mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Tolmachop I cho rằng: “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm đƣợc sự phong phú của nơi sống, nhƣng không có sự phân hóa về mặt địa lý” ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Ông đã đƣa ra nhận 2 định là số loài của một hệ thực vật ở vùng nhiệt đới ẩm thƣờng là 1500 đến 2000 loài. Ngày nay vấn đề đa dạng sinh vật và bảo tồn đang đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nó đã trở thành một chiến lƣợc trên toàn thế giới, màn mỗi quốc gia đều đặt vào vị trí quan trọng.
Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hƣớng dẫn, giúp đỡ việc đánh giá việc bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật. Đó là hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN). Chƣơng trình môi trƣờng liên hiêp quốc (UNEP), quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), viện tài nguyên môi trƣờng quốc tế (IPGRI),… Năm 1990 WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh học (The Importance of Biological Diversity) hay IUCN, UNEP, WWF đƣa ra chiến lƣợc bảo tồn thế giới (World Conservasion Strategy) và đã xuất bản cuốn “Hãy cứu lấy trái đất” (Caring for the Earth). Cùng năm, WRI, IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lƣợc đa dạng sinh học và chƣơng trình hành động, tất cả những cuốn sách đó nhằm hƣớng dẫn và đề ra các phƣơng pháp để bảo tồn đa dạng sinh vật làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tƣơng lai.
Từ cuốn Biodiversity action for Viet Nam (BAP, 1995) đến cuốn Diversity for Development (IP), 1993. Khái niệm đa dạng sinh học ngày càng sát thực hơn(dẫn theo Nguyễn Thị Lan Anh, 2009) [1].Nhận thức chung về đa dạng sinh học Cùng với những biến cố về lịch sử, về kinh tế xã hội, đa dạng sinh học trên toàn cầu đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng. Mất loài, sự xói mòn di truyền, sự du nhập xâm lấn của các loài sinh vật lạ, sự suy thoái các loài sinh thái tự nhiên, nhất là rừng nhiệt đới đang diễn ra một cách nhanh chóng chƣa từng có, mà nguyên nhân chủ yếu là do tác động của con ngƣời Cụm từ “Đa dạng sinh học” đƣợc nhắc đến rất nhiều trong thời gian gần đây. Vậy Đa dạng sinh học là gì? Thuật ngữ Đa dạng sinh học đƣợc dùng lần đầu tiên vào năm 1988 (Wilson, 1988) và sau khi Công ƣớc Đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity) đƣợc ký kết (1993), đã đƣợc dùng phổ biến.
Theo từ điển Đa dạng sinh học và phát triển bền vững của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng (NXB Khoa học và kỹ thuật, 2001): “Đa dạng sinh học là thuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên. Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ 3 sinh thái trên đất liền, dƣới biển và các hệ sinh thái dƣới nƣớc khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Đa dạng sinh học bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần của cơ thể, các quần thể hay các hợp phần sinh học khác của hệ sinh thái, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài ngƣời. Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái).
Đó cũng chính là 3 phạm trù (cấp độ) mà đa dạng sinh học thể hiện. Đa dạng di truyền: thể hiện bằng nguồn gen và gennotyp nằm trong mỗi loài. Sự đa dạng di truyền trong loài thƣờng bị ảnh hƣởng bởi những tập tính sinh sản của các cá thể trong quần thể. Đa dạng loài: bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật thực vật và các loài nấm.
Đa dạng hệ sinh thái: thể hiện bằng sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng nhƣ các quần xã tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tƣơng tác giữa chúng với nhau. Một quần xã sinh học đƣợc xác định bởi các loài sinh sinh vật phân bố trong một sinh cảnh xác định và có những mối tƣơng tác lần nhau giữa những loài đó. Một quần xã sinh học cùng với môi trƣờng vật lý bao quanh hợp thành một hệ sinh thái(dẫn theo Phạm Vinh Hạnh, 2009) [10] [37].Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới Trên thế giới nghiên cứu về đa dạng thực vật đã có từ rất lâu. Ngƣời ta tìm Thấy các tài liệu mô tả về thực vật xuất hiện ở Ai Cập khoảng 3000 năm trƣớc công nguyên và ở Trung Quốc 2000 năm trƣớc Công nguyên.
Kiến thức về cây cỏ đƣợc loài ngƣời ghi chép và lƣu lại từ rất sớm. Sớm nhất có lẽ là tác phẩm của Aristote (384-322 trƣớc Công nguyên). Tiếp đó là tác phẩm lịch sử thực vật của Theophraste (khoảng năm 349 trƣớc công nguyên). Trông đó, Ông đã mô tả, giới thiệu gần 500 loài cây cỏ với các chỉ dẫn về nơi mọc và công dụng.
Tập đoàn cây có ích và nhóm cây làm thuốc đƣợc con ngƣời quan tâm nhiều nhất. Thầy thuốc ngƣời Hi lạp Dioscoride (thế kỷ 1) khi giới thiệu 600 loài cây chủ yếu tập trung vào công dụng chữa bệnh của cây cỏ và chính Ông là ngƣời đã đặt nền móng cho môn dƣợc học. Vào thời kỳ này, nhà tự nhiên học La Mã Plinus (79-23 TCN) với bộ bách khoa toàn 4 thƣ 37 tập đã giới thiệu gần 1000 loài cây có ích. Ông cũng đƣợc coi là nhà tài nguyên sinh vật đầu tiên của nhân loại.
Tiếp đến khoảng thế kỷ 17-18, cùng với sự phát triển kinh tế nổi bật của Phƣơng Tây. Các nhà bác học ở đây cũng cho ra nhiều công trình nghiên cứu thống kê về thành phần và công dụng của thực vật. Ray (1628-1705), trong tác phẩm “Lịch sử thực vật”đã mô tả tới 18.000 loài thực vật. Ngoài ra còn có Linne (1707-1778), nhà bác học Thụy Điển, Antoine-Laurent de Jussieu (1748-1836).
(dẫn theo Phạm Vinh Hạnh, 2009) [10] Những công trình nghiên cứu có giá trị xuất hiện và thế kỷ 19-20, do sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Đƣợc đánh giá cao là các nhà khoa học nhƣ: Takhtajan (1910), Lecomte, Brummit (1992)… [36] Takhtajan, Viện sĩ thực vật, Acmenia, đã đóng góp lớn cho khoa học phân loại thực vật, trong cuốn “Diversity and Classification ò Flowering plant” (1997), đã thống kê, phân chia toàn bộ thực vật hạt kín trên thế giới khoảng 260.000 loài vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ, thuộc 16 phân lớp và 2 lớp.Nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Việt Nam Nghiên cứu về thực vật cũng có khá lâu. Một số danh y đã đƣợc biết đến nhƣ: Tuệ Tĩnh, Lý Thời Chân, Hải thƣợng Lãn Ông. Việc nghiên cứu thực vật theo hƣớng khoa học thì mới xuất hiện khi Pháp xâm chiếm Việt Nam.
Công trình thống kê mô tả thực vật nhƣ: “Thực vật rừng Nam Bộ” của Pierre (1879 – 1899), Ông cũng tìm ra và đặt tên cho nhiều loài mới ở Việt Nam. Trong số các nhà khoa học nƣớc ngoài nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam trong thời kỳ này, thành công nhất là Lecomte. Ông đã công bố bộ “Thực vật chí Đông Dƣơng” từ 1907-1952, gồm 7 tập chính và một tập bổ sung. Tác giả đã thu mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có mạch trên lãnh thổ ba nƣớc Đông Dƣơng (dẫn theo Phạm Vinh Hạnh, 2009)[10].
Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dƣơng, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê Việt Nam có 7. Trong đó, Ngành Hạt kín có 6. Ngành Hạt trần có 39 loài (0,56%), 18 chi (0,97%), 8 họ (2,77%). Ngành Dƣơng Xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và 42 chi (14,5%).
[31] 5 Năm 1965 Pocs Tamas đã thống kê đƣợc ở miền Bắc có 5190 loài, năm 1969 Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung 419 loài cho hệ thực vật miền Bắc. Bộ sách gồm 3 quyển (6 tập), đã thống kê, mô tả đƣợc 10.419 loài thực vật bổ sung ở Việt Nam. Trong hai năm 1999 – 2000, tác giả đã chỉnh lý bổ sung và tái bản ở nƣớc ta với số loài công bố là 11. Đây là những tài liệu tham khảo có ích cho công tác phân loại thực vật.
(dẫn theo Phạm Vinh Hạnh, 2009) [10] Hiện nay, các tác giả có xu hƣớng đi sâu nghiên cứu hệ thực vật của địa phƣơng, khu bảo tồn, vƣờn quốc gia hoặc các họ. Từ năm 1997, Nguyễn Nghĩa Thìn đã xuất bản cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” và tái bản nhiều lần cuốn “Các phƣơng pháp nghiên cứu thực vật”. Tác giả đã tập hợp các phƣơng pháp nghiên cứu thực vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng. Trong đó tác giả cũng thống kê ở Việt Nam có 10.580 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 2.342 chi, 334 họ, 6 nghành[30] Ngoài ra phải kể đến công trình nổi tiếng của Thái Văn Trừng (1963 – 1978) về thảm thực vật rừng Việt Nam.
Tác giả đã phân chia thảm thực vật rừng nƣớc ta thành các kiểu rừng, kiểu phụ và các ƣu hợp, quần hợp thực vật phổ biến. [10] Từ năm 2001 – 2005, các tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng – Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã xuất bản bộ “Danh lục thực vật Việt Nam” gồm 3 tập. Trong đó bộ sách đã thống kê đầy đủ các loài thực vật đã phát hiện ở nƣớc ta. Tronh đó số loài đƣợc xác định là 11.435 chi và 327 họ.
[33] Nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật cũng đƣợc công Bố nhƣ: “Danh lục thực vật Cúc Phƣơng” [9] do Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1997) có 1942 loài, 228 họ thuộc 7 ngành. “Danh lục thực vật vùng núi cao Sa Pa – Phan 6 Si Pan” đƣợc Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời công bố gồm 2024 loài thực vật bậc cao có mạch, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành. Những khu rừng ở Trung Trƣờng Sơn vẫn còn ít đƣợc nghiên cứu đối với phần lớn các nhóm động vật và thực vật và kiến thức về tính đa dạng sinh học giàu có ở đây rất lâu mới có thể biết đầy đủ. Những kiểm kê thực vật chƣa hoàn thiện đã đƣợc xuất bản cho VQG Bạch Mã (Mai Văn Phô, 1994; Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô, 2003), KDTTN Phong Điền – Đăkrông và KDTTN Ngọc Linh (dẫn theo Phạm Vinh Hạnh, 2009).