ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức Y tế Thế Giới thông báo trên toàn cầu ước tính hàng năm có khoảng 1,2 triệu người chết do tai nạn giao thông. Theo dự báo con số chết sẽ còn tiếp tục gia tăng, đặc biệt ở các nước có thu nhập thấp, điều này cho thấy tai nạn giao thông ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe con người và là gánh nặng cho xã hội [7], [30]. Tại Việt Nam mỗi ngày có khoảng 30 người chết do tai nạn giao thông đường bộ, kèm theo đó có hàng trăm người bị chấn thương, để lại di chứng tàn phế. Tai nạn giao thông đường bộ thường chủ yếu ở nhưng người trẻ độ tuổi từ 20 – 50 [24], đây là lực lượng lao động chính của xã hội và cũng là đối tượng sử dụng các phương tiện cơ giới nhiều nhất, do vậy nguy cơ tai nạn giao thông đường bộ ở đối tượng này là rất lớn.
Tai nạn giao thông không những gây tổn hại về sức khỏe mà còn gây tổn thất nghiêm trọng về tài chính cho nạn nhân, cho gia đình, xã hội và ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển của đất nước. Các chấn thương tai nạn giao thông thường gặp nhất là vùng đầu, mặt, cổ, đặc biệt là những chấn thương nặng như chấn thương sọ não, chấn thương ngực, chấn thương bụng, gãy xương đùi, cột sống, xương chậu, xương cẳng chân rất nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân. Vì vậy, việc sơ cấp cứu ban đầu kịp thời là rất quan trọng không những cứu sống nạn nhân mà còn hạn chế được các di chứng đáng tiếc gây tàn tật vĩnh viễn tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội sau này. Điều tra của Cục Y tế dự phòng và môi trường (Bộ Y tế) về thực trạng sơ cấp cứu và vận chuyển cấp cứu tại Việt Nam cho thấy, phần lớn nạn nhân được người xung quanh đưa vào viện bằng bất cứ phương tiện gì sẵn có và rất ít người được sơ cứu tại chổ đúng kỹ thuật: chỉ 4% các ca 2 tai nạn thương tích được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu, 52% nạn nhân không được sơ cứu ban đầu, chỉ có khoảng 5 – 10% nạn nhân được sơ cứu tại hiện trường tương đối đúng kỹ thuật nhưng lại được vận chuyển bằng phương tiện không an toàn như xe máy, xe lôi, thậm chí cả xe đạp và xe thô sơ khác,…Tất cả càng làm trầm trọng thêm tình trạng thương tích và gây thêm nhiều tổn thất cho nạn nhân.
Thiệt hại về kinh tế do tai nạn giao thông gây ra ước tính khoảng 5% thu nhập quốc nội. Tình hình tai nạn giao thông đang diễn biến phức tạp ở nước ta theo chiều hướng ngày càng tăng và nghiêm trọng về cả số vụ lẫn số người chết và bị thương. Trước tình hình đó đòi hỏi phải có những thông tin tin cậy để Nhà nước và xã hội có những giải pháp can thiệp hiệu quả. Tuy nhiên hiện nay, số liệu tai nạn giao thông và tình hình sơ cấp cứu còn nhiều bất cập, không đầy đủ, tính tin cậy thấp [1].
Để góp phần cung cấp thông tin tin cậy về tình hình tai nạn giao thông và sơ cấp cứu vận chuyển nạn nhân tai nạn giao thông ở Việt Nam nói chung và ở Cần Thơ nói riêng, nay chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình tai nạn giao thông đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2014 – 2015”, nhằm 2 mục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân các yếu tố liên quan và các tổn thương ở nạn nhân tai nạn giao thông đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2014 – 2015. Đánh giá công tác sơ cứu và vận chuyển nạn nhân tai nạn giao thông đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2014 – 2015. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm về tai nạn giao thông và thƣơng tích TNGT 1.1 Một số khái niệm về tai nạn giao thông Định nghĩa tai nạn: là một sự kiện không định trước mà kết quả là tổn thương nhận thấy được (WHO, 1957) [27].
Có nhiều dạng tai nạn: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, tai nạn chiến tranh,… Định nghĩa tai nạn giao thông: là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản [27]. Tai nạn giao thông đã có từ rất lâu trong lịch sử dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của nó. Về cơ bản TNGT có những đặc tính như: - Được thực hiện bằng những hành vi cụ thể.
- Gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, vật, tài sản - Chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi cuối cùng trong vụ tai nạn giao thông cụ thể phải là đối tượng đang tham gia vào hoạt động giao thông. - Xét về lỗi, là lỗi vô ý hoặc là không có lỗi, không thể là lỗi cố ý. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay số lượng phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng tai nạn giao thông cũng trở nên phức tạp và đa dạng, nó đang là hiểm họa của không riêng một quốc gia nào mà là của toàn thế giới.2 Một số khái niệm về thƣơng tích tai nạn giao thông và sơ cứu Khái niệm chấn thƣơng: là thuật ngữ chung cho cả chấn thương kín và vết thương. Chấn thương kín là tổn thương bên trong cơ thể.
Vết thương là sự cắt đứt hay dập rách các tổ chức trên cơ thể bao gồm vết trượt xây xát trên da. Thương tích TNGT là các tổn thương do TNGT trực tiếp gây ra và có thể gây tử vong trong vòng 30 ngày sau tai nạn [28]. Các loại vết thương thường gặp trong TNGT: - Vết thƣơng phần mềm: bao gồm các tổn thương cân, cơ, tổ chức dưới da và da. Trong cuộc sống hàng ngày có thể gặp những vết thương phần mềm nhỏ, đơn giản, rất dễ chủ quan khi sơ cứu cũng như điều trị dẫn đến hậu quả nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân (nhiễm trùng uốn ván, hoại thư sinh hơi,.
- Gãy xƣơng: Theo Malgaine (1947), gãy xương là sự gián đoạn về cấu trúc giải phẫu của 1 phần xương xảy ra sau chấn thương đột ngột [21]. - Đa chấn thƣơng: có hai hay nhiều tổn thương nặng trong đó có một tổn thương gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân [19].2 Tình hình tai nạn giao thông 1.1 Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế trên thế giới thì hệ thống giao thông và phương tiện giao thông cũng được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển không ngừng giúp việc lưu thông đi lại thuận tiện và nhanh chóng hơn. Đồng thời với sự phát triển này thì TNGT cũng gia tăng nhanh và gây thiệt hại cho người và vật chất toàn xã hội. Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) từ năm 1990 đến năm 2020 có sự thay đổi thứ tự của 10 nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe con người toàn cầu như sau: năm 1990 TNGT đứng hàng thứ 9 sau các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp dưới, bệnh tiêu chảy, dị tật bào thai, trầm cảm đơn cực, nhồi máu cơ tim, 5 bệnh mạch máu não, lao, sởi.
WHO dự báo nếu xu hướng này còn tiếp tục duy trì, TNGT sẽ trở thành nguyên nhân gây hại cho sức khỏe con người đứng hàng thứ 3 thế giới vào năm 2020, chỉ sau bệnh nhồi máu cơ tim và trầm cảm đơn cực [25]. Khi đó số người chết và tàn tật do TNGT sẽ tăng hơn 60% so với hiện nay. Đằng sau nỗi đau thể xác và tinh thần, TNGT còn tác động mạnh đến xã hội. Thống kê cho thấy phần lớn nạn nhân TNGT có độ tuổi từ 15 – 44, độ tuổi lao động chính của xã hội, chăm lo cuộc sống cho bản thân, gia đình và cộng đồng [33].
Trên bình diện toàn cầu, TNGT là một trong những nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất cho người trưởng thành, chỉ tính trong năm 2002 TNGT trên thế giới đã làm cho 1,2 triệu người thiệt mạng và 50 triệu người bị thương tật, nhiều người trở thành tàn phế. Hàng năm, số vụ TNGT lại tăng thêm 10% (con số này ở các nước nghèo và đang phát triển cao hơn tỷ lệ ở các nước công nghiệp phát triển) [26]. Đến năm 2009, WHO khảo sát 178 nước trên thế giới thấy có 1,27 triệu người chết, khoảng 50 triệu người bị thương do TNGT [22]. Theo thống kê của WHO tình hình TNGT một số nước trên thế giới ghi nhận như sau [29], [34], [35]: - Châu Phi cận Sahara – Ethiopia, có tỷ lệ tử vong do TNGT cao nhất trên thế giới.
Uganda đứng thứ 2 thế giới về tỷ lệ tử vong do TNGT đường bộ sau Ethiopia.031 được báo cáo, số người chết là 4.975 người bị thương. - Canada năm 1997 số vụ TNGT là 211.186 trong đó số người tử vong là 3. Tại Anh, TNGT với xe có động cơ chiếm 327.544 trường hợp và năm 1997 gây ra 42.967 người bị thương nặng và 3.599 người chết. - Tại Thổ Nhĩ Kỳ hàng năm tai nạn giao thông gây tử vong hàng ngàn người và làm hàng chục ngàn người khác bị thương đã trở thành một vấn nạn 6 y tế rất quan trọng trong ngành y tế công cộng.000 công dân chết vì tai nạn liên quan đến chấn thương.
Mặc dù con số thực tế về TNGT không rõ nhưng ước tính rằng 35% trong số họ (12.250 người) đã thiệt mạng vì tai nạn xe cơ giới. - Tại Mỹ trong vòng 25 năm qua nhiều chương trình mới đã phát triển, ATGT đường bộ ở Mỹ đã được cải thiện do sự phối hợp hiệu quả giữa nhiều cơ quan quản lý của Chính phủ, cơ quan nghiên cứu về giao thông vận tải, các hãng chế tạo phương tiện vận tải đường bộ, các cơ quan thực thi pháp luật và các tầng lớp xã hội. Theo số liệu của Bộ Giao Thông Vận Tải Mỹ, năm 1990 TNGT xảy ra 39.000 vụ, làm chết 39.836 người, bị thương 2.000 người, thiệt hại 4.000 USD, đến năm 2000 số vụ TNGT là 37.500 vụ làm chết 37.409 người, bị thương 2.000 người, thiệt hại về tài sản 4.