Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DOI NGHEO VÀ DÂN TỘC THIẾU SO 1. Tống quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tài liệu nước ngoài Nhằm cung cấp thông tin tốt hơn cho các chính sách giảm nghèo ở nông thôn, Aikaeli J. (2010) đã tiễn hành phân tích kinh tế lượng dữ liệu từ Điều tra Khí hậu Dau tư Nông thôn Tanzania năm 2005 dé đánh giá ảnh hưởng của các yếu tô địa lý và kinh tế - xã hội được lựa chọn đối với thu nhập của các hộ gia đình và cộng đồng nông thôn.
Nghiên cứu sử dụng mô hình tuyến tính với các yếu tố được ước tính bằng cách áp dụng kỹ thuật bình phương nhỏ nhất tổng quát. Phân tích cho thấy có bốn biến ảnh hưởng tích cực đáng kê đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn: trình độ học van của chủ hộ, quy mô lực lượng lao động hộ gia đình, diện tích sử dụng đất và quyền sở hữu của một doanh nghiệp phi nông nghiệp nông thôn. Nghiên cứu cũng cho thấy thu nhập ở các hộ do nữ làm chủ hộ thấp hơn so với các hộ do nam làm chủ hộ. Ở cấp độ cộng đồng, việc sử dụng nhiều hơn viễn thông, giúp tăng khả năng tiếp cận thông tin thị trường và cải thiện cơ sở hạ tang đường bộ có ảnh hưởng tích cực đáng ké đến thu nhập nông thôn.
Đối với các yếu tố khí hậu, phần lớn năm ngoài tầm kiểm soát của cộng đồng, lượng mưa đủ đã nâng cao thu nhập ở nông thôn, trong khi tỷ lệ hạn hán và lũ lụt làm giảm việc tạo thu nhập. (2013) phân tích ảnh hưởng của tình trạng việc làm, thành phần gia đình, trình độ học vẫn của cha mẹ, tình trạng di cư và khu vực dân cư của gia đình đến nghèo đói. Tac giả sử dụng công cụ Survey Monkey Online dé thu thập dir liệu có cấu trúc từ 39 người tham gia khảo sát. Dữ liệu thu được được tác giả xử lý và phân tích nhờ phần mềm SPSS với phương pháp hồi quy tuyến tính.
Kết quả chỉ ra việc giảm nghèo bị ảnh hưởng bởi tình trạng việc làm, trình độ học vấn của người được hỏi, tình trạng di cư và khu vực cư trú. Kêt quả nghiên cứu cho thây sự trái ngược với những nghiên cứu trước: Trong nghiên cứu của mình, tác giả nhận thấy trình độ học vấn của cha mẹ, thành phần gia đình không có ý nghĩa thống kê, do đó cha mẹ dường như không phải là những yếu tố quan trọng trong việc cải thiện mức độ nghèo đói. McMurry và cộng sự (2014) xem xét mối quan hệ giữa toàn cầu hóa, bất bình đăng và tăng trưởng và các yếu tố này tương quan với giảm nghèo như thế nào bằng cách sử dụng dữ liệu Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Minh bạch Quốc tế và ấn bản CIA World Factbook. Phân tích này cũng bao gồm một nghiên cứu điển hình quốc gia so sánh Ấn Độ và Sri Lanka, bắt đầu với sự giải phóng của họ khỏi Đế quốc Anh vào cuối những năm 1940 cho đến ngày nay.
Nó bao gồm cả chính sách lịch sử và hiện tại, cách nó đã hỗ trợ trong việc giảm nghèo và cách cả hai quốc gia đang tiến tới chống lại đói nghèo trong tương lai. (2016) đã chỉ ra bốn yếu tố làm tăng thu nhập của người nghèo tại Trung Quốc. Thứ nhất, nhờ vào công nghiệp hóa và đô thị hóa ở mức độ nhanh tại đất nước hơn một tỷ dân đã biến một lượng lớn lao động thặng dư trong ngành nông nghiệp ở nông thôn thành lao động thành thị. Thứ hai, sự phân bổ đất canh tác ở nông thôn Trung Quốc khá đồng đều với các hộ gia đình ở nhóm dưới cùng sở hữu khoảng 90% diện tích đất do nhóm nhóm trên sở hữu, cao hơn nhiều so với thu nhập và tiêu dùng bình quân đầu người.
Việc phân bồ dat đai tương đối bình đăng cho phép người nghèo cùng hưởng lợi một phần không chỉ từ phát triển và cải cách nông nghiệp mà còn từ các khoản chuyền nhượng mà nhà nước cung cấp dé hỗ trợ phát triển nông nghiệp. Thứ ba, các chương trình phát triển xã hội toàn dân đã đóng góp vào tăng trưởng thu nhập của các hộ gia đình dưới đáy. Với các chương trình này, các hộ gia đình có thu nhập thấp được đảm bảo một phan lợi ích lớn hơn phan của họ trong các nguồn thu nhập khác, giúp người nghẻo tăng thu nhập khả dụng ở mức cao hơn so với thu nhập sản xuất của họ. Cuối cùng, các chương trình mục tiêu giảm nghèo được thực hiện trên phạm vi toàn quốc kê từ năm 1986 đóng một vai trò quan trọng.
và cộng sự (2017) đã nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi "Những yếu tố xã hội và kinh tế nào tương quan với tỷ lệ nghèo thấp?” thông qua phân tích nghiên cứu định lượng và định tính với bộ dữ liệu thuộc 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Nhóm tác giả phát hiện ra nghèo đói có tương quan với bảy biến số kinh tế và xã hội bao gồm giáo dục, tình trạng hôn nhân, giới tính chủ hộ, tội phạm, phúc lợi, tình trạng thất nghiệp và mức lương tối thiểu. Trong đó, mối tương quan mạnh nhất tồn tại giữa các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ và tỷ lệ đói nghẻo, và giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ nghèo. Nhóm tác giả cho rằng mối tương quan trên đồng nghĩa với mức lương tối thiểu và chi tiêu của chính phủ cho phúc lợi không ảnh hưởng tới tỷ lệ đói nghèo.
và cộng sự (2017) đã nghiên cứu nhằm tim ra ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của giáo dục, y tế, đầu tư của chính phủ và đầu tư tư nhân đối với năng suất cũng như mức độ nghèo đói ở Nam Sumatera. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của năm 2004-2005 do Cục Thống kê Trung ương (BPS), Tổng cục Cân đối tài khóa (DJPK) và các tô chức khác công bố. Bài nghiên cứu sử dung phân tích đường dẫn. Kết quả của nghiên cứu cho thấy giáo dục, y tế và đầu tư của chính phủ không ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất ở Nam Sumatra, trong khi đầu tư tư nhân ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến năng suất ở Nam Sumatra; giáo dục, đầu tư của chính phủ, và đầu tư tư nhân không anh hưởng trực tiếp đến mức nghèo ở Nam Sumatra.
Sức khỏe và năng suất ảnh hưởng trực tiếp và đáng kê nhưng lại ảnh hưởng tiêu cực đến mức nghèo ở Nam Sumatra; giáo dục, y tế và đầu tư của chính phủ gián tiếp không ảnh hưởng đến mức nghèo thông qua năng suất 6 Nam Sumatra. Đầu tư tư nhân gián tiếp có ảnh hưởng tiêu cực và đáng kê đến mức độ nghèo thông qua năng suất ở Nam Sumatera. Trong nghiên cứu về giảm nghèo của mình, Khurshed A. (2017) cho rằng thay vì tập trung vào các rào can đối với giảm nghèo, một quốc gia cần xác định và tập trung vào các yếu tô tiềm năng của việc giảm nghèo.
Đối với Bangladesh phát triển nông nghiệp là yếu tổ quan trọng nhất cụ thé: Sử dụng đất đai và lao động có thé mang lại sự chuyên đổi trong nền kinh tế nông thôn. Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy rằng các cá nhân có thé thoát nghèo phần lớn là nhờ vào nỗ lực của bản thân khi có sự hỗ trợ chính sách thích hợp của chính phủ. Nhà nước nên đóng vai trò trong tạo điều kiện hơn là một công cụ trong xóa đói giảm nghèo. Nghiên cứu cho thấy một phương pháp giảm nghèo mà chiến lược cụ thé của quốc gia hoặc mô hình trồng trọt tại gia có thé được đưa ra dựa trên việc xác định các yêu tô tiêm năng.
I Anuradha và cộng sự (2017) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm dé xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện thành công chính sách giảm nghèo tại Sri Lanka. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng được với dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 71 cán bộ gắn với quá trình thực hiện ở cấp quốc gia, cấp huyện, cấp phòng. Một bảng câu hỏi có cấu trúc được sử dụng với các cuộc phỏng van dé thu thập dữ liệu, kiểm tra độ tin cậy và phân tích nhân tố đã được thực hiện dé dam bao tinh hợp lệ và độ tin cậy của dit liệu. Từ đó, nhóm tac gia sử dụng phân tích tương quan và hồi quy dé xác định các yếu tố.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rang khả năng, bồ trí, số lượng người tham gia vào quá trình thực hiện, kinh nghiệm của các cán bộ thực hiện ảnh hưởng đáng ké đến thành công thực hiện chính sách. Dựa trên những phát hiện, các biện pháp chính sách được đề xuất cho cải thiện việc thực hiện chính sách. Tổng quan tài liệu trong nước AusAID (2004) đã thực hiện một dự án nhằm phân tích hiện trạng đói nghèo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Dự án thực hiện theo quá trình gồm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu phát triển hồ sơ về hiện trạng nghèo cho 12 tỉnh ĐBSCL.
Giai đoạn 2 xác định 17 chủ đề chính từ giai đoạn 1 có ảnh hưởng đến hiện trạng nghèo đói của người dân vùng ĐBSCL. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính với số liệu thứ cấp VHLSS và dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy: người dân vùng ĐBSCL dé rơi vào cảnh nghèo đói nếu không có đất hoặc có ít đât canh tác; sông trong vùng nông thôn; lệ thuộc vào công việc không ôn định; hoặc thuộc nhóm dân tộc Khmer và là nữ. Dự án cho rằng: Các chương trình xóa đói giảm nghèo cần được thiết kế riêng đặc biệt cho phù hợp với tình hình đặc trưng của vùng và phù hợp với nhu câu của các nhóm yêu thê về kinh tê và xã hội.
Đào Công Thiên (2008) đã nghiên cứu này nhằm tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới tình hình nghèo đói của các hộ ngư dân ven đầm Nha Phu, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa bằng mô hình hồi quy đa biến và hồi quy phi tuyến Binary Logistic với 1780 mẫu thu thập qua khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy những nguyên nhân ảnh hưởng tới đói nghèo ở khu vực này bao gồm việc làm, đất đai, vốn, quy mô hộ và vấn đề giới tính trong đó quan trọng nhất là tình trạng việc làm. Trong đó quan trọng nhất là tình trạng việc làm. Chính loại hình công việc của một người quyết định mức sống của người đó, thậm chí cả gia đình người đó.
Ở nông thôn, đất đai trở nên van đề sống còn đối với các hộ gia đình.