ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam diện tích trải dài trên nhiều vĩ tuyến và kinh tuyến từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, sự đa dạng về khí hậu, phức tạp về địa hình nên đã tạo nên sự đa dạng sinh học cao. Tài nguyên bò sát, lƣỡng cƣ nƣớc ta đóng góp một phần vào sự đa dạng này với 357 loài bò sát thuộc 24 họ, 3 bộ và 176 loài lƣỡng cƣ thuộc 10 họ, 3 bộ (Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng, 2009). Trong gần 10 năm trở lại đây, số lƣợng các loài bò sát, lƣỡng cƣ không ngừng tăng lên. Kết quả này cho thấy sự quan tâm của các tổ chức và cá nhân ngày càng lớn với nhóm loài này.
Các loài bò sát, lƣỡng cƣ là thành phần quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên. Chúng là một mắt xích trong mạng lƣới thức ăn, có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh cân bằng hệ sinh thái. Bên cạnh đó bò sát và lƣỡng cƣ là nguồn thực phẩm cho con ngƣời, là thiên địch của các loài côn trùng gây hại và có thể còn đƣợc sử dụng làm nguồn dƣợc liệu. Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ quá trình khai thác sử dụng rừng không hợp lý, sức ép dân số, sự hạn chế trong công tác quản lý, nạn săn bắn vì mục đích thƣơng mại… đã làm nguồn tài nguyên rừng ở nƣớc ta bị suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích, số lƣợng và chất lƣợng.
Nguồn tài nguyên bò sát, lƣỡng cƣ của Việt Nam cũng không nằm ngoài thực tế này. Trong Sách đỏ Việt Nam (2007) đã thống kê đƣợc 39 loài bò sát và 12 loài lƣỡng cƣ cần phải ƣu tiên bảo tồn (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007). Nhằm giảm thiểu sự suy giảm của tài nguyên rừng và bảo vệ đƣợc các loài đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên đa dạng sinh vật của đất nƣớc, chẳng hạn nhƣ xây dựng hệ thống bảo tồn nội vi, ngoại vi và các văn bản luật, dƣới luật.Trong công tác bảo tồn nội vi, nƣớc ta đã thiết lập một hệ thống gồm 164 khu rừng đặc dụng với diện tích 2. 1 Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, Vƣờn Quốc gia (VQG) Ba Vì đƣợc thành lập năm 1991.
Hiện nay, tổng diện tích tự nhiên của VQG Ba Vì là 9.704,35 ha với hệ động,thực vật đa dạng, phong phú,tính đặc hữu cao và nhiều loài quý hiếm nhƣ: Bách xanh (Calocedrus marcrolepis), Thông tre (Podocarpus nerrifolius), Sến mật (Madhuca pasquieri), Giổi lá bạc(Talauma gioi Chev ), Bát giác liên(Podophyllum tonkinense ). Tuy nhiên, các hoạt đông sinh kế của cộng đồng địa phƣơng đang ảnh hƣởng tiêu cực đến nguồn tài nguyên rừng nói chung và các loài bò sát, lƣỡng cƣ nói riêng, đặc biệt là các loài quý, hiếm, nguy cấp. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài:“Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần loài bò sát, lưỡng cư tại Vườn Quốc gia Ba Vì”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung các thông tin hữu ích về tính đa dạng thành phần loài bò sát, lƣỡng cƣ góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên rừng tại VQG Ba Vì.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hệ thống phân loại bò sát và lƣỡng cƣ ở Việt Nam Nghiên cứu về thành phần các loài bò sát, lƣỡng cƣ ở Việt Nam đã đƣợc tiến hành từ cuối thế kỷ XIX tại nhiều vùng trong cả nƣớc. Việc xác định thành phần loài dựa trên các đặc điểm hình thái bên ngoài về : đầu, mõm, chân, da, đuôi, màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm; môi trƣờng sống nhƣ: sống ở dƣới nƣớc thƣờng có đuôi hoặc chân có màng bơi (họ Cá cóc), những loài sống chui luồn thƣờng không có chân (họ Ếch giun), một số loài sống ở đất nhƣng không chui luồn thƣờng chân dài (họ Ếch nhái, họ Cóc…), các loài sống ở cây thƣờng có ngón chân rộng thành đĩa bám (họ Ếch Cây…). Nhìn chung, các loài bò sát đƣợc chia thành 3 dạng: dạng Thằn lằn và Cá sấu, dạng Rắn, dạng Rùa; các loài lƣỡng cƣ đƣợc chia thành 3 dạng chính: Ếch nhái có đuôi, Ếch nhái không đuôi, Ếch nhái không chân (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998).
Cho đến nay, có nhiều hệ thống phân loại bò sát, lƣỡng cƣ khác nhau nhƣ hệ thống phân loại của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981) hay hệ thống phân loại của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (1996, 2005,2009). Năm 1978, Đào Văn Tiến đƣa ra Khóa định loại Rùa và Cá sấu Việt Nam. Tác giả đã sử dụng các đặc điểm dễ nhận biết về hình thái nhƣ màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm (đối với rùa) để phân loại và sắp xếp chúng theo các đơn vị phân loại khác nhau. Theo đó, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 32 loài Rùa và 2 loài Cá Sấu.
Năm 1979, Đào Văn Tiến tiếp tục xây dựng Khóa định loại về Thằn lằn Việt Nam. Cũng tƣơng tự nhƣ Khóa định loại Rùa và Cá sấu đã công bố năm trƣớc đó, tác giả cũng sử dụng các đặc điểm về hình dạng bên ngoài để phân loại thằn lằn. Trong đó các đặc điểm đƣợc chú ý phân loại nhƣ: hình dạng và kích thƣớc của đầu, các nốt sần, vẩy, hình dạng của thân, lƣng và bụng phủ vẩy, nốt sần hoặc gai, số hàng vẩy trên lƣng. Đối với các chi thì có các chỉ 3 tiêu nhƣ chiều dài chi, số ngón, có màng bơi hay không, các ngón có giác bám hay không.
Theo đó, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 77 loài thằn lằn. Năm 1981, Đào Văn Tiến tiếp tục xây dựng Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 1). Trong tài liệu đó, các chỉ tiêu đƣợc dùng để định loại là hình thái và kích thƣớc thân, hình dạng của đầu, số lƣợng hàng vẩy thân và vẩy lƣng… Trong Khóa định loại Rắn Việt Nam, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 47 loài. Không dừng lại ở đó, Đào Văn Tiến tiếp tục xuất bản Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 2) vào năm 1982 với những tiêu chí giống nhƣ Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 1) đã xuất bản trƣớc đó.Trong Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 2), Đào Văn Tiến đã lập khóa định loại cho 112 loài thuộc họ rắn nƣớc.
Các Khóa định loại bò sát, lƣỡng cƣ của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981) khá chi tiết và tỉ mỉ nên đƣợc sử dụng rộng rãi đến nay trong việc định loại và tra cứu các loài bò sát, lƣỡng cƣViệt Nam. Tuy nhiên, do các tài liệu trên đã xây dựng khá lâu (cách đây gần hơn 35 năm) nên có nhiều loài mới phát hiện bổ sung không có trong các khóa định loại mà phải tra cứu theo các tài liệu phân loại cập nhật hơn. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã xây dựng Danh lục bò sát lưỡng cư Việt Nam. Đây là kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các cuộc điều tra tại các vùng miền trong cả nƣớc nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
Trong bản Danh lục này, các tác giả đã thống kê đƣợc 258 loài bò sát và 82 loài lƣỡng cƣ ở Việt Nam. Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc Nguyễn Quảng Trƣờng đã xây dựng lại danh lục bò sát lƣỡng cƣ Việt Nam do có nhiều phát hiện mới từ năm 1996 đến năm 2005. Trong bản danh mục này, các tác giả đã thống kê ở Việt Nam có 296 loài bò sát 162 loài lƣỡng cƣ. So với bản danh mục đƣợc các tác giả đề cập vào năm 1996, trong bản Danh lục này đã công bố thêm 38 loài bò sát và 80 loài lƣỡng cƣ.
Tuy nhiên trong bản Danh lục không đề cập đến tình trạng của loài ngoài tự nhiên, nơi lƣu trữ mẫu vật nhƣng lại nói rất rõ về giá trị của loài. Một số loài chƣa có tên đã đƣợc đặt tên (tên Việt Nam, tên tiếng Anh). 4 Năm 2009, tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại các vùng miền trong cả nƣớc, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quang Trƣờng đã xây dựng Danh lục các loài bò sát lưỡng cư Việt Nam trong cuốn sách (Herpetofauna of Viet Nam ). Trong bảng Danh lục này có 357 loài bò sát thuộc 24 họ, 3 bộ và 176 loài lƣỡng cƣ thuộc 10 họ, 3 bộ.
Trong thời điểm Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quang Trƣờng đang xây dựng Danh lục các loài bò sát, lƣỡng cƣ Việt Nam thì vẫn có nhiều loài mới đƣợc phát hiện. trong năm 2009, có 4 loài bò sát, lƣỡng cƣ mới đƣợc ghi nhận tại Việt Nam đó là Cóc mày Ap-li-bai (Leptplalax applebyi) phát hiện ở núi Ngọc Linh (Quảng Nam), Ếch bám đá hoa (Odorrana geminate) phát hiện ở núi Tây Côn Lĩnh (Hà Giang) và Nguyên Bình (Cao Bằng), Ếch cây sần đỏ (Theloderma lateriticum) phát hiện ở vùng núi Hoàng Liên (Lào Cai). Cóc Mày Vân Nam (Leptobrachium promustoache), một loài trƣớc đây chỉ biết phân bố ở Trung Quốc, cũng lần đầu ghi nhận ở vùng núi cao thuộc tỉnh Lào Cai. Các nghiên cứu về thành phần loài đã góp phần to lớn trong việc định lƣợng số lƣợng loài bò sát, lƣỡng cƣ đƣợc mô tả ở Việt Nam.
Đây là kết quả nghiên cứu ở nhiều vùng miền khác nhau, nhất là ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Các công trình công bố về những khám phá mới này trên các tạp chí khoa học quốc tế không chỉ khẳng định tiềm năng đa dạng sinh học cao của Việt Nam mà còn chứng minh nỗ lực nghiên cứu, hợp tác có hiệu quả của các nhà khoa học Việt Nam và nƣớc ngoài.1:Tổng kết phân loại bò sát, lưỡng cư ở Việt Nam theo thời gian Năm Bò sát Lƣỡng cƣ Nguồn thông tin Bộ Họ Loài Bộ Họ Loài Nguyễn Văn Sáng, Hồ 1996 3 23 258 3 9 82 Thu Cúc (1996) Nguyễn Văn Sáng, Hồ 2005 3 23 296 3 9 162 Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (2005) Nguyễn Văn Sáng, Hồ 2009 3 24 396 3 10 176 Thu Cúc Và Nguyễn Quảng Trƣờng (2009) 5 Mặc dù đến nay có nhiều hệ thống phân loại khác nhau nhƣng trong bản khóa luận này, tên khoa học, tên phổ thông của loài đƣợc sử dụng theo hệ thống phân loại của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (2009) vì đây là tài liệu cập nhật và chi tiết hơn cả. Các loài bò sát và lƣỡng cƣ mới đƣợc phát hiện và công bố từ năm 2009 đến nay cũng đƣợc sử dụng để phục vụ tra cứu và định loại loài.