ĐẶT VẤN ĐỀ Khu hệ chim Việt Nam đa dạng và phong phú với 887 loài thuộc 88 họ và 20 bộ chim (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011)[17]. Số lƣợng chim hiện biết ở Việt Nam chiếm hơn 9% tổng số loài chim hiện biết trên thế giới là 9800 loài (James, Clements F, 2007)[25] và chiếm 34% tổng số loài chim ghi nhận tại vùng Phƣơng Đông là 2. Trong số các loài chim đƣợc biết đến ở Việt Nam có 11 loài chim đặc hữu, 40 loài chim quý hiếm đang bị đe dọa trên phạm vi toàn cầu và 75 loài chim đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007)[1]. Cũng giống nhƣ các nhóm loài động vật khác, các loài chim ở nƣớc ta hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nguy cơ mất môi trƣờng sống do sự gia tăng dân số thúc đẩy việc chiếm đất nông nghiệp, chặt phá rừng và mở rộng diện tích xây dựng.
Bên cạnh đó, nhu cầu và thói quen sở thích ăn thịt rừng của nhiều ngƣời dẫn đến việc săn bắn quá mức đe dọa tuyệt chủng cho nhiều loài chim quý hiếm. Vì vậy, việc điều tra tính đa dạng chim tại các vùng miền để xây dựng cơ sở dữ liệu bảo tồn các loài chim là rất cần thiết. Hồ Đồng Mô là hồ nƣớc ngọt nhân tạo thuộc địa phận xã Kim Sơn, thị xã Sơn Tây và một phần thuộc huyện Ba Vì, TP. Hồ Đồng Mô cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km về phía Tây Bắc, là một vùng bán sơn thủy có diện tích 1.
Trƣớc những vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng, khu vực hồ Đồng Mô đã trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn cho các du khách trong nƣớc và quốc tế nhƣ Sân Golf, Đảo dài, các khu nghỉ dƣỡng. Không những vậy, hồ Đồng Mô là nơi sinh sống của nhiều loài thực vật, động vật hoang dã nhƣ sen, súng, các trảm cỏ lau sậy…và đặc biệt, trong lòng hồ có nhiều đảo nhỏ tạo nên các dạng sinh cảnh và nơi cƣ chú khác nhau cho nhiều loài chim. Tuy nhiên, đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu nào về đa dạng các loài chim tại hồ Đồng Mô trong khi hồ Đồng Mồ không những là khu vực duy nhất ở Việt Nam hiện còn loài Rùa hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) sinh sống mà còn là một khu du 1 lịch sinh thái nên các vấn đề bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học cần đƣợc quan tâm. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng các loài chim và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực hồ Đồng Mô, Hà Nội” nhằm trả lời 2 câu hỏi: (1).
Mức độ đa dạng các loài chim tại khu vực hồ Đồng Mô nhƣ thế nào? (2). Làm thế nào để giảm thiểu các tác động tiêu cực của ngƣời dân địa phƣơng đến các loài chim và sinh cảnh sống của chúng tại khu vực hồ Đồng Mô? 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại chim ở Việt Nam Hệ thống phân loại chim ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1: Phân loại Chim tại Việt Nam theo thời gian Năm Các loài chim Nguồn thông tin Bộ Họ Loài 1975 và 773 Võ Quý (1975; 1981) 1981 1995 19 81 828 Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) 1999 19 81 828 Võ Quý và Nguyễn Cử (1999) NguyễnCử.LêTrọngTrải,KarenPhillipps 2000 19 81 867 (2000) Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh 2011 20 88 887 Vân (2011) Võ Quý (1975; 1981)[14; 15] đã xây dựng tài liệu về hình thái và phân loại chim ở Việt Nam. Tác giả đã xây dựng khóa định loại chim cho 773 loài chim theo phƣơng pháp “phân chia đối lập”.
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về mặt hình thái phân loại và phân bố tự nhiên của chim trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên các thông tin mô tả về loài và hình ảnh của các loài còn rất hạn chế. Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử [12] đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu tại nhiều vùng trong cả nƣớc và đƣa ra danh lục các loài chim ở Việt Nam gồm 828 loài, 81 họ và 19 bộ trong cuốn “Danh lục Chim Việt Nam”. Tên tiếng Anh, tên khoa học và thứ tự sắp xếp các loài trong bản danh lục đƣợc sử dụng 3 theo Richard Howard và Alick Moore “A complete Checklist of the Birds of the World”.[26] Năm 1999, Võ Quý và Nguyễn Cử [13] tiếp tục tái bản một lần nữa cuốn “Danh lục chim Việt Nam”.
Tuy nhiên, số lƣợng của các loài vẫn không có sự thay đổi so với các nghiên cứu trƣớc đó. Năm 2000, Nguyễn Cử, Lê Trọng Khải, Karen Phillips [3] đã xây dựng cuốn “Chim Việt Nam” trên cơ sở cuốn sách Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc của các tác giả Clive Viney, Lam Chiu Ying và Karen Phillipps (1994)[23]. Trong tài liệu có bổ sung và thay đổi dựa trên các tài liệu mô tả trƣớc đó. Tình trạng của các loài và các loài mới đƣợc phát hiện ở Việt Nam cũng đƣợc cập nhật.
Trong phần phụ lục của cuốn sách Danh lục Chim Việt Nam có sự kế thừa của các tác giả Võ Quý và Nguyễn Cử (1995, 1999)[12;13] về thành phần loài và tên phổ thông của các loài. Cuốn sách đã sử dụng các bản đồ trong báo cáo mở rộng hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam cho thế kỷ 21. Ngoài ra, các tác giả có mô tả về đặc điểm loài (có cả hình ảnh minh họa), tình trạng, phân bố, nơi ở của 500 loài trên tổng số 850 loài thuộc 81 họ và 19 bộ. Vì vậy, các thông tin về các loài chƣa đƣợc mô tả cần tiếp tục bổ sung trong các nghiên cứu tiếp theo.
Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân [17] đã xây dựng tài liệu “Danh lục chim Việt Nam”. Bản danh lục là sự kế thừa các nghiên cứu trƣớc đây của Võ Quý và Nguyễn Cử và sắp xếp danh lục chim theo hệ thống phân loại đƣợc đề xuất bởi Sibley - Ahlquist - Monroe (SAM) và đƣợc sử dụng trong Danh lục chim thế giới (Complete Checklist of the Birds of the World), tái bản lần thứ 3 có chỉnh lý và bổ sung (Dickinson ed. Bên cạnh đó, các tác giả có bổ sung một số dẫn liệu mới về phân loại chim đƣợc công bố gần đây và tham khảo thêm cuốn Danh lục chim thế giới (The Clements Checklist of Birds of the World) tái bản lần thứ 6 năm 2007 của James F. Nghiên cứu phân loại học của Sibley-Ahlquist đã tách nhóm này ra và sếp vào một bộ mới là bộ Cun cút (Turniciformes).
Tuy nhiên, những nghiên cứu toàn diện về nhóm này gần đây đã xếp chúng vào bộ Rẽ (Charadriiformes). Bộ Sả (Coraciiformes) vốn bao gồm các họ Bói cá, họ Trảu, họ Sả rừng, họ Đầu rìu và họ Hồng hoàng. Theo nghiên cứu phân loại chim của Sibley- Ahlquist, các loài trong họ Hồng hoàng đƣợc tách riêng ra thành một bộ (bộ Hồng hoàng - Bucerotiformes), theo đó hai phân họ của nhóm này (Bucorvinae và Bucerotinae) đƣợc nâng lên thành bậc họ. Theo Hackett, 2008, bộ mới Bucerotiformes bao gồm 4 họ: Upupidae, Phoeniculidae, Bucerotidae, Bucorvidae.
Tuy nhiên, quan điểm phân loại học về việc tách thành bộ mới này còn nhiều điểm chƣa hoàn toàn thông nhất và còn tranh cãi. Vì vậy, trong danh lục này, các tác giả vẫn tạm giữ nguyên các họ trên trong bộ Sả (Coraciiformes). Một số loài chim cũng đƣợc sắp xếp lại vào những họ mới. Họ Chim xanh (Irenidae) trƣớc đây đƣợc chia thành 3 họ gồm: họ Chim nghệ - Aegithinidae, họ Chim lam - Irenidae và họ Chim xanh - Chloropseidae.
Một số loài nhƣ Đớp ruồi xanh gáy đen, Thiên đƣờng đuôi phƣớn trƣớc đƣợc đặt trong cùng họ với các loài Rẻ quạt nay đƣợc tách thành hai họ: Rẻ quạt (Rhipiduridae) và Thiên đƣờng (Monarchidae). Các loài chim chiền chiện, chích bông trƣớc đây đƣợc đặt trong họ Chim chích (Sylviidae) nay đƣợc xếp vào một họ riêng là họ Chiền chiện (Cisticolidae). Các loài chim thuộc giống Phylloscopus và Seicercus trƣớc đây đƣợc đặt trong họ Chim chích (Sylviidae) nay đƣợc tách ra xếp vào một họ riêng là học Chích phylo (Phylloscopidae). Một số loài chim hoét, sáo đất… trƣớc đây đƣợc đặt trong họ Chích chòe, nay đƣợc tách ra đặt trong họ Hoét (Turnidae).
Nhƣng ngƣợc lại, các loài oanh, chích chòe, đớp ruồi lại đƣợc gộp trong họ Đớp ruồi (Muscicapidae). Các loài cu rốc, thầy chùa trƣớc đƣợc đặt chung trong họ Gõ kiến (Picidae) nay đƣợc tách ra họ riêng là họ Cu rốc (Ramphastidae). Một số giống trong họ Chim chích (Sylviidae) trƣớc đây cũng đƣợc tách ra thành họ mới Cettiidae, có tên tiếng Anh là Cettiid warblers và chúng tôi tạm đặt cho họ mới này là họ Chích đớp ruồi. Họ này bao gồm các loài chim hót, ăn sâu bọ, kích thƣớc nhỏ và cho tới nay bao gồm 9 giống là: Abroscopus, Pholidornis, Hylia, Erythrocercus, Urosphena, Tesia, Cettia, Tickellia, Phyllergates.
Họ Phƣờng chèo nâu - Prionopidae trên thế giới có 3 giống: Prionops, Tephrodornis, Philentoma, ở Việt Nam hiện có 2 giống là Tephrodornis và Philentoma tổng cộng 3 loài, trƣớc đƣợc đặt chung trong họ Phƣờng chèo Campephaghidae. Trong Danh lục chim thế giới họ Xúc cá (Rynchopidae) đƣợc chuyển xuống taxon phân họ (Rynchopinae) thuộc họ Mòng bể (Laridae). Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu phân loại gần đây vẫn khẳng định đó là một họ tách biệt nên trong Danh lục chim Việt Nam các tác giả vẫn để các loài trong nhóm này là một họ riêng nhƣ trƣớc đây. Một số họ trƣớc đây trong Danh lục chim của Võ Quý v à Nguyễn Cử (1995)[12] có đặt tên phổ thông trùng nhau, điều này bất tiện cho việc sử dụng.
Vì vậy, nhóm tác giả đã đặt tên mới để phân biệt. Ví dụ: họ Fringillidae trƣớc đây đặt là họ Sẻ đồng (trùng tên với họ Emberizidae) nay đổi là họ Sẻ thông. Họ Ploceidae trƣớc đây đặt tên là họ Sẻ (trùng tên với họ Passeridae) nay đổi là họ Rồng rộc. Nhiều loài chim có sự thay đổi giống so với trƣớc đây dựa trên các kết quả nghiên cứu đạt đƣợc gần đây về phân loại chim.
Ví dụ: loài Ngan cánh trắng (White- winged Wood Duck) trƣớc đây đƣợc đặt trong giống Cairina nay đƣợc chuyển sang giống Asarcornis và có tên khoa học mới là Asarcornis scutulata (Müller, 1842). Loài Khƣớu ngực vàng trƣớc đây chỉ đƣợc coi là phân loài của loài Khƣớu ngực đốm (Garrulax merulina) nhƣng nay đƣợc tách ra thành một loài riêng có tên khoa học là Garrulax annamensis. Đôi khi giống của loài này đƣợc tách ra thành giống mới là Stactocichla, nhƣng trong danh lục này các tác giả vẫn giữ nguyên giống cũ là 6 Garrulax. Cũng nhƣ vậy, loài trĩ edwards trƣớc đây gồm hai phân loài là Lophura edwardsi edwardsi và L.