Tình Hình Nhiễm Bệnh Giun Đũa Ở Lợn Tại Một Số Xã Thuộc Huyện Đại Từ Tỉnh Thái Nguyên

Chuyên khảo phân tích Luận văn tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện đại từ tỉnh thái nguyên và, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

56
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa của đề tài

1.4.1. Ý nghĩa khoa học

1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa lợn

2.3. Chu kỳ phát triển của giun đũa lợn

2.4. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa lợn

2.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm của bệnh giun đũa lợn

2.6. Cơ chế phát sinh bệnh của bệnh giun đũa lợn

2.7. Tác hại của bệnh giun đũa lợn

2.8. Triệu chứng, bệnh tích của lợn bị bệnh giun đũa

2.8.1. Triệu chứng

2.8.2. Bệnh tích

2.9. Chẩn đoán bệnh giun đũa lợn

2.10. Biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn

2.10.1. Phòng bệnh

2.10.2. Điều trị

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tình Hình Nhiễm Bệnh Giun Đũa Ở Lợn Hiện Nay

Bệnh giun đũa ở lợn là một vấn đề phổ biến, ảnh hưởng lớn đến năng suất chăn nuôi. Tình trạng nhiễm giun đũa gây ra nhiều tác hại, từ việc làm chậm lớn, giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng đến các biến chứng nguy hiểm như tắc ruột, viêm phổi. Việc nghiên cứu và kiểm soát bệnh giun đũa ở lợn là vô cùng quan trọng để đảm bảo sức khỏe vật nuôi và hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Đặc biệt, tại các vùng chăn nuôi nhỏ lẻ, công tác phòng bệnh còn nhiều hạn chế, dẫn đến tỷ lệ nhiễm bệnh cao. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999), lợn mắc giun đũa chủ yếu từ 2 – 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần. Ở lợn dưới hai tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp.

1.1. Đặc Điểm Hình Thái Và Chu Kỳ Phát Triển Của Giun Đũa

Giun đũa lợn (Ascaris suum) có màu trắng sữa, hình ống, hai đầu nhọn. Giun cái đẻ khoảng 200.000 trứng mỗi ngày. Trứng theo phân ra ngoài, phát triển thành phôi thai có khả năng gây bệnh trong điều kiện thích hợp. Lợn nuốt phải trứng, ấu trùng nở ra, di chuyển qua gan, phổi rồi trở lại ruột non để phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời khoảng 54-62 ngày. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999), giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian, giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình mỗi giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1925).

1.2. Tác Hại Của Bệnh Giun Đũa Đến Sức Khỏe Và Năng Suất Lợn

Bệnh giun đũa gây ra nhiều tác hại cho lợn. Ấu trùng di chuyển qua gan, phổi gây tổn thương, viêm nhiễm. Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non, lấy chất dinh dưỡng, gây viêm loét, tắc ruột. Lợn bị bệnh thường chậm lớn, còi cọc, giảm năng suất. Khi ấu trùng theo máu vào gan và dừng lại ở mạch máu gây lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây hoại tử tế bào gan. Khi ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển đến tế bào gây vỡ mạch máu, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi có thể kéo dai 5 – 14 ngày có khi làm con vật chết.

II. Thách Thức Trong Kiểm Soát Nhiễm Bệnh Giun Đũa Ở Lợn

Việc kiểm soát nhiễm giun đũa ở lợn gặp nhiều khó khăn do trứng giun có sức đề kháng cao, tồn tại lâu trong môi trường. Thói quen chăn nuôi thả rông, vệ sinh chuồng trại kém cũng tạo điều kiện cho bệnh lây lan. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc điều trị giun đũa không đúng cách có thể dẫn đến tình trạng kháng thuốc. Hiện nay mạng lưới thú y cơ sở ngày càng củng cố nhưng công tác khuyến nông tẩy giun sán cho lợn chưa được chú trọng do hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu tập trung đã gây khó khăn cho công tác của cán bộ thú y cơ sở, chính vì vậy mà tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa lợn khá cao.

2.1. Yếu Tố Nguy Cơ Gây Nhiễm Giun Đũa Ở Lợn Tại Đại Từ

Các yếu tố như điều kiện vệ sinh chuồng trại, phương thức chăn nuôi, mật độ nuôi, và việc quản lý chất thải ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ nhiễm giun đũa. Tại Đại Từ, Thái Nguyên, nhiều hộ chăn nuôi vẫn chưa chú trọng đến vệ sinh, dẫn đến nguy cơ lây nhiễm cao. Bệnh truyền chủ yếu qua đường miệng. Lợn liếm dụng cụ, máng ăn, nền chuồng, đất ở bãi chăn có nhiễm trứng giun đũa nên trứng dễ xâm nhập vào đường tiêu hóa. Khi bón phân tươi cho ruộng trồng cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng ở đất và cây thức ăn.

2.2. Khó Khăn Trong Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Giun Đũa

Việc chẩn đoán bệnh giun đũa ở giai đoạn sớm thường khó khăn do triệu chứng không rõ ràng. Việc sử dụng thuốc trị giun đũa cần tuân thủ đúng liều lượng và phác đồ để đảm bảo hiệu quả và tránh gây kháng thuốc. Khi lợn nhiễm ít giun, triệu chứng không rõ ràng. Bệnh giun đũa thường biểu hiện rõ ở những lợn nuôi thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin, nhiễm nhiều giun. Phạm Sỹ Lăng và cs. (2007) cho biết: bệnh giun đũa thường có triệu chứng rõ rệt và tác hại nhiều ở lợn 2 – 4 tháng tuổi.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tình Hình Nhiễm Giun Đũa Ở Lợn

Nghiên cứu về tình hình nhiễm giun đũa cần áp dụng các phương pháp khoa học để thu thập và phân tích dữ liệu chính xác. Các phương pháp bao gồm: điều tra dịch tễ học, xét nghiệm phân, mổ khám, và đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trị. Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Để hiểu rõ hơn và giải quyết vấn đề mà thực tế đề ra, đồng thời bước đầu đánh giá hiệu quả sử dụng của một số loại thuốc ký sinh trùng hiện nay. Được sự đồng ý của bộ môn Thú y – khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và áp dụng biện pháp phòng chống”.

3.1. Điều Tra Dịch Tễ Học Bệnh Giun Đũa Tại Huyện Đại Từ

Điều tra dịch tễ học giúp xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa theo địa phương, lứa tuổi, giống lợn, và phương thức chăn nuôi. Thông tin này rất quan trọng để xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh hiệu quả. Tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng có điều kiện cho việc phát triển chăn nuôi lợn, nhưng người chăn nuôi chưa quan tâm đến công tác phòng trị bệnh do giun sán gây ra, vì vậy đã gây thiệt hại lớn về kinh tế, dẫn đến người chăn nuôi không yên tâm phát triển rộng chăn nuôi.

3.2. Xét Nghiệm Phân Và Mổ Khám Để Xác Định Tỷ Lệ Nhiễm

Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi giúp phát hiện trứng giun đũa. Mổ khám lợn chết hoặc lợn loại thải giúp xác định số lượng giun trong ruột và các tổn thương do giun gây ra. + Đối với lợn trên 2 tháng tuổi: kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng, mổ khám để tìm trứng, mổ khám để tìm giun tròn ở ruột non. Có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên pha loãng với tỷ lệ 1/200 tiêm nội bì vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kết mạc mắt).

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tình Hình Nhiễm Giun Đũa Tại Đại Từ

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở lợn tại Đại Từ, Thái Nguyên còn khá cao, đặc biệt ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Các yếu tố như vệ sinh chuồng trại kém, phương thức chăn nuôi thả rông, và việc sử dụng thuốc trị giun không đúng cách góp phần làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh. Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin về tình hình nhiễm giun đũa lợn theo vùng sinh thái, độ tuổi, tính biệt, giống, các tháng trong năm, phương thức chăn nuôi và biện pháp phòng chống.

4.1. Tỷ Lệ Nhiễm Giun Đũa Theo Lứa Tuổi Và Giống Lợn

Lợn con và lợn choai có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao hơn so với lợn trưởng thành. Một số giống lợn địa phương có sức đề kháng kém hơn so với các giống lợn ngoại. - Biến động nhiễm theo tuổi: Lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi từ 2 –7 tháng tuổi sau đó giảm dần.

4.2. Ảnh Hưởng Của Phương Thức Chăn Nuôi Đến Tỷ Lệ Nhiễm

Lợn chăn nuôi thả rông có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao hơn so với lợn nuôi nhốt. Việc chăn nuôi theo quy trình VietGAP giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh. Lợn chăn nuôi theo hướng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với lợn chăn nuôi gia đình

V. Giải Pháp Phòng Và Điều Trị Bệnh Giun Đũa Hiệu Quả

Để phòng và điều trị giun đũa ở lợn hiệu quả, cần kết hợp nhiều biện pháp, bao gồm: cải thiện vệ sinh chuồng trại, tẩy giun định kỳ, sử dụng thuốc trị giun đúng cách, và nâng cao sức đề kháng cho lợn. Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun đũa lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra. Góp phần nâng cao năng suất ngành chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển, nâng cao sức khỏe con người.

5.1. Vệ Sinh Chuồng Trại Và Quản Lý Chất Thải Để Ngăn Ngừa

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, khô ráo giúp giảm thiểu số lượng trứng giun trong môi trường. Quản lý chất thải đúng cách, ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học giúp tiêu diệt trứng giun. +Vệ sinh chuồng, dụng cụ thiết bị sạch sẽ, không sử dụng chung các dụng cụ chăn nuôi khi chưa được khử trùng. Cơ sở chăn nuôi phải xây dựng nơi cao ráo, có nhiều ánh nắng mặt trời. Chuồng trại vào các tháng mưa phùn và lạnh phải khô, thoáng nhưng lại ấm cho lợn con.

5.2. Sử Dụng Thuốc Trị Giun Đúng Cách Và An Toàn

Sử dụng thuốc trị giun theo hướng dẫn của thú y, tuân thủ đúng liều lượng và thời gian ngừng thuốc. Lựa chọn các loại thuốc có hiệu quả cao và an toàn cho lợn. Cho lợn nhịn ăn 12 giờ, trộn thuốc với một số loại thức ăn ngon, sau khi uống thuốc cho lợn nhịn ăn 8 giờ nữa. Không cho lợn ăn quá 8g thuốc vì dễ trúng độc (chảy nước bọt, run rẩy). Hiệu quả đạt 70 – 80 %.

VI. Kết Luận Và Hướng Nghiên Cứu Về Bệnh Giun Đũa Ở Lợn

Nghiên cứu về tình hình nhiễm giun đũa ở lợn tại Đại Từ, Thái Nguyên cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng các biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả. Cần tiếp tục nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Từ đó, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn. Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun đũa lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu Và Đề Xuất Giải Pháp

Nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ nhiễm giun đũa và các yếu tố nguy cơ tại Đại Từ. Đề xuất các giải pháp phòng chống bệnh dựa trên kết quả nghiên cứu. Cần tiếp tục nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Phòng Trị Giun Đũa

Nghiên cứu về các biện pháp phòng bệnh sinh học, sử dụng các loại thảo dược có tác dụng trị giun. Nghiên cứu về tình hình kháng thuốc của giun đũa và các biện pháp kiểm soát. Cần tiếp tục nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/06/2025
Luận văn tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện đại từ tỉnh thái nguyên và áp dụng biện pháp phòng chống

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Đất nước trong thời kỳ hội nhập đòi hỏi các chủ thể kinh tế, các ngành, cá thành phần kinh tế không ngừng phát triển để tạo chỗ đứng của mình trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Trong xu thế chung đó đòi hỏi ngành chăn nuôi không ngừng học hỏi, trao dồi kinh nghiệm để tạo sản phẩm có chất lượng cao cung cấp cho người dùng trong nước và quốc tế. Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Chăn nuôi Việt Nam nói riêng những mặt thuận lợi đồng thời cũng gặp không ít khó khăn. Việt Nam đang trên đà phát triển nhưng với đặc thù là một nước đi lên từ sản xuất nông nghiệp, với hơn 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, vói nhiều ngành nghề khác nhau.

Trong đó đã và đang nâng dần tỷ trọng của mình trong nông nghiệp. Ngành chăn nuôi đã cung cấp những sản phẩm cho người tiêu dùng như: thịt, trứng, sữa,. Ngoài ra nó còn là nguyên liệu để sản xuất phân bón, thức ăn gia súc và các sản phẩm khác. Lợn là loài được nuôi nhiều nhất ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

Nó được nuôi với nhiều hình thức khác nhau (nuôi gia đình, nuôi tập trung), tuy nhiên trong thực tế nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn, làm thế nào để đàn lợn khỏi bị bệnh, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun đũa lợn nói riêng? Hiện nay mạng lưới thú y cơ sở ngày càng củng cố nhưng công tác khuyến nông tẩy giun sán cho lợn chưa được chú trọng do hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu tập trung đã gây khó khăn cho công tác của cán bộ thú y cơ sở, chính vì vậy mà tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa lợn khá cao. 2 Tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng có điều kiện cho việc phát triển chăn nuôi lợn, nhưng người chăn nuôi chưa quan tâm đến công tác phòng trị bệnh do giun sán gây ra, vì vậy đã gây thiệt hại lớn về kinh tế, dẫn đến người chăn nuôi không yên tâm phát triển rộng chăn nuôi. Từ nhận thức trên, để hiểu rõ hơn và giải quyết vấn đề mà thực tế đề ra, đồng thời bước đầu đánh giá hiệu quả sử dụng của một số loại thuốc ký sinh trùng hiện nay. Được sự đồng ý của bộ môn Thú y – khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và áp dụng biện pháp phòng chống”.

Mục đích nghiên cứu - Cung cấp thông tin mới về bệnh giun đũa lợn. - Đề xuất các phương pháp phòng và trị bệnh giun đũa lợn hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu Nắm được tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, từ đó đưa ra biện pháp phòng trị bệnh đạt hiệu quả. Ý nghĩa của đề tài 1.

Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin về tình hình nhiễm giun đũa lợn theo vùng sinh thái, độ tuổi, tính biệt, giống, các tháng trong năm, phương thức chăn nuôi và biện pháp phòng chống. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun đũa lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra. Góp phần nâng cao năng suất ngành chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển, nâng cao sức khỏe con người. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.

Cơ sở khoa học Bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hóa là những bệnh ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ ràng. Đó cũng là nguồn gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài và lây lan sang con khác, làm cho bệnh càng có điều kiện phát sinh mạnh, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của vật nuôi. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa lợn Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7] thì bệnh giun đũa lợn là một bệnh phổ biến ở nước ta lợn mắc giun đũa chủ yếu từ 2 – 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần.

Ở lợn dưới hai tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp. Bệnh do loài giun Ascaris suum gây nên, giun ký sinh ở ruột non của lợn nhà và lợn rừng. Giun đũa lợn màu trắng sữa, hình ống hai đầu hơi nhọn. Đầu có 3 môi bao quanh miệng (1 môi ở phía lưng, 2 môi ở phía bụng), trên rìa môi có một hàm răng cửa rất rõ.

Giun đực dài 12 – 22 cm, đường kính 2,7 – 3 mm, đuôi cong về phía bụng, có 2 gai giao hợp bằng nhau (1,2 – 2 mm), không có túi giao hợp. Giun cái dài 29 – 35 cm, đường kính 4 – 5 mm, đuôi thẳng. Trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước 0,056 – 0,087 x 0,046 – 0,067 mm, vỏ dày gồm 4 lớp, lớp ngoài cùng là màng protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng. Chu kỳ phát triển của giun đũa lợn Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs.

(1999) [7] cho biết: giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian, giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình mỗi giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1925). Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ 240C và độ ẩm thích hợp, sau 2 tuần trong trứng có phôi thai, 1 tuần sau thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh. Lợn nuốt phải trứng này 4 thì ấu trùng kỳ I nở ở ruột, chui vào mạch máu và niêm mạc, theo máu về gan. Một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, lột xác thành ấu trùng kỳ II.

Sau khi nhiễm 4 – 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào phổi. Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu rồi chui xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian ấu trùng di hành là 2 – 3 tuần. Trong khi di hành một ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não,… thời gian hoàn thành vòng đời cần 54 – 62 ngày.

Giun đũa sống bằng dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân. Tuổi thọ của giun đũa không quá 7 – 10 ngày. Nhưng nếu điều kiện sống bất lợi (như ký chủ sốt cao…) thì tuổi thọ giun ngắn hơn. Sơ đồ vòng đời của giun đũa ký sinh trong ruột lợn Giun Ascaris suum T0, ẩm độ, ánh sáng thích hợp (Ký sinh ở ruột non) Trứng Trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải Qua niêm mạc Hầu Phổi Gan Mạch máu Ấu trùng (ở ruột) 5 2.

Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa lợn Trứng giun đũa lợn có sức đề kháng cao với môi trường ngoại cảnh do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên trứng sống được từ 1 – 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hóa học (như focmol 2%, creolin 3%, H2SO4 10%, NaOH 2%. Ở nhiệt độ 45 –500C trứng chết trong nửa giờ, nước nóng 600C diệt trứng trong 5 phút, nước nóng 700C chỉ cần 10 giây trứng chết. Vì vậy, ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa. - Biến động nhiễm theo tuổi: Lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi từ 2 –7 tháng tuổi sau đó giảm dần.

- Đường truyền bệnh: bệnh truyền chủ yếu qua đường miệng. Lợn liếm dụng cụ, máng ăn, nền chuồng, đất ở bãi chăn có nhiễm trứng giun đũa nên trứng dễ xâm nhập vào đường tiêu hóa. Khi bón phân tươi cho ruộng trồng cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng ở đất và cây thức ăn. Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun ở đầu vú mẹ.

- Phân bố: bệnh lây nhiễm quanh năm ở các cơ sở chăn nuôi có điều kiện vệ sinh kém và môi trường bị ô nhiễm. Bệnh phân bố ở tất cả các vùng núi, trung du và đồng bằng. - Mối liên quan giữa giun đũa người (Ascaris lumbricoides) và giun đũa lợn (Ascaris suum): Trong nhiều năm gần đây, đã có nhiều tranh luận về hai loài này là khác hay cùng một loài. Người ta đã gây nhiễm nhân tạo, thấy giun đũa người có thể nhiễm cho lợn và trứng giun đũa lợn có thể nhiễm cho người.

Hiraishi (1928) và Boer (1935) đã gây nhiễm được trứng giun đũa người cho lợn khi lợn ăn thức ăn thiếu Vitamin A. Soulsby (1961) cũng gây nhiễm được trứng giun đũa người cho lợn con mới đẻ không được bú sữa đầu. Takate (1951) lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thì có 7 người bị nhiễm. Xét về mặt dịch tễ, ở một khu vực lợn bị nhiễm với tỷ lệ rất cao nhưng người nhiễm không cao, hoặc người nhiễm với tỷ lệ cao nhưng lợn nhiễm không cao chứng tỏ chúng khác loài và không có liên quan trực tiếp.

Tỷ lệ và cường độ nhiễm của bệnh giun đũa lợn Theo Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) [3], bệnh giun đũa lợn phân bố rộng rãi khắp mọi nơi, ở mọi vùng và mọi giống lợn. Lợn chăn nuôi theo hướng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với lợn chăn nuôi gia đình, tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn ở các vùng khác nhau như sau: Miền Bắc tỷ lệ nhiễm bệnh này dao động 13 – 14 % (Phạm Văn Khuê, Trịnh Văn Thịnh (1982) [5]) Năm 1978, Phạm Văn Khuê, Phan Lục điều tra 1055 lợn tại 67 tỉnh Nam Bộ cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 31,04%, trong đó lợn 3 tỉnh miền Đông nhiễm 40% cao hơn ở 3 tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long là 23%. Năm 1995, Lương Văn Huấn mổ khám 891 lợn thuộc 4 lứa tuổi và khảo sát 5044 lợn lớn thuộc 12 tỉnh thành phía Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn 53%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tình Hình Nhiễm Bệnh Giun Đũa Ở Lợn Tại Huyện Đại Từ, Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại khu vực này. Nghiên cứu không chỉ chỉ ra tỷ lệ nhiễm bệnh mà còn phân tích nguyên nhân và tác động của bệnh đến sức khỏe lợn, từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Điều này rất hữu ích cho các nhà chăn nuôi và các chuyên gia trong lĩnh vực thú y, giúp họ nâng cao nhận thức và cải thiện quy trình chăm sóc lợn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe lợn, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng, nơi cung cấp thông tin về bệnh phân trắng ở lợn con và các biện pháp phòng trị. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hiệu quả của các loại thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về tình hình nhiễm bệnh tiêu chảy ở lợn con qua tài liệu Luận văn thạc sĩ theo dõi tình hình nhiễm bệnh tiêu chảy. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các bệnh lý thường gặp ở lợn và cách quản lý chúng hiệu quả.