ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học là sự phong phú về loài, về nguồn gen và hệ sinh thái trong tự nhiên. Trong sự bảo tồn đa dạng sinh học, đa dạng sinh vật rừng chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Hiện nay các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu cùng đi sâu vào nghiên cứu sự phong phú về thành phần loài, thống kê loài và giá trị của các loài đó. Theo ƣớc tính cơ sở khoa học, về thực vật bậc cao có tới 1200 loài, bên cạnh đó còn có 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 200 loài tảo (Phan Kế Lộc, 1998; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1977).
Hiện nay theo thống kê của GS. Trịnh Tam Kiệt có khoảng 14000 đến 22000 loài nấm lớn, trong đó khoảng 50% là nấm ăn (mushrooms) và có khoảng 7000 loài có khả năng làm thuốc chữa bệnh, 2000 loài nấm có thể nuôi trồng làm thực phẩm cho con ngƣời. Nấm là một trong những thành viên không thể thiếu của hệ sinh thái rừng, góp phần tạo nên tính đa đạng của hệ sinh thái rừng. Nấm giữ vai trò quan trọng trong việc phân giải chất hữu cơ thực vật và trả lại các chất vô cơ, xúc tiến tuần hoàn vật chất, có tác dụng làm sạch môi trƣờng nƣớc và không khí.
Trong lâm nghiệp, nhiều loài nấm có tác dụng phân giải các chất hữu cơ phức tạp thành chất đơn giản, cung cấp dinh dƣỡng cho thực vật rừng sinh trƣởng và phát triển. Ngoài ra, chúng còn chứa nhiều axit amin, proterin, lipit và vitamin,. có tác dụng làm thức ăn, làm thuốc chữa bệnh cho con ngƣời. Các loài nấm nhƣ: nấm Linh chi, nấm Phục linh, nấm Mỡ, nấm Sò, nấm Hƣơng, nấm Mộc nhĩ, nấm Ngân nhĩ,.
đƣợc dùng làm dƣợc liệu và thực phẩm. Con ngƣời còn biết ứng dụng quá trình lên men rƣợu etylic để chế biến rƣợu, ứng dụng quá trình phân giải các chất nhờ enzym của nấm mốc và vi khuẩn để làm tƣơng, nƣớc mắm. Hiện nay, trên thế giới đã sản xuất đƣợc khoảng 2 triệu tấn nấm ăn hàng năm với 20 loài nấm khác nhau. Việc sản xuất nấm ăn không chỉ thu lợi nhuận cao mà còn có thể thay đổi kết cấu giữa ngành nghề, xúc tiến phát triển 1 kinh tế nông thôn và miền núi, hiện đại hóa nông nghiệp và thực phẩm sạch góp phần phát triển làm sạch môi trƣờng.
Hiện nay, chúng ta đã xác định đƣợc một số loài nấm Linh chi có khả năng làm thuốc chữa bệnh, đặc biệt là nấm Linh chi đỏ (Ganoderma lucidum) có khả năng ổn định huyết áp, lọc sạch máu, giảm mệt mỏi, hỗ trợ thần kinh, giảm đau đầu và chân, làm da dẻ hồng hào, làm sạch ruột, chống béo phì, thúc đẩy quá trình tiết isulin chữa bệnh đái tháo đƣờng, ngăn chặn quá trình lão hóa, nhóm sterois giải độc gan, bảo vệ gan ngừng tổng hợp cholesterol. Đặc biệt nấm Linh chi có tác dụng chống ung thƣ có chứa chất ganodernataric và policarid ngăn chặn ung thƣ trong cơ thể vì vậy nó loại trừ và kìm hãm sự tăng trƣởng của tế bào ung thƣ. Tất cả các loài nấm có vai trò rất lớn trong cân bằng sinh thái nông lâm nghiệp, bảo vệ nông lâm sản nhƣ dùng thuốc trừ sâu, dùng nấm sản xuất chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật. Đồng thời, nấm còn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống đa dạng sinh vật của giới tự nhiên.
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay nhiều loài nấm do môi trƣờng sinh thái bị tác động nên đã biến mất. Ngoài việc phá hủy rừng, tăng dân số, chủ yếu là loài nấm bị coi nhẹ, thậm trí còn không biết giá trị và sự tồn tại của nấm, nhất là hơn 95% loài nấm chƣa đƣợc biết. Đó là những nguy cơ của tính đa dạng sinh học, việc bảo vệ lợi dụng hợp lý các loài nấm có ích là nhiệm vụ của các nhà khoa học bảo vệ sinh vật, là sự nghiệp vì thế hệ mai sau. Lâm trƣờng Lƣơng Sơn là một vùng có sự đa dạng về loài nấm, trong đó loài nấm lớn có rất nhiều.
Để tìm hiểu sâu hơn về thành phần loài, tính đa dạng sinh học, đặc điểm nhận biết, công dụng của các loài nấm lớn và đƣa ra một số giải pháp bảo tồn nấm có ích. Chính vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài nấm lớn tại Lâm trường Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nấm trên thế giới Các nhà vi sinh vật trên thế giới quan tâm nhất là các loài nấm, đó là khi các vật sản xuất sơ cấp càng nhiều thì các vật phân giải càng nhiều, càng đa dạng và phong phú.
Tính đa dạng sinh học của nấm và đặc tính sinh thái của nấm là một trong những vấn đề luôn đƣợc các nhà vi sinh vật quan tâm. Muốn tìm hiểu tính đa dạng sinh học và đặc tính sinh thái hình thái của nấm ở một khu vực thì phân loại nấm phải đƣợc đặt ra trƣớc tiên.Phân loại nấm Sự phân loại nấm đƣợc hình thành từ khi con ngƣời biết dựa vào các đặc điểm của từng loài nấm và sự đa đạng của các loài để sử dụng làm thức ăn và thuốc chữa bệnh. Nhƣng cùng với sự phát triển của xã hội, con ngƣời đã tác động đến môi trƣờng, làm ảnh hƣởng trực tiếp tới các loài nấm, đặc điểm sinh thái học của các loài, dẫn tới nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên sinh vật, thậm trí một số loài còn bị hủy diệt. Theo dự doán của các nhà khoa học thì trong khoảng 20 – 30 năm nữa một số loài sinh vật có thể bị tuyệt chủng.
Ngày nay nhu cầu sử dụng nấm của con ngƣời ngày càng tăng và cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc đi sâu vào giới nấm (mycota) đã bắt đầu đƣợc phát triển. Việc nhận biết đã có từ rất lâu, từ khi nấm đƣợc con ngƣời sử dụng khoảng 4000 năm, nhƣng chƣa trở thành một môn khoa học. Khoa học nấm đƣợc hình thành từ thế kỷ XVIII.Michely đã phát biểu trên tạp chí “Các chi thực vật”, C.von Linnacus năm 1937 trong “Hệ thống tự nhiên” có các loài thực vật là nấm có trên mặt đất. Nhiều nhà khoa học rất nổi tiếng sau thời kỳ này là Peron, Fries, Sweinitz, Corda, Berkey.
Khoa học bệnh cây gắn liền với nấm học bắt đầu năm 1851. Ngƣời sáng lập là A. Thời gian sau đó là một giai đoạn đột phá của nấm học, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới. Những căn cứ về phân loại ngày càng chuẩn xác và nhiều hơn nhƣ căn cứ vào phƣơng thức dị dƣỡng của nấm, 3 chu trình phát triển của tế bào nấm.
Căn cứ vào hình thái thể quả và các mối quan hệ thân thuộc của chúng. Năm 1881 các nhà khoa học Phần Lan Karsten đã đề cập tới việc phân loại nấm và đƣợc đông đảo các nhà khoa học nấm trên thế giới công nhận, nhƣ: Cuningham G. Năm 1933, nhà nấm học Phần Lan Donk đã hoàn thiện hệ thống phân loại của Karsten. Quan điểm phân loại này đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới chấp nhận nhƣ: Mayer.
Năm 1971, Ainsworth đã đƣa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh. Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả, đặc điểm giải phẫu và phƣơng thức dinh dƣỡng, đã chia giới nấm (Mycota) làm hai ngành: Ngành nấm Nhày (Myxomycota) và ngành nấm Thật (Eumycota). Từ hai ngành nấm trên ông lại chia thành các lớp, bộ, họ, chi và loài. Nhƣ vậy trong taxon phân loại đơn vị nhỏ nhất là loài.
Hiệp hội nấm quốc tế đƣợc thành lập năm 1971 tại Tokyo (Nhật Bản) đã nêu ra hệ thống phân loại nấm, nấm đƣợc xếp vào giới riêng (dinh dƣỡng hút) khác với thực vật (quang hợp) và động vật (dinh dƣỡng nuốt). Trong giới sinh vật đa bào có rất nhiều quan điểm và cách sắp xếp khác nhau. Đây là một trong những vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh luận. Cùng với thời gian, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học cũng nhƣ các nhà nấm học cũng đã đƣa ra các quan điểm phân loại và hệ thống phân loại của mình.
Các hệ thống khái quát đang dần bị phá vỡ và thay vào đó là những hệ thống mang tính tự nhiên, tỷ mỷ, dễ áp dụng hơn và nêu lên những mối quan hệ giữa các cá thể trong sinh giới, trong quá trình tiến hóa của tự nhiên. Cho đến nay hệ thống phân loại của Ainsworth.C (1971) đã và đang đƣợc các nhà nấm học trên thế gới sử dụng.2 Đặc điểm về sinh học Các nhà nấm học trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học, sự phân bố và tính phá hại gỗ của các loài nấm mục. Trong đó, phải kể đến công trình nghiên cứu tiêu biểu của Bonner J.(1955) đã đi sâu vào nghiên cứu bản chất, quá trình sinh học, 4 sinh trƣởng và phát triển của nấm. Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác của các nhà nấm học nhƣ: Krebs.H (1962) và các nhà khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển của nấm về nhiệt độ, độ ẩm không khí, ánh sáng, độ pH.3 Nuôi trồng thể quả Từ lâu con ngƣời đã nuôi trồng thể quả nấm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con ngƣời.
Vài thập kỷ gần đây, ngƣời ta đã nuôi trồng nấm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đƣa ra những công trình nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: GS Dật Vũ Kiên Hƣng và cộng sự (1990) trƣờng đại học Tokyo (Nhật Bản); Krebs G. Kết quả cho rằng các nhân tố nhƣ chất đạm hữu cơ (pepton), dịch chiết nấm men, cacbon trong giá thể, độ pH.sẽ kìm hãm quá trình hình thành thể quả nấm.2 Nghiên cứu về nấm ở Việt Nam Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới, địa hình phức tạp, khí hậu và thảm thực vật đa dạng, số loài sinh vật rất phong phú. Trong giới tự nhiên, nấm có khoảng 1.
Các nhà nấm học mới chỉ biết tên 70. Việt Nam có điều kiện thiên nhiên ƣu đãi, hiện nay nƣớc chúng ta có bao nhiêu loài nấm vẫn là một câu hỏi khá lớn bởi chƣa có số liệu chính xác. Từ cuối thế kỷ XIX Paloiulard.T (1890-1928) nhà nấm học ngƣời Pháp đã tiến hành nghiên cứu khu hệ nấm lớn ở Việt Nam và đã đƣa ra danh lục nấm gần 200 loài nấm lớn. Ông đã mô tả đặc điểm, phân bố và vị trí phân loại của các loài nấm trong sinh giới.
Đây là tài liệu đầu tiên về khu hệ nấm lớn ở miền Bắc nƣớc ta.