Đặt vấn đề Đất nước trong thời kỳ hội nhập đòi hỏi các chủ thể kinh tế, các ngành, cá thành phần kinh tế không ngừng phát triển để tạo chỗ đứng của mình trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Trong xu thế chung đó đòi hỏi ngành chăn nuôi không ngừng học hỏi, trao dồi kinh nghiệm để tạo sản phẩm có chất lượng cao cung cấp cho người dùng trong nước và quốc tế. Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Chăn nuôi Việt Nam nói riêng những mặt thuận lợi đồng thời cũng gặp không ít khó khăn. Việt Nam đang trên đà phát triển nhưng với đặc thù là một nước đi lên từ sản xuất nông nghiệp, với hơn 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, vói nhiều ngành nghề khác nhau.
Trong đó đã và đang nâng dần tỷ trọng của mình trong nông nghiệp. Ngành chăn nuôi đã cung cấp những sản phẩm cho người tiêu dùng như: thịt, trứng, sữa,. Ngoài ra nó còn là nguyên liệu để sản xuất phân bón, thức ăn gia súc và các sản phẩm khác. Lợn là loài được nuôi nhiều nhất ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
Nó được nuôi với nhiều hình thức khác nhau (nuôi gia đình, nuôi tập trung), tuy nhiên trong thực tế nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn, làm thế nào để đàn lợn khỏi bị bệnh, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun đũa lợn nói riêng? Hiện nay mạng lưới thú y cơ sở ngày càng củng cố nhưng công tác khuyến nông tẩy giun sán cho lợn chưa được chú trọng do hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu tập trung đã gây khó khăn cho công tác của cán bộ thú y cơ sở, chính vì vậy mà tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa lợn khá cao. 2 Tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng có điều kiện cho việc phát triển chăn nuôi lợn, nhưng người chăn nuôi chưa quan tâm đến công tác phòng trị bệnh do giun sán gây ra, vì vậy đã gây thiệt hại lớn về kinh tế, dẫn đến người chăn nuôi không yên tâm phát triển rộng chăn nuôi. Từ nhận thức trên, để hiểu rõ hơn và giải quyết vấn đề mà thực tế đề ra, đồng thời bước đầu đánh giá hiệu quả sử dụng của một số loại thuốc ký sinh trùng hiện nay. Được sự đồng ý của bộ môn Thú y – khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và áp dụng biện pháp phòng chống”.
Mục đích nghiên cứu - Cung cấp thông tin mới về bệnh giun đũa lợn. - Đề xuất các phương pháp phòng và trị bệnh giun đũa lợn hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu Nắm được tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, từ đó đưa ra biện pháp phòng trị bệnh đạt hiệu quả. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin về tình hình nhiễm giun đũa lợn theo vùng sinh thái, độ tuổi, tính biệt, giống, các tháng trong năm, phương thức chăn nuôi và biện pháp phòng chống. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun đũa lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra. Góp phần nâng cao năng suất ngành chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển, nâng cao sức khỏe con người. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hóa là những bệnh ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ ràng. Đó cũng là nguồn gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài và lây lan sang con khác, làm cho bệnh càng có điều kiện phát sinh mạnh, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của vật nuôi. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa lợn Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7] thì bệnh giun đũa lợn là một bệnh phổ biến ở nước ta lợn mắc giun đũa chủ yếu từ 2 – 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần.
Ở lợn dưới hai tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp. Bệnh do loài giun Ascaris suum gây nên, giun ký sinh ở ruột non của lợn nhà và lợn rừng. Giun đũa lợn màu trắng sữa, hình ống hai đầu hơi nhọn. Đầu có 3 môi bao quanh miệng (1 môi ở phía lưng, 2 môi ở phía bụng), trên rìa môi có một hàm răng cửa rất rõ.
Giun đực dài 12 – 22 cm, đường kính 2,7 – 3 mm, đuôi cong về phía bụng, có 2 gai giao hợp bằng nhau (1,2 – 2 mm), không có túi giao hợp. Giun cái dài 29 – 35 cm, đường kính 4 – 5 mm, đuôi thẳng. Trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước 0,056 – 0,087 x 0,046 – 0,067 mm, vỏ dày gồm 4 lớp, lớp ngoài cùng là màng protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng. Chu kỳ phát triển của giun đũa lợn Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs.
(1999) [7] cho biết: giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian, giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình mỗi giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1925). Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ 240C và độ ẩm thích hợp, sau 2 tuần trong trứng có phôi thai, 1 tuần sau thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh. Lợn nuốt phải trứng này 4 thì ấu trùng kỳ I nở ở ruột, chui vào mạch máu và niêm mạc, theo máu về gan. Một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, lột xác thành ấu trùng kỳ II.
Sau khi nhiễm 4 – 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào phổi. Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu rồi chui xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian ấu trùng di hành là 2 – 3 tuần. Trong khi di hành một ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não,… thời gian hoàn thành vòng đời cần 54 – 62 ngày.
Giun đũa sống bằng dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân. Tuổi thọ của giun đũa không quá 7 – 10 ngày. Nhưng nếu điều kiện sống bất lợi (như ký chủ sốt cao…) thì tuổi thọ giun ngắn hơn. Sơ đồ vòng đời của giun đũa ký sinh trong ruột lợn Giun Ascaris suum T0, ẩm độ, ánh sáng thích hợp (Ký sinh ở ruột non) Trứng Trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải Qua niêm mạc Hầu Phổi Gan Mạch máu Ấu trùng (ở ruột) 5 2.
Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa lợn Trứng giun đũa lợn có sức đề kháng cao với môi trường ngoại cảnh do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên trứng sống được từ 1 – 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hóa học (như focmol 2%, creolin 3%, H2SO4 10%, NaOH 2%. Ở nhiệt độ 45 –500C trứng chết trong nửa giờ, nước nóng 600C diệt trứng trong 5 phút, nước nóng 700C chỉ cần 10 giây trứng chết. Vì vậy, ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa. - Biến động nhiễm theo tuổi: Lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi từ 2 –7 tháng tuổi sau đó giảm dần.
- Đường truyền bệnh: bệnh truyền chủ yếu qua đường miệng. Lợn liếm dụng cụ, máng ăn, nền chuồng, đất ở bãi chăn có nhiễm trứng giun đũa nên trứng dễ xâm nhập vào đường tiêu hóa. Khi bón phân tươi cho ruộng trồng cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng ở đất và cây thức ăn. Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun ở đầu vú mẹ.
- Phân bố: bệnh lây nhiễm quanh năm ở các cơ sở chăn nuôi có điều kiện vệ sinh kém và môi trường bị ô nhiễm. Bệnh phân bố ở tất cả các vùng núi, trung du và đồng bằng. - Mối liên quan giữa giun đũa người (Ascaris lumbricoides) và giun đũa lợn (Ascaris suum): Trong nhiều năm gần đây, đã có nhiều tranh luận về hai loài này là khác hay cùng một loài. Người ta đã gây nhiễm nhân tạo, thấy giun đũa người có thể nhiễm cho lợn và trứng giun đũa lợn có thể nhiễm cho người.
Hiraishi (1928) và Boer (1935) đã gây nhiễm được trứng giun đũa người cho lợn khi lợn ăn thức ăn thiếu Vitamin A. Soulsby (1961) cũng gây nhiễm được trứng giun đũa người cho lợn con mới đẻ không được bú sữa đầu. Takate (1951) lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thì có 7 người bị nhiễm. Xét về mặt dịch tễ, ở một khu vực lợn bị nhiễm với tỷ lệ rất cao nhưng người nhiễm không cao, hoặc người nhiễm với tỷ lệ cao nhưng lợn nhiễm không cao chứng tỏ chúng khác loài và không có liên quan trực tiếp.
Tỷ lệ và cường độ nhiễm của bệnh giun đũa lợn Theo Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) [3], bệnh giun đũa lợn phân bố rộng rãi khắp mọi nơi, ở mọi vùng và mọi giống lợn. Lợn chăn nuôi theo hướng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với lợn chăn nuôi gia đình, tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn ở các vùng khác nhau như sau: Miền Bắc tỷ lệ nhiễm bệnh này dao động 13 – 14 % (Phạm Văn Khuê, Trịnh Văn Thịnh (1982) [5]) Năm 1978, Phạm Văn Khuê, Phan Lục điều tra 1055 lợn tại 67 tỉnh Nam Bộ cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 31,04%, trong đó lợn 3 tỉnh miền Đông nhiễm 40% cao hơn ở 3 tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long là 23%. Năm 1995, Lương Văn Huấn mổ khám 891 lợn thuộc 4 lứa tuổi và khảo sát 5044 lợn lớn thuộc 12 tỉnh thành phía Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn 53%.