Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae (C. cellulosae) của sán dây Taenia solium (T. solium) là một bệnh truyền lây nguy hiểm giữa động vật và người. Tại Việt Nam, ấu trùng C. cellulosae lưu hành ở nhiều tỉnh thành, đặc biệt là khu vực miền núi phía Bắc với tỷ lệ nhiễm trung bình từ 1,0% đến 7,2%, và khu vực phía Nam khoảng 4,3%. Khi lợn mắc bệnh, ấu trùng cư trú tại các bó cơ và cơ quan nội tạng làm lợn còi cọc, chậm lớn, suy nhược; trường hợp ký sinh ở não gây co giật, mất thăng bằng hoặc ký sinh ở lưỡi gây liệt lưỡi và hàm. Đối với con người, T. solium trưởng thành ký sinh tại ruột non, còn ấu trùng C. cellulosae có thể xâm nhập vào mắt, cơ, tim và hệ thần kinh trung ương gây hội chứng ấu trùng sán lợn não (neurocysticercosis) với các triệu chứng đau đầu dữ dội, co giật, suy giảm thị lực, tê liệt và có thể dẫn đến tử vong.

Tỉnh Bắc Ninh là địa phương có ngành chăn nuôi lợn phát triển thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. Tính đến tháng 10 năm 2018, tổng đàn lợn toàn tỉnh đạt 315.000 con; trong đó huyện Yên Phong có 36.136 con và huyện Thuận Thành có 85.000 con. Dù công tác phòng chống các bệnh truyền nhiễm (dịch tả lợn, tụ huyết trùng, tai xanh) đã được thực hiện tương đối đồng bộ, việc giám sát bệnh ký sinh trùng truyền lây như bệnh gạo lợn vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Vào tháng 3 năm 2019, sự việc 209 người dân tại huyện Thuận Thành (phần lớn là trẻ em) được xác định dương tính với sán dây lợn tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương đã gây ra tâm lý lo lắng trong xã hội, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đánh giá thực trạng lưu hành mầm bệnh trên đàn lợn và trong cộng đồng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác lập cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Xác định tình hình mắc bệnh gạo ở lợn giết mổ tại các xã thuộc huyện Yên Phong và huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định được tình hình mắc bệnh gạo ở lợn giết mổ trên địa bàn nghiên cứu.
    • Xác định được tình hình mắc bệnh sán dây Taenia solium ở người tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nuôi nông hộ, lợn đưa vào giết mổ tại các cơ sở nhỏ lẻ và người dân sinh sống tại các xã thuộc huyện Yên Phong và huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi không gian: Điều tra nông hộ tại 3 xã thuộc huyện Yên Phong (Đông Tiến, Thụy Hòa, Yên Trung) và 4 xã thuộc huyện Thuận Thành (An Bình, Hoài Thượng, Nghĩa Đạo, Mão Điền); kiểm tra lợn giết mổ tại 2 xã của huyện Yên Phong (Yên Trung, Đông Tiến) và 6 xã/thị trấn của huyện Thuận Thành (An Bình, Hoài Thượng, Ninh Xá, Nghĩa Đạo, Mão Điền, Thị trấn Hồ). Xét nghiệm mẫu tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 25/11/2019 đến ngày 28/5/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống phân loại động vật học của Taenia solium: Ngành Plathelminthes, Lớp Cestoda, Phân lớp Cestoda, Bộ Cyclophyllidae, Phân bộ Taeniata, Họ Taeniidae, Giống Taenia, Loài Taenia solium. Sán dây trưởng thành có chiều dài từ 2 đến 7 m (có trường hợp đến 9 m), đầu mang 4 giác bám và 2 hàng móc gồm 22 - 32 móc, thân gồm hàng trăm đến hàng nghìn đốt, các đốt già chứa tử cung phân nhánh (7 - 12 nhánh) mang tới 55.000 trứng. Ấu trùng Cysticercus cellulosae có dạng bọc chứa dịch trong suốt kích thước 5 - 10 mm, mang đầu sán non với 4 giác bám và 2 hàng móc (14 - 16 móc mỗi hàng). Chu kỳ sinh học thể hiện người vừa là vật chủ cuối cùng duy nhất (khi ăn thịt lợn chứa ấu trùng sống), vừa có thể là vật chủ trung gian (khi nuốt phải trứng sán dây hoặc do hiện tượng tự nhiễm khi đốt sán trào ngược dạ dày).

Căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn kiểm soát thú y được tác giả sử dụng là Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về Quy trình kiểm soát giết mổ động vật. Quy chuẩn quy định mật độ tổn thương: nếu trên 40 cm² mặt cắt cơ có từ 1 đến 6 ấu trùng thì thân thịt, thực quản, tim phải luộc chín trước khi sử dụng; nếu vượt quá 6 ấu trùng trên 40 cm² mặt cắt thì bắt buộc phải tiêu hủy toàn bộ thân thịt.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xét nghiệm trong phòng thí nghiệm gồm có:

  • Phương pháp điều tra dịch tễ học: Sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp tại 168 hộ chăn nuôi (68 hộ tại Yên Phong, 100 hộ tại Thuận Thành) nhằm thu thập thông tin về phương thức nuôi, chủng loại thức ăn, giống lợn, hình thức giết mổ và các tập quán vệ sinh sinh hoạt (loại nhà vệ sinh, thói quen ăn thịt tái/sống, ăn rau sống, tiền sử tẩy và xét nghiệm sán dây).
  • Phương pháp kiểm tra kiểm soát lợn giết mổ: Kiểm tra ngẫu nhiên 600 con lợn giết mổ (225 con tại Yên Phong, 375 con tại Thuận Thành) trong các tháng 12/2019 và từ tháng 1 đến tháng 5/2020. Tiến hành rạch và khám xét đại thể các bó cơ vận động nhiều và cơ quan đích: cơ hoành, cơ lưỡi, cơ tim, cơ đùi, cơ hàm, niêm mạc mắt, miệng và não bộ; tính toán cường độ nhiễm theo số lượng nang ấu trùng trên 40 cm² lát cắt.
  • Phương pháp thu thập và xét nghiệm phân người: Lấy mẫu phân ngẫu nhiên từ 202 người dân (102 mẫu tại Yên Phong, 100 mẫu tại Thuận Thành) thuộc 4 nhóm tuổi (<15, 15 - 30, 31 - 50, >50 tuổi). Mẫu phân được giữ ở nhiệt độ phòng trong 1 tuần để đốt sán phân hủy giải phóng trứng, sau đó hòa với dung dịch NaCl 0,9% trên lam kính và soi tươi trực tiếp dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 100 lần (10x10) tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh để phát hiện trứng sán hình cầu đường kính khoảng 35 µm mang vỏ dày có khía ngang hướng tâm và phôi 6 móc.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả và tính toán các tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc tính lây truyền zoonosis nguy hiểm của sán dây lợn và ấu trùng sán lợn đối với sức khỏe con người, đặc biệt là nguy cơ tổn thương hệ thần kinh. Chương này làm rõ bối cảnh dịch tễ học tại huyện Thuận Thành sau sự việc phát hiện 209 ca dương tính vào tháng 3/2019, từ đó thiết lập 2 mục tiêu cụ thể, xác định ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dẫn liệu ký sinh trùng học và ý nghĩa thực tiễn nhằm hướng dẫn các biện pháp can thiệp vệ sinh thú y tại tỉnh Bắc Ninh.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp toàn diện các cơ sở lý luận và y văn chuyên ngành:

  • Vị trí phân loại, cấu tạo hình thái giải phẫu của sán dây trưởng thành T. solium và nang ấu trùng C. cellulosae.
  • Chu kỳ sinh học, cơ chế xâm nhập, đường di hành qua hệ tuần hoàn và cơ chế hình thành nang kén tại các tổ chức cơ vân, hệ thần kinh.
  • Bệnh lý lâm sàng, bệnh tích đặc trưng (phản ứng u hạt, xơ hóa, hoại tử tổ chức quanh kén) và các phương pháp chẩn đoán lâm sàng, kiểm tra giết mổ, phản ứng nội bì, xét nghiệm huyết thanh học ELISA, chọc hút kim nhỏ FNAC.
  • Biện pháp phòng chống và phác đồ điều trị: diệt nang ấu trùng trong thịt bằng nhiệt độ (luộc miếng 1 - 2 kg dày 5 - 6 cm từ 45 - 60 phút, nướng trên 65°C, đông lạnh -10°C đến -15°C trong 10 - 15 ngày, ướp muối đặc 3 tuần); thuốc tẩy sán cho người (Praziquantel liều duy nhất 15 - 20 mg/kg thể trọng, Niclosamide 2 g/người lớn); thuốc điều trị lợn gạo (Albendazol 30 mg/kg thể trọng hoặc Oxfendazol 30 mg/kg thể trọng dùng liên tục 3 ngày).
  • Khái quát tình hình nghiên cứu quốc tế (châu Phi, Mỹ La Tinh, châu Á) và các nghiên cứu trong nước của các tác giả Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Đỗ Dương Thái, Nguyễn Văn Đề, Đỗ Thị Lan Phương, Lê Ngọc Mỹ.
  • Giới thiệu điều kiện tự nhiên, khí hậu thủy văn sông Hồng, đặc điểm kinh tế - xã hội, hệ thống y tế, cơ sở giáo dục, quy mô đàn lợn và thực trạng giết mổ thủ công tại huyện Yên Phong và huyện Thuận Thành.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết về quy mô mẫu, danh mục hóa chất dụng cụ thí nghiệm (bộ đồ mổ gia súc, kính hiển vi quang học, lam kính, dung dịch NaCl 0,9%, phích lạnh bảo quản mẫu), địa điểm thực hiện tại nông hộ, cơ sở giết mổ tư nhân và phòng xét nghiệm chuyên môn. Trình bày chi tiết từng bước kỹ thuật từ khâu thiết kế phiếu phỏng vấn nông hộ, quy trình rạch kiểm tra thân thịt lợn theo Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT đến quy trình ủ phân và kỹ thuật soi tươi mẫu phân tìm trứng sán dây tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này tập trung công bố và thảo luận các nhóm số liệu thực nghiệm thu được:

  • Thực trạng chăn nuôi nông hộ: Toàn bộ 168 hộ điều tra (100%) tại Yên Phong và Thuận Thành áp dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn với tổng số 3.057 con lợn; không ghi nhận hộ nào nuôi thả rông hay bán chăn thả. Cơ cấu thức ăn gồm 56 hộ (33,33%) nuôi hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp (1.393 con lợn, chiếm 45,57%); 63 hộ (37,50%) sử dụng thức ăn tận dụng phế phụ phẩm nấu rượu, làm bún, bã đậu (715 con, chiếm 23,39%); và 49 hộ (29,17%) phối hợp cả hai loại thức ăn (949 con, chiếm 31,04%). 100% hộ dân nuôi giống lợn lai thương phẩm và 100% xuất bán lợn cho các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ.
  • Tập quán sinh hoạt và vệ sinh của người dân: 100% hộ gia đình (168/168 hộ) sở hữu và sử dụng nhà vệ sinh tự hoại kiên cố, không còn nhà vệ sinh một ngăn hay tạm bợ. 100% hộ dân khẳng định không ăn thịt lợn sống hoặc thịt tái. Tuy nhiên, 100% hộ dân (168/168 hộ) duy trì thói quen thường xuyên ăn các loại rau sống (xà lách, rau diếp, rau mùi). Đáng chú ý, 100% số hộ được hỏi chưa từng chủ động đến cơ sở y tế xét nghiệm sán dây và không thực hiện tẩy sán dây định kỳ hàng năm.
  • Tình hình kiểm tra lợn giết mổ: Khám nghiệm 600 con lợn giết mổ tại 8 xã/thị trấn. Tỷ lệ lợn kiểm tra phân bố cao nhất tại xã Yên Trung với 175 con (29,17%) do tập trung 4 cơ sở giết mổ; xã An Bình và thị trấn Hồ mỗi nơi kiểm tra 100 con (16,67%); các xã Đông Tiến, Hoài Thượng, Ninh Xá, Mão Điền mỗi nơi kiểm tra 50 con (8,33%); thấp nhất tại xã Nghĩa Đạo với 25 con (4,17%) do chỉ có 1 điểm giết mổ nhỏ lẻ.
  • Cơ cấu lợn giết mổ theo lứa tuổi: Không có lợn giết mổ dưới 2 tháng tuổi và trên 12 tháng tuổi. Lợn giết mổ tập trung ở nhóm tuổi từ trên 2 đến 6 tháng tuổi (293 con, chiếm 48,83%, thực tế tập trung từ 4,5 đến 6 tháng tuổi) và nhóm tuổi từ trên 6 đến 12 tháng tuổi (307 con, chiếm 51,17%, thực tế tập trung từ 6,5 đến 7 tháng tuổi).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp toàn bộ các phát hiện về thực trạng chuỗi chăn nuôi khép kín, tập quán vệ sinh và các chỉ số dịch tễ học thực địa. Đề xuất các nhóm giải pháp liên ngành thú y - y tế trong việc siết chặt kiểm soát giết mổ nhỏ lẻ, tuyên truyền vệ sinh ăn uống (rửa sạch rau sống, ăn chín uống sôi) và nâng cao ý thức phòng chống bệnh ký sinh trùng truyền lây trong nhân dân.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực tế về chuỗi chăn nuôi, giết mổ và vệ sinh dịch tễ tại hai huyện trọng điểm chăn nuôi của tỉnh Bắc Ninh thông qua các bảng thống kê chi tiết.

Chỉ tiêu điều tra chăn nuôi Số hộ (n=168) Tỷ lệ hộ (%) Số lợn (n=3.057) Tỷ lệ lợn (%)
Phương thức nuôi:
- Nuôi nhốt hoàn toàn 168 100,00 3.057 100,00
- Thả rông / Bán chăn thả 0 0,00 0 0,00
Loại thức ăn sử dụng:
- Chỉ dùng thức ăn tổng hợp 56 33,33 1.393 45,57
- Chỉ dùng thức ăn tận dụng 63 37,50 715 23,39
- Kết hợp cả hai loại thức ăn 49 29,17 949 31,04
Giống lợn chăn nuôi:
- Lợn lai 168 100,00 3.057 100,00
- Lợn ngoại / Lợn địa phương 0 0,00 0 0,00
Địa điểm giết mổ:
- Tại cơ sở giết mổ nhỏ lẻ 168 100,00 3.057 100,00
- Tại gia đình hộ nuôi 0 0,00 0 0,00
Tập quán sinh hoạt và phòng bệnh Số hộ điều tra (hộ) Số hộ thực hiện (hộ) Tỷ lệ thực hiện (%)
Sử dụng nhà vệ sinh tự hoại 168 168 100,00
Sử dụng nhà vệ sinh 1 ngăn / 2 ngăn 168 0 0,00
Ăn thịt lợn chưa nấu chín (sống/tái) 168 0 0,00
Duy trì thói quen ăn rau sống 168 168 100,00
Chủ động xét nghiệm sán dây tại y tế 168 0 0,00
Thực hiện tẩy sán dây định kỳ hàng năm 168 0 0,00
Địa phương (Xã / Thị trấn - Huyện) Số lượng kiểm tra (con) Tỷ lệ phân bố (%)
Yên Trung - Yên Phong 175 29,17
Đông Tiến - Yên Phong 50 8,33
An Bình - Thuận Thành 100 16,67
Hoài Thượng - Thuận Thành 50 8,33
Ninh Xá - Thuận Thành 50 8,33
Nghĩa Đạo - Thuận Thành 25 4,17
Mão Điền - Thuận Thành 50 8,33
Thị trấn Hồ - Thuận Thành 100 16,67
Tổng cộng 600 100,00
Phân loại nhóm tuổi lợn Số lượng kiểm tra (con) Tỷ lệ (%) Độ tuổi thực tế ghi nhận
$\le$ 2 tháng tuổi 0 0,00 Không giết mổ lợn sữa
> 2 - 6 tháng tuổi 293 48,83 Tập trung 4,5 - 6 tháng tuổi
> 6 - 12 tháng tuổi 307 51,17 Tập trung 6,5 - 7 tháng tuổi
> 12 tháng tuổi 0 0,00 Không giết mổ lợn già/lợn nái loại thải
Tổng cộng 600 100,00 Tuổi giết mổ chủ yếu: 4,5 - 7 tháng

Các đóng góp chính của đề tài:

  • Cung cấp bức tranh dịch tễ học thực địa đồng bộ về điều kiện chăn nuôi lợn và vệ sinh môi trường nông thôn tại Yên Phong và Thuận Thành sau sự cố y tế công cộng tháng 3/2019.
  • Xác định sự thay đổi tích cực trong phương thức chăn nuôi (100% nuôi nhốt, 100% lợn lai) và hạ tầng vệ sinh (100% nhà tiêu tự hoại), giải thích cho sự suy giảm nguồn lây nhiễm truyền thống của mầm bệnh sán dây lợn từ phân người ra đàn gia súc so với các giai đoạn nghiên cứu trước đây.
  • Chỉ ra mắt xích nguy cơ dịch tễ học tiềm ẩn hiện nay không nằm ở việc ăn thịt lợn tái sống hay thả rông gia súc, mà bắt nguồn từ tập quán 100% hộ dân duy trì ăn rau sống kết hợp với sự thiếu hụt hoàn toàn các biện pháp xét nghiệm tầm soát và tẩy giun sán định kỳ trong cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:

    • Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 6 tháng (từ cuối tháng 11/2019 đến tháng 5/2020), chưa bao quát hết các biến động dịch tễ theo chu kỳ thời tiết trọn vẹn các mùa trong năm.
    • Phương pháp phát hiện gạo lợn phụ thuộc chủ yếu vào kiểm tra đại thể tại các lò mổ nhỏ lẻ thủ công; chưa áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học chuyên sâu (ELISA) trên diện rộng cho đàn lợn sống để phát hiện các trường hợp nhiễm ấu trùng mức độ nhẹ hoặc nhiễm ấu trùng sâu trong cơ quan nội tạng.
    • Phương pháp xét nghiệm phân người bằng kỹ thuật soi tươi trực tiếp có độ nhạy phụ thuộc vào thời điểm rụng đốt sán và phân hủy giải phóng trứng, chưa kết hợp các kỹ thuật miễn dịch học hoặc sinh học phân tử hiện đại để tầm soát kháng thể trong huyết thanh người.
    • Mật độ lấy mẫu lợn kiểm tra giữa các xã có sự chênh lệch lớn (xã Yên Trung kiểm tra 175 con, trong khi xã Nghĩa Đạo chỉ kiểm tra 25 con) do đặc thù phân bố không đồng đều của các điểm giết mổ tư nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Triển khai kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể kháng Cysticercus cellulosae trên quy mô mẫu huyết thanh lớn ở cả đàn lợn thương phẩm và các đối tượng người dân có nguy cơ cao.
    • Mở rộng phạm vi điều tra giám sát sang các huyện lân cận thuộc tỉnh Bắc Ninh và các tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng nhằm xây dựng bản đồ dịch tễ học ký sinh trùng truyền lây hoàn chỉnh.
    • Nghiên cứu đánh giá sự tồn lưu của trứng giun sán trên các vùng trồng rau chuyên canh và nguồn nước tưới tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu chuyên khảo hữu ích phục vụ học tập và công tác chuyên môn cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Thú y và Chăn nuôi: Tham khảo quy trình khám nghiệm thân thịt phát hiện ký sinh trùng theo Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT, phương pháp mổ khám các cơ quan đích (cơ hoành, tim, não, lưỡi) và kỹ thuật thiết kế phiếu điều tra dịch tễ học nông hộ.
  • Cán bộ thú y cơ sở và kiểm soát giết mổ: Nắm vững các tiêu chuẩn kỹ thuật xử lý thân thịt nhiễm ấu trùng gạo lợn theo các mức độ mật độ kén sán, cùng quy trình tiêu diệt ấu trùng bằng các biện pháp nhiệt độ và hóa lý.
  • Ngành Y tế dự phòng và Ký sinh trùng học: Sử dụng quy trình thu thập, xử lý và soi tìm trứng sán dây T. solium trong mẫu phân người tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật; tham khảo mô hình phân tích mối tương quan dịch tễ học một sức khỏe (One Health) giữa tập quán sinh hoạt, chăn nuôi và nguy cơ nhiễm ký sinh trùng trong cộng đồng dân cư.

Câu hỏi thường gặp

1. Bối cảnh thực tiễn trực tiếp dẫn đến việc triển khai đề tài này tại tỉnh Bắc Ninh là gì? Bối cảnh trực tiếp xuất phát từ sự việc vào tháng 3 năm 2019, khi 209 người dân (chủ yếu là trẻ em) tại huyện Thuận Thành có kết quả xét nghiệm dương tính với sán dây lợn tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, gây tâm lý hoang mang trong dư luận và đòi hỏi phải có nghiên cứu thực chứng về nguồn lây truyền trên đàn lợn và người dân địa phương.

2. Quy trình kiểm tra thân thịt lợn nghi mắc bệnh gạo được tác giả thực hiện tại những vị trí nào và dựa trên văn bản pháp lý nào? Tác giả thực hiện kiểm tra mổ khám thân thịt lợn theo Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy trình kiểm soát giết mổ động vật. Các vị trí kiểm tra trọng điểm bao gồm niêm mạc mắt, miệng, lưỡi và thực hiện các đường rạch sâu vào các bó cơ như cơ đùi, cơ hoành, cơ hàm, cơ tim và tổ chức não để tìm nang ấu trùng.

3. Quy trình xét nghiệm mẫu phân người để tìm trứng sán dây Taenia solium tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh gồm các bước nào? Mẫu phân sau khi thu thập được để ở nhiệt độ phòng bình thường khoảng 1 tuần để đốt sán phân hủy giải phóng trứng. Kỹ thuật viên nhỏ dung dịch NaCl 0,9% lên lam kính, dùng đũa thủy tinh lấy một lượng phân hòa đều tạo độ đục vừa phải, đậy lá men (la men) và quan sát dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 100 lần (10x10) để tìm trứng sán hình hơi tròn, đường kính khoảng 35 µm mang vỏ dày màu vàng và phôi bên trong.

4. Khóa luận ghi nhận thực trạng chăn nuôi và thói quen sinh hoạt của 168 hộ dân điều tra tại Yên Phong và Thuận Thành có điểm gì đặc thù? Khóa luận ghi nhận 100% hộ dân nuôi nhốt hoàn toàn đàn lợn lai thương phẩm, 100% hộ có nhà vệ sinh tự hoại và 100% hộ không ăn thịt lợn tái/sống. Tuy nhiên, 100% hộ dân vẫn duy trì thói quen ăn rau sống trong các bữa ăn hàng ngày, đồng thời 100% người dân chưa từng chủ động đến cơ sở y tế xét nghiệm sán dây và không thực hiện tẩy sán dây định kỳ.

5. Tiêu chuẩn xử lý thịt lợn mắc bệnh gạo theo Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT được quy định cụ thể như thế nào? Nếu trên 40 cm² mặt cắt cơ có từ 1 đến 6 ấu trùng thì thân thịt, thực quản và tim bắt buộc phải luộc chín trước khi sử dụng (gan, lách, dạ dày không phải xử lý). Nếu trên 40 cm² mặt cắt có trên 6 ấu trùng thì toàn bộ thân thịt phải hủy bỏ hoàn toàn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thúy đã phản ánh chi tiết thực trạng dịch tễ học bệnh gạo lợn (Cysticercus cellulosae) và sán dây (Taenia solium) trên địa bàn hai huyện Yên Phong và Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2019 - 2020. Nghiên cứu khẳng định sự chuyển biến tích cực trong phương thức chăn nuôi lợn nhốt khép kín và điều kiện hạ tầng vệ sinh tự hoại của nông hộ, góp phần hạn chế sự phát tán mầm bệnh từ phân ra gia súc so với các thập niên trước. Dữ liệu mổ khám 600 lợn giết mổ và xét nghiệm 202 mẫu phân người cung cấp cơ sở khoa học quan trọng giúp cơ quan thú y và y tế dự phòng địa phương định hướng các biện pháp kiểm soát an toàn thực phẩm và vệ sinh phòng bệnh trong cộng đồng.