ĐẶT VẤN ĐỀ Đƣợc biết đến là những loài cây có giá trị về mặt đời sống hàng ngày nhƣ làm gia vị cho những bữa ăn, làm cảnh hay dùng cho tục lệ ăn trầu, các loài thực vật nhƣ tiêu, trầu, lá lốt, càng cua, còn mang lại những giá trị về mặt kinh tế, xã hội nhƣ dùng để lấy tinh dầu, hay thậm chí còn sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Tất cả những loài cây kể trên đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu và nhóm chúng lại thành một gia đình và đó là họ Hồ tiêu ( Piperaceae ). Họ Hồ tiêu là một họ có sự đa dạng, phong phú về loài, có giá trị sử dụng cao và đặc biệt dùng nhƣ những cây thuốc cho bài thuốc dân gian. Đặc biệt là thế nhƣng chúng lại chƣa thật sự đƣợc quan tâm.
Chính vì vậy cần thiết phải điều tra sự phân bố để biết đƣợc loài nào đặc trƣng cho từng vùng sinh thái và đánh giá khả năng thích ứng từ đó phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển các loài cây này, đƣa những giá trị sử dụng của cây đến gần hơn với những ngƣời yêu quý những thích ứng từ đó phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển các loài cây này, đƣa những giá trị sử dụng của cây đến gần hơn với những ngƣời yêu quý những loài cây này nói chung và ngƣời dân địa phƣơng nói riêng. Xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La là một trong năm xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên ( KBTTN ) Xuân Nha, đƣợc thành lập theo quyết định số 3440/2002/QĐ-UB ngày 11/11/2002 của Ủy Ban Nhân Dân ( UBND ) tỉnh Sơn La, có địa bàn hoạt động trên 5 xã (2008 ) : Xuân Nha, Chiềng Sơn, Lóng Sập, Chiềng Xuân và Tân Xuân, với tổng diện tích tự nhiên là 97,88 km². Đây là khu vực rất đặc trƣng bởi hệ sinh thái á nhiệt đới, và nằm trong vùng thƣờng xuyên có khí hậu gió mùa ảnh hƣởng, đất đai, khí hậu ở đây thuận lợi cho các loài động thực vật rừng sinh trƣởng và phát triển nên quần thể sinh vật rừng ở đây rất phong phú, đa dạng, trong đó có các loài trong họ Hồ tiêu. Tuy nhiên, hiện nay số ngƣời biết đến công dụng tuyệt vời của những loài cây này chƣa nhiều, vì vậy cần có bƣớc đầu quan tâm và phát triển những loài cây quý này.
Xuất phát từ những vấn đề trên và để hoàn thành chƣơng trình khóa học của mình tại trƣờng Đại Học ( ĐH ) Lâm nghiệp Việt Nam, đƣợc sự nhất trí của 1 khoa Quản lí tài nguyên rừng và môi trƣờng, thầy giáo hƣớng dẫn Phạm Thanh Hà cùng ban quản lí Hạt Kiểm Lâm KBTTN Xuân Nha, tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài và phân bố của họ Hồ tiêu ( Piperaceae ) tại xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La” 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học Theo hệ thống APG III của phân loại thực vật, họ Hồ tiêu (Piperaceae ) đƣợc đặt theo thứ tự bộ tiêu cùng ba họ khác, đó là họ Mộc hƣơng (Aristolochiaceae ), họ Hydnoraceae, và họ Diếp cá (Saururaceae). Họ Hồ tiêu rất phù hợp với hệ thống phân loại APG. Số lƣợng của các loài trong họ đã thay đổi gần đây, chủ yếu là do nghiên cứu phát sinh loài.
APG III chia ra 5 chi : Piper, Peperomia, Zippelia, Manekia và Verhuellia. Nhƣng trong một nghiên cứu trƣớc đây ( Wanke et al, 2007 ). Tất cả các loài Verhuellia đều có 3-4 lá trên một nhánh cành, một điều mới lạ mà không tìm thấy trong họ Peperomia. Một điều khác biệt nữa là các loài Verhuallia có 3-4 đầu nhụy, thì loài Peperomia chỉ có 1-2 đầu nhụy thôi ( Semain et al, 2008 ), một vài nghiên cứ về hình thái phát triển và giải phẫu sau đó cung cấp thêm bằng chứng rằng Verhuallia thực sự là một chi riêng biệt.
Họ Hồ tiêu truyền thống đƣợc chia làm hai phân họ Peperomioideae và Piperoideae (Semain et al, 2008 ). Tuy nhiên, nghiên cứu năm 2006 đã xác nhận rằng hai nhánh lớn thật sự bao gồm Piper và Peperomia là một, Zippelia và Manekia là một nhánh khác. Điều này xảy ra trƣớc khi Verhuallia trở thành một nhánh riêng lẻ. Ngoài chi Piper và Peperimia, 3 chi còn lại trong họ Hồ tiêu chỉ chứa khoảng 10 loài giữa chúng.
Các khái niệm cơ bản Khái niệm đa dạng sinh học Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Đa dạng sinh học đƣợc xem xét theo 3 mức độ: Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm. 3 Phân loại thực vật Phân loại học thực vật hay phân loại thực vật là ngành khoa học tìm kiếm, xác định, miêu tả, xếp loại và đặt tên cho thực vật theo một trật tự tự nhiên. Ngành khoa học này là một trong những nhánh chính của phân loại học (khoa học về tìm kiếm, miêu tả, xếp loại, và đặt tên các sinh vật sống).
Những đặc điểm sinh học của họ Hồ tiêu 1. Cơ quan sinh dƣỡng - Rễ và thân : Các loài trong họ này thƣờng có thân rễ và có thể là cây sống trên mặt đất hoặc biểu sinh. Thân hoặc lá đơn, phân nhánh. - Lá : Lá đơn, mép lá nguyên, mọc ở gốc cây hoặc dọc thân cây, có thể mọc so le.
đối hay mọc vòng. Thƣờng có các lá kèm, cũng nhƣ có cuống, lá thƣờng có mùi thơm nồng đặc trƣng dễ nhận thấy khi vò nát hay nghiền. Cơ quan sinh sản - Hoa : Cụm hoa mọc ở đầu cành, đối diện với lá hay trong nách lá. Hoa lƣỡng tính, không có bao hoa, mỗi hoa đối diện với một lá bắc hình khiên.
Nhị khiên 2-6 và thuộc dạng dƣới bầu ( nghĩa là bầu nhụy thƣợng ) với các bao phấn hai ngăn. Thƣờng có 3-4 đầu nhụy đính với một nhụy mỗi hoa , thƣờng có 1 hay 3-4 lá noãn. Bầu nhụy 1 ngăn, thƣợng. - Quả và hạt : Quả hạch, chứa một hạt mỗi quả.
Hạt có phôi nhỏ và ngoại nhũ chứa nhiều bột. Tình hình nghiên cứu họ Hồ tiêu trên thế giới Họ Hồ tiêu đƣợc xuất phát từ tiếng Phạn “Pippali”, sau đó đƣợc Hy Lạp gọi là“Peperi“, tiếng Latinh gọi là “Pipera” đƣợc gọi đến bây giờ là “Piperaceae”. Các loài cây trong họ Hồ tiêu có nguồn gốc ở Ấn Độ, mọc hoàng trong các khu rừng nhiệt đới ẩm phía Tây vùng Ghats và Assam. Từ thế kỉ 13 các loài phổ biến đƣợc sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày có cây lá lốt ( Piper lolot), rau càng cua (Piporomia leptostachya H ), cây trầu không ( Piper betle L ) nhƣng quan trọng nhất vẫn là tiêu.
Tiêu đƣợc canh tác và sử dụng rộng rãi trong những bữa ăn hàng ngày, Ấn Độ là nƣớc trồng nhiều nhất trên thế giới, và 4 đƣợc phổ biến sang cả những nƣớc khác ở Viễn Đông, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Srilanka. Indonesia và Malaysia đã rất chú trọng tới công việc chọn tạo giống và đã đạt đƣợc những kết quả tốt. Trung tâm nghiên cứu tiêu Sarawak ở Malaysia đã phóng thích ra các giống Kuching hay Bangka, Aricottanadan, Kumbakhodi. Ở Indonesia, các giống tiêu truyền thống là Bulok, Belantung, Jambi.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy ngƣời ta đã nỗ lực cải tạo lại giống nhằm cải thiện đặc tính chống chịu với bệnh thối rễ gây ra do Phytophthora, Capsici nhƣng đáng tiếc là cho đến nay kết quả còn rất hạn chế. Piperaceae là một họ kinh tế và sinh thái quan trọng. Trên thế giới số lƣợng loài lớn nhất đƣợc tìm thấy ở Châu Mỹ ( khoảng 700 loài ), với khoảng 300 loài ở Nam Á. Có những nhóm nhỏ hơn từ Nam Thái Bình Dƣơng ( khoảng 40 loài ) và Châu Phi ( khoảng 15 loài ) Cuốn thực vật chí Trung Quốc ( tập 1- 2009 ) đã chỉ ra hóa phân loại của 3 chi, hóa phân loại của từng chi, trong đó chi Zipellia, Piper ( khoảng 60 loài ), Piperromia ( 7 loài ), ngoài ra cuốn này còn giới thiệu cụ thể đực điểm hình thái, nơi mọc và vùng phân bố của từng loài tại Trung Quốc.
Các tác giả Lin, Tzer-Tong, và Lu đã nghiên cứu và mô tả trong cuốn thực vật chí Đài Loan ( 1984 ) đã mô tả đặc điểm sinh thái và vùng phân bố, giá trị sử dụng, hình thái bao gồm cả hình vẽ đen trắng lẫn hình vẽ màu của 2 chi bao gồm chi Piperomia ( khoảng 5 loài ) và chi Piper ( 9 loài ). Miền nam Nhật Bản và phía nam Hàn Quốc đã tìm thấy một số loài ở vùng đất thấp rừng mƣa nhiệt đới ( Pepper, Piper. Một vài loài đƣợc gọi là “Piper con kiến” (Piper Cenocladum) sống hỗ trợ với kiến ở vùng Homidiana. Hơn 9000 năm trƣớc đây, ở Spirit Cave, Thái Lan các nhà khoa học đã nghiên cứu để phát triển một số loại tiêu sinh trƣởng trong nhà máy tốt hơn so với ở ngoài trời, và đƣợc sử dụng cho ẩm thực.
Trong thời cổ đại, vào thời các đế chế La Mã họ đã biết sử dụng đáng kể Tiêu (Piper nigrum ) để làm gia vị cay cho những món ăn chính, và thời đó tiêu còn giá trị hơn cả đƣờng và muối. Do sự phân bố rộng của Piperaceae, nên 5 nhiều nơi đƣợc biết đến là gia vị quan trọng, nhiều trong số đó đƣợc quốc tế Mecaxochitl ( Piper.amago ) đƣợc sử dụng bởi ngƣời Aztec thêm gia vị cho cacao. Năm 1630, Phillip IV của Tây Ban Nha đã đàn áp thƣơng mại để buôn bán hạt tiêu đen, tuy nhiên nó lại là gia vị đƣợc ƣa thích xung quanh Ấn Độ Dƣơng và đƣợc yêu thích cho món hầm cà ri tại phía Đông Indonexia. Không chỉ có hạt của tiêu là có thể sử dụng đƣợc, tại Tây Phi hay Mexico lá Piper đƣợc ngƣời dân địa phƣơng dùng làm hƣơng liệu thực vật, nấu các món tuyền thống nhƣng không thể thiếu (Piper auritum) , chủ yếu là để truyền đạt hƣơng vị giúp cho món ăn thêm phần hấp dẫn.
Khu vực Đông Nam Á hai lá của loài Piper dùng cho món ăn Lolot ( Piper lolot ) sử dụng bọc thịt để nƣớng ở Đông Dƣơng, trong khi Trầu (Piper sormentosum ) thƣờng đƣợc dùng để ăn sống hay nấu chín nhƣ một loại rau. Theo Hu Jiao Ke (1999), Flora of China, VoL.