tính kinh tế theo quy mô và tính kinh tế theo phạm vi vì việc tiếp cận với các thị trường quốc tế lớn nhất tạo ra những nhu cầu sản phẩm không có ở thị trường nội ñịa”. Gần ñây nhất, tháng 10/2008, Stockhom - Viện Khoa học hoàng gia Thụy ðiển ñã quyết ñịnh trao giải The Sveriges Riksbank kinh tế- Alfred Nobel 2008 cho Paul Krugman [52], giáo sư kinh tế và kinh doanh quốc tế của trường ðại học 12 Princeton, Hoa Kì vì những phân tích của ông về các mô hình thương mại và ñịa ñiểm của các hoạt ñộng kinh tế. Cách tiếp cận của Krugman dựa trên giả thuyết là nhiều hàng hóa và dịch vụ có thể ñược sản xuất ra với chi phí rẻ hơn nếu sản xuất hàng loạt, một khái niệm cơ sở phổ biến ñược biết ñến là tính kinh tế theo quy mô. Trong khi ñó người tiêu dùng lại cầu nhiều loại hàng hóa ña dạng.
Do ñó sản xuất theo quy mô nhỏ cho một thị trường ñịa phương ñược thay thế bởi sản xuất quy mô lớn cho thị trường thế giới, nơi mà các hãng sản xuất có cùng mặt hàng tương tự sẽ cạnh tranh với nhau. Nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô của các DN trong ngành May Việt Nam Tính kinh tế theo qui mô trong ngành May ñã ñược ñề cập ñến rải rác trong các phân tích về ngành May Việt Nam và các ngành công nghiệp nhẹ. Nguyễn Khắc Minh [26], cựu giảng viên Khoa Kinh tế học của Trường ðại học Kinh tế quốc dân ñã nghiên cứu một ñề tài cấp Bộ có liên quan ñến vấn ñề tính kinh tế theo qui mô và ngành Dệt may, ñó là “Sử dụng phương pháp ước lượng hàm sản xuất ñể xác ñịnh ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ ñến tăng trưởng kinh tế của một số ngành sản xuất của Việt Nam”. Cụ thể, Giáo sư nghiên cứu thực trạng ngành Công nghiệp Thành phố Hà Nội giai ñoạn 1990-2003 với 3 khu vực: Công nghiệp, Nông nghiệp và Dịch vụ cũng như 5 ngành kinh tế trọng ñiểm của Hà nội là ðiện, ðiện tử, Cơ kim khí, Chế biến thực phẩm, May và Da giầy.
ðến 2006, nghiên cứu này hoàn thành và có ứng dụng trong các ngành ñã nêu trên ở ñịa bàn Hà Nội. Nghiên cứu này ñề cập ñến vấn ñề nếu công nghệ ñược cải tiến, năng suất lao ñộng sẽ tăng lên dẫn ñến chi phí sản xuất thấp hơn nhưng không khẳng ñịnh việc doanh nghiệp có mở rộng qui mô sản xuất hay không. Năm 2010, ðoàn Tiểu Long trong bài “Giải oan cho nền kinh tế gia công”, (http://www.vn) ñã ñề cập ñến vấn ñề này của ngành May Việt Nam. Tác giả cho rằng một nhà máy may ñang sử dụng 1.000 công nhân, với sản lượng 1 triệu bộ quần áo/ năm.
Nếu họ muốn tăng sản lượng thêm 20%, thì họ 13 cần tăng số công nhân và dây chuyền may thêm 20%, nhưng nhiều thứ khác không cần tăng thêm tương ứng như hệ thống giao thông nội bộ, bảo vệ, kế toán, văn phòng. Do ñó suất ñầu tư và chi phí trên mỗi sản phẩm giảm ñi. ðó là lợi thế của nhà máy lớn so với nhà máy nhỏ. Nhưng nếu họ muốn sử dụng số 20% công nhân tăng thêm ñó vào việc khác như dệt vải, thì họ sẽ phải xây thêm nhà máy dệt.
Rõ ràng làm theo cách này suất ñầu tư sẽ cao hơn rất nhiều so với cách mở rộng công ñoạn may, trong khi giá trị mới ñược tạo ra là như nhau trong cả hai trường hợp. Các nghiên cứu khác cho rằng trong giai ñoạn 2000-2008, DN May Việt Nam là ngành kinh tế gia công xuất khẩu, phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu của các nước khác, ñang bán sức lao ñộng với giá rẻ mạt, công ñoạn gia công là công ñoạn tạo ra “giá trị gia tăng” thấp nhất trong chuỗi giá trị, vì thế cần chuyển sang công ñoạn khác có “giá trị gia tăng” cao hơn. Tuy nhiên, năm 2009 ñánh dấu một sự khủng hoảng trong xuất khẩu sản phẩm may.