Nghiên cứu tính đa dạng các loài chim và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực hồ đồng mô hà nội

Khám phá đa dạng các loài chim tại Hồ Đồng Mô, Hà Nội. Nghiên cứu sâu về đặc điểm, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn bền vững, bảo vệ hệ sinh thái.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. PHẦN I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Phân loại chim ở Việt Nam

1.2. Đánh giá mức độ đa dạng

1.3. Lƣợc sử nghiên cứu chim tại khu vực hồ Đồng Mô

2. PHẦN II: MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tƣợng nghiên cứu

2.3. Phạm vi nghiên cứu

2.3.1. Về địa điểm

2.3.2. Về thời gian

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.5.1. Phƣơng pháp kế thừa tài liệu

2.5.2. Phƣơng pháp phỏng vấn

2.5.3. Phƣơng pháp điều tra theo tuyến

2.5.4. Phƣơng pháp bắt thả chim bằng lƣới mờ

2.5.5. Phƣơng pháp xác định các mối đe dọa đến các loài chim

2.5.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu

3. PHẦN III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiên tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Tài nguyên nƣớc

3.2. Kinh tế xã hội

3.2.1. Dân số, diện tích và giao thông

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thành phần các loài chim tại khu vực hồ Đồng Mô

4.1.1. Thành phần loài

4.2. Mức độ đa dạng các loài chim tại khu vực hồ Đồng Mô

4.2.1. Mức độ đa dạng giữa các bộ chim

4.2.2. Mức độ đa đạng giữa các họ chim tại khu vực hồ Đồng Mô

4.2.3. Mức độ đa dạng các loài chim ở Đồng Mô so với các khu vực lân cận

4.3. Các mối đe dọa tới khu hệ chim tại khu vực nghiên cứu

4.3.1. Săn bắn động vật hoang dã

4.3.2. San lấp lấn chiếm lòng hồ, chất thải sinh hoạt

4.3.3. Thực vật xâm lấn

4.3.4. Xếp hạng các mối đe dọa

4.4. Đề xuất giải pháp quản lý bảo vệ trong khu vực nghiên cứu

4.4.1. Giải pháp giảm thiểu ảnh hƣởng của các mối đe dọa

4.4.2. Giải pháp về kinh tế xã hội nâng cao đời sống ngƣời dân

4.4.3. Nâng cao nhận thức cho cộng đồng và các hình thức hỗ trợ khác

4.4.4. Giải pháp bảo tồn các loài chim trong khu vực nghiên cứu

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đa dạng các loài chim tại hồ Đồng Mô Hà Nội

Khu vực hồ Đồng Mô, nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km về phía Tây, là một vùng bán sơn địa có giá trị cao về cảnh quan và sinh thái. Đây không chỉ là điểm du lịch hấp dẫn mà còn là môi trường sống quan trọng cho nhiều loài động thực vật hoang dã. Đặc biệt, hệ sinh thái hồ Đồng Mô với các đảo nhỏ, thảm thực vật ven hồ và diện tích mặt nước rộng lớn tạo nên sinh cảnh lý tưởng cho nhiều loài chim, bao gồm cả chim định cư và chim di cư tại Hà Nội. Nghiên cứu về đa dạng sinh học chim tại khu vực này có ý nghĩa cấp thiết, không chỉ để xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học mà còn là nền tảng để đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả. Trước đây, các công trình nghiên cứu về khu hệ chim tại đây còn rất hạn chế, điển hình là nghiên cứu của Nguyễn Huy Hoàng (2012) ghi nhận 82 loài. Nghiên cứu mới nhất đã cập nhật và mở rộng danh lục này, cho thấy tiềm năng đa dạng sinh học lớn hơn nhiều so với các đánh giá ban đầu. Việc hiểu rõ thành phần loài, phân bố và tình trạng của chúng là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất trong nỗ lực quản lý bền vững tài nguyên và bảo vệ các giá trị tự nhiên độc đáo của khu vực, gắn liền với các địa danh nổi tiếng lân cận như Làng văn hóa các dân tộc Việt NamVườn quốc gia Ba Vì.

1.1. Vị trí địa lý và vai trò của hệ sinh thái hồ Đồng Mô

Hồ Đồng Mô là một hồ nước ngọt nhân tạo thuộc địa phận thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì, Hà Nội. Với tổng diện tích khoảng 1.300 ha và 21 hòn đảo lớn nhỏ, khu vực này tạo nên một hệ sinh thái đất ngập nước phức hợp. Địa hình đồi núi thấp xen kẽ mặt nước cung cấp nhiều dạng sinh cảnh khác nhau: từ rừng trồng, trảng cỏ, cây bụi ven hồ đến các bãi đất ngập nước. Sự đa dạng về sinh cảnh này chính là yếu tố then chốt tạo nên sự phong phú của khu hệ chim. Hệ sinh thái hồ Đồng Mô không chỉ cung cấp nguồn thức ăn dồi dào (cá, tôm, côn trùng) mà còn là nơi trú ngụ, làm tổ và sinh sản an toàn cho nhiều loài. Vai trò của hồ không chỉ dừng lại ở du lịch hay điều tiết nước, mà còn là một "trạm dừng chân" quan trọng trên đường bay của các loài chim di cư tại Hà Nội, góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái của cả khu vực rộng lớn.

1.2. Lược sử nghiên cứu và sự cần thiết của công tác bảo tồn

Các nghiên cứu về chim tại hồ Đồng Mô trước đây còn khá ít ỏi. Công trình của Nguyễn Huy Hoàng (2012) là một trong những tài liệu tham khảo chính, đã ghi nhận 82 loài chim thuộc 34 họ và 13 bộ. Tuy nhiên, với sự biến đổi của môi trường và các phương pháp khảo sát mới, việc cập nhật và đánh giá lại là vô cùng cần thiết. Thực tế cho thấy, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đang gây áp lực ngày càng lớn lên môi trường tự nhiên. Vì vậy, việc tiến hành một khảo sát thực địa chim chi tiết nhằm xác định hiện trạng, lập danh lục các loài chim hồ Đồng Mô và đánh giá các mối đe dọa đến quần thể chim là nhiệm vụ cấp bách. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học vững chắc để xây dựng các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

II. Phân tích các mối đe dọa đến quần thể chim tại hồ Đồng Mô

Mặc dù sở hữu tiềm năng đa dạng sinh học lớn, khu hệ chim tại hồ Đồng Mô đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Các mối đe dọa đến quần thể chim chủ yếu đến từ hoạt động của con người, gây suy giảm số lượng cá thể và phá hủy môi trường sống của chim. Mối đe dọa lớn nhất và trực tiếp nhất là tình trạng săn bắn, bẫy bắt trái phép. Người dân địa phương sử dụng nhiều hình thức như lưới mờ, bẫy sập để bắt chim làm thực phẩm, làm cảnh hoặc bán cho các nhà hàng. Hoạt động này không chỉ nhắm vào các loài phổ biến mà còn đe dọa cả các loài chim trong sách đỏ. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa và phát triển du lịch thiếu quy hoạch đang dần làm thay đổi sinh cảnh tự nhiên. Việc san lấp, lấn chiếm lòng hồ để xây dựng các khu nghỉ dưỡng, sân golf làm thu hẹp diện tích đất ngập nước và các bãi kiếm ăn quan trọng. Ô nhiễm nguồn nước từ chất thải sinh hoạt và nông nghiệp cũng ảnh hưởng tiêu cực đến chuỗi thức ăn, gián tiếp tác động đến sức khỏe và khả năng sinh sản của các loài chim. Cuối cùng, sự xâm lấn của các loài thực vật ngoại lai cũng là một vấn đề đáng lo ngại, làm thay đổi cấu trúc thảm thực vật bản địa.

2.1. Tình trạng săn bắn và bẫy bắt động vật hoang dã

Săn bắn và bẫy bắt là mối đe dọa trực tiếp và nghiêm trọng nhất tại hồ Đồng Mô. Khảo sát thực địa cho thấy hình ảnh người dân sử dụng lưới mờ để bẫy chim vẫn còn tồn tại. Các loài chim bị bắt không chỉ phục vụ nhu cầu thực phẩm tại chỗ mà còn được bán làm chim cảnh, gây suy giảm nghiêm trọng số lượng của nhiều loài. Hoạt động này diễn ra tràn lan, thiếu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm của nhiều quần thể, đặc biệt là các loài chim nước và chim có giá trị kinh tế cao, ảnh hưởng trực tiếp đến nỗ lực bảo tồn loài chim quý hiếm.

2.2. Suy thoái môi trường sống do san lấp và ô nhiễm

Việc mở rộng các khu du lịch, sân golf và khu dân cư đang dẫn đến các hoạt động san lấp, lấn chiếm lòng hồ. Điều này làm mất đi các bãi triều, thảm cỏ và vùng nước nông – là môi trường sống của chim, đặc biệt là các loài chim nước và chim di cư đến kiếm ăn. Hình ảnh từ nghiên cứu cho thấy các hoạt động xây dựng làm biến đổi cảnh quan một cách mạnh mẽ. Ngoài ra, chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư và khu du lịch xung quanh chưa được xử lý triệt để, đổ trực tiếp ra hồ gây ô nhiễm nguồn nước. Tình trạng cá chết do ô nhiễm đã được ghi nhận, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn và sức khỏe của các loài chim ăn cá như bói cá, cò, diệc. Đây là một trong những mối đe dọa đến quần thể chim mang tính lâu dài và khó khắc phục.

2.3. Tác động từ thực vật ngoại lai xâm lấn và cháy rừng

Sự phát triển của các loài thực vật ngoại lai như cây mai dương (trinh nữ đầm lầy) đang mọc lấn át các thảm thực vật bản địa quanh hồ. Chúng phát triển nhanh, tạo thành những thảm dày đặc, làm thay đổi cấu trúc sinh cảnh và giảm sự đa dạng của các loài cây cỏ tự nhiên, vốn là nơi kiếm ăn và làm tổ của nhiều loài chim nhỏ. Bên cạnh đó, các vụ cháy rừng, dù ở quy mô nhỏ tại các khu vực đồi keo ven hồ như ở thôn Nghĩa Sơn, cũng gây ra những tác động tiêu cực. Cháy rừng không chỉ phá hủy thảm thực vật mà còn trực tiếp tiêu diệt tổ và trứng của các loài chim làm tổ trên mặt đất hoặc trong các bụi rậm, gây xáo trộn và làm mất nơi cư trú an toàn của chúng.

III. Phương pháp bảo tồn đa dạng sinh học chim tại hồ Đồng Mô

Để đối phó với các thách thức hiện hữu, việc xây dựng và triển khai các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học một cách đồng bộ là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp này cần tập trung vào ba trụ cột chính: quản lý và thực thi pháp luật, phục hồi sinh cảnh, và nâng cao nhận thức cộng đồng. Trước hết, cần tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi săn bắt, bẫy chim trái phép. Việc thành lập các tổ, đội bảo vệ dựa vào cộng đồng có thể nâng cao hiệu quả giám sát. Đồng thời, các giải pháp phục hồi sinh cảnh cần được ưu tiên. Điều này bao gồm việc kiểm soát và loại bỏ các loài thực vật ngoại lai xâm lấn, trồng lại các loài cây bản địa phù hợp để tạo hành lang xanh và nơi làm tổ cho chim. Việc quy hoạch và quản lý chặt chẽ các hoạt động xây dựng, san lấp ven hồ là yếu tố sống còn để bảo vệ các vùng đất ngập nước quan trọng. Cuối cùng, không một giải pháp nào có thể thành công nếu thiếu sự tham gia của người dân địa phương. Do đó, công tác truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về giá trị của đa dạng sinh học chim và tầm quan trọng của việc bảo tồn là nền tảng cho sự thành công lâu dài.

3.1. Tăng cường thực thi pháp luật và quản lý bảo vệ

Giải pháp hàng đầu là tăng cường năng lực cho các lực lượng chức năng như kiểm lâm, chính quyền địa phương trong việc tuần tra, giám sát và xử lý vi phạm. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, bao gồm ban quản lý các khu du lịch và cộng đồng dân cư. Việc xây dựng một quy chế quản lý rõ ràng cho khu vực hồ Đồng Mô, trong đó xác định các vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng đệm và vùng phát triển là rất cần thiết. Các quy định về cấm săn bắn, bẫy bắt và các hình thức xử phạt phải được phổ biến rộng rãi và thực thi một cách nghiêm minh. Đồng thời, cần điều tra và triệt phá các đường dây mua bán, tiêu thụ chim hoang dã tại các nhà hàng, quán ăn trong khu vực.

3.2. Phục hồi sinh cảnh và môi trường sống của chim

Phục hồi môi trường sống của chim là một giải pháp mang tính gốc rễ. Các chương trình cần tập trung vào việc khoanh vùng và xử lý các khu vực bị thực vật ngoại lai xâm lấn, thay thế bằng các loài cây cỏ bản địa. Việc trồng thêm cây xanh tại các đảo và ven hồ không chỉ tạo bóng mát, cải thiện cảnh quan mà còn cung cấp thêm nơi trú ngụ và làm tổ cho các loài chim. Quan trọng hơn, cần có quy hoạch sử dụng đất bền vững, nghiêm cấm các hoạt động san lấp tại các khu vực nhạy cảm về sinh thái, đặc biệt là các bãi kiếm ăn của chim nước. Các dự án xử lý nước thải cho khu dân cư và du lịch cần được đầu tư để giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ nguồn lợi thủy sản – nguồn thức ăn chính của nhiều loài chim.

IV. Hướng dẫn phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Đồng Mô

Một trong những giải pháp dài hạn và hiệu quả nhất là chuyển đổi mô hình kinh tế, gắn liền lợi ích của người dân địa phương với công tác bảo tồn. Phát triển du lịch sinh thái Đồng Mô là một hướng đi đầy tiềm năng, vừa tạo sinh kế bền vững, vừa góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Thay vì du lịch nghỉ dưỡng đại trà gây tác động lớn, mô hình du lịch sinh thái tập trung vào các hoạt động trải nghiệm thiên nhiên như quan sát chim (bird-watching), đi bộ khám phá, chèo thuyền kayak. Để làm được điều này, cần có sự đầu tư vào việc đào tạo hướng dẫn viên bản địa, những người am hiểu về hệ sinh thái và các loài chim tại đây. Xây dựng các tuyến tham quan, các chòi quan sát chim một cách hợp lý để giảm thiểu tác động đến môi trường sống của chúng. Lợi ích kinh tế thu được từ du lịch sinh thái sẽ tạo động lực để chính cộng đồng tham gia bảo vệ khu hệ chim Sơn Tây. Mô hình này cũng cần được lồng ghép với việc quảng bá các giá trị văn hóa bản địa, kết nối với các điểm đến lân cận như Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam để tạo ra một sản phẩm du lịch độc đáo và có trách nhiệm.

4.1. Xây dựng mô hình du lịch quan sát chim Bird watching

Hồ Đồng Mô với danh lục chim phong phú là địa điểm lý tưởng để phát triển du lịch quan sát chim. Cần xây dựng các tuyến, điểm quan sát chim chuyên nghiệp, lắp đặt các bảng thông tin về các loài chim thường gặp. Tổ chức các tour du lịch có hướng dẫn viên chuyên nghiệp, được đào tạo từ chính người dân địa phương. Mô hình này không chỉ mang lại thu nhập trực tiếp cho người dân mà còn biến họ thành những người bảo vệ tích cực nhất cho tài nguyên chim. Lợi nhuận từ hoạt động này có thể được tái đầu tư một phần cho các hoạt động tuần tra, giám sát và nghiên cứu, tạo ra một vòng tuần hoàn quản lý bền vững tài nguyên.

4.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ sinh kế

Các chương trình nâng cao nhận thức cần được tổ chức thường xuyên cho cộng đồng địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nội dung tuyên truyền tập trung vào giá trị không thể thay thế của đa dạng sinh học chim, tác hại của việc săn bắn và lợi ích lâu dài của việc bảo tồn. Bên cạnh đó, cần có các chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho các hộ gia đình có thu nhập phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Hỗ trợ họ tham gia vào chuỗi dịch vụ du lịch như homestay, ẩm thực địa phương, bán các sản phẩm thủ công. Khi đời sống kinh tế được cải thiện và ổn định, áp lực lên tài nguyên thiên nhiên sẽ giảm, góp phần vào thành công của các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học.

V. Kết quả khảo sát Danh lục 113 loài chim tại hồ Đồng Mô

Kết quả khảo sát thực địa chim tại hồ Đồng Mô đã ghi nhận một sự đa dạng ấn tượng với tổng số 113 loài, thuộc 84 giống, 44 họ và 15 bộ. Con số này cao hơn đáng kể so với nghiên cứu trước đó của Nguyễn Huy Hoàng (2012) với 82 loài. Điều này cho thấy tiềm năng thực sự của khu vực và hiệu quả của các phương pháp điều tra mới. Trong số 113 loài, có 31 loài được bổ sung mới vào danh lục các loài chim hồ Đồng Mô. Bộ Sẻ (Passeriformes) thể hiện sự đa dạng cao nhất với 63 loài, chiếm 55,75% tổng số loài được ghi nhận. Kết quả này phản ánh sự đa dạng của các sinh cảnh trên cạn như rừng trồng, cây bụi, trảng cỏ. Đáng chú ý, nghiên cứu cũng đã ghi nhận sự hiện diện của 5 loài chim quý hiếm, cần được ưu tiên bảo tồn, bao gồm các loài chim trong sách đỏ Việt Nam và danh lục IUCN như Cò trắng Trung Quốc (Egretta eulophotes) và Bói cá lớn (Megaceryle lugubris). Sự phong phú về thành phần loài khẳng định hồ Đồng Mô là một điểm nóng về đa dạng sinh học ở khu vực Hà Nội.

5.1. Phân tích thành phần và sự đa dạng của các họ chim

Trong 15 bộ chim được ghi nhận, bộ Sẻ (Passeriformes) là đa dạng nhất, tiếp theo là bộ Rẽ (Charadriiformes) và bộ Hạc (Ciconiiformes). Sự đa dạng của bộ Sẻ cho thấy sự phong phú của các sinh cảnh rừng và cây bụi. Trong khi đó, sự hiện diện của nhiều loài thuộc bộ Rẽ và bộ Hạc khẳng định tầm quan trọng của các vùng đất ngập nước và mặt hồ. Nghiên cứu cũng chỉ ra 14 họ chim đa dạng nhất, trong đó họ Diệc (Ardeidae) và họ Chào mào (Pycnonotidae) là những họ có nhiều loài. Việc phân tích cấu trúc thành phần loài theo từng họ, bộ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm của khu hệ chim Sơn Tây, từ đó định hướng các biện pháp bảo tồn phù hợp cho từng nhóm sinh cảnh cụ thể.

5.2. Ghi nhận các loài chim quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn

Một trong những phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu là việc xác định 5 loài chim quý hiếm tại hồ Đồng Mô. Trong đó có 2 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007 ở mức độ "Sẽ nguy cấp" (VU) là Cò trắng Trung Quốc và Bói cá lớn. Loài Cò trắng Trung Quốc cũng được IUCN xếp ở mức VU trên toàn cầu. Ba loài khác là Vẹt đầu hồng, Vẹt ngực đỏ và Cú lợn lưng xám nằm trong danh mục IIB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, thuộc nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Sự hiện diện của các loài chim trong sách đỏ này nhấn mạnh giá trị bảo tồn đặc biệt của hồ Đồng Mô, đòi hỏi phải có các kế hoạch hành động khẩn cấp để bảo vệ quần thể và môi trường sống của chim.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Khu hệ chim Việt Nam đa dạng và phong phú với 887 loài thuộc 88 họ và 20 bộ chim (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011)[17]. Số lƣợng chim hiện biết ở Việt Nam chiếm hơn 9% tổng số loài chim hiện biết trên thế giới là 9800 loài (James, Clements F, 2007)[25] và chiếm 34% tổng số loài chim ghi nhận tại vùng Phƣơng Đông là 2. Trong số các loài chim đƣợc biết đến ở Việt Nam có 11 loài chim đặc hữu, 40 loài chim quý hiếm đang bị đe dọa trên phạm vi toàn cầu và 75 loài chim đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007)[1]. Cũng giống nhƣ các nhóm loài động vật khác, các loài chim ở nƣớc ta hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nguy cơ mất môi trƣờng sống do sự gia tăng dân số thúc đẩy việc chiếm đất nông nghiệp, chặt phá rừng và mở rộng diện tích xây dựng.

Bên cạnh đó, nhu cầu và thói quen sở thích ăn thịt rừng của nhiều ngƣời dẫn đến việc săn bắn quá mức đe dọa tuyệt chủng cho nhiều loài chim quý hiếm. Vì vậy, việc điều tra tính đa dạng chim tại các vùng miền để xây dựng cơ sở dữ liệu bảo tồn các loài chim là rất cần thiết. Hồ Đồng Mô là hồ nƣớc ngọt nhân tạo thuộc địa phận xã Kim Sơn, thị xã Sơn Tây và một phần thuộc huyện Ba Vì, TP. Hồ Đồng Mô cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km về phía Tây Bắc, là một vùng bán sơn thủy có diện tích 1.

Trƣớc những vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng, khu vực hồ Đồng Mô đã trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn cho các du khách trong nƣớc và quốc tế nhƣ Sân Golf, Đảo dài, các khu nghỉ dƣỡng. Không những vậy, hồ Đồng Mô là nơi sinh sống của nhiều loài thực vật, động vật hoang dã nhƣ sen, súng, các trảm cỏ lau sậy…và đặc biệt, trong lòng hồ có nhiều đảo nhỏ tạo nên các dạng sinh cảnh và nơi cƣ chú khác nhau cho nhiều loài chim. Tuy nhiên, đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu nào về đa dạng các loài chim tại hồ Đồng Mô trong khi hồ Đồng Mồ không những là khu vực duy nhất ở Việt Nam hiện còn loài Rùa hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) sinh sống mà còn là một khu du 1 lịch sinh thái nên các vấn đề bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học cần đƣợc quan tâm. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng các loài chim và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực hồ Đồng Mô, Hà Nội” nhằm trả lời 2 câu hỏi: (1).

Mức độ đa dạng các loài chim tại khu vực hồ Đồng Mô nhƣ thế nào? (2). Làm thế nào để giảm thiểu các tác động tiêu cực của ngƣời dân địa phƣơng đến các loài chim và sinh cảnh sống của chúng tại khu vực hồ Đồng Mô? 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại chim ở Việt Nam Hệ thống phân loại chim ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1: Phân loại Chim tại Việt Nam theo thời gian Năm Các loài chim Nguồn thông tin Bộ Họ Loài 1975 và 773 Võ Quý (1975; 1981) 1981 1995 19 81 828 Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) 1999 19 81 828 Võ Quý và Nguyễn Cử (1999) NguyễnCử.LêTrọngTrải,KarenPhillipps 2000 19 81 867 (2000) Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh 2011 20 88 887 Vân (2011) Võ Quý (1975; 1981)[14; 15] đã xây dựng tài liệu về hình thái và phân loại chim ở Việt Nam. Tác giả đã xây dựng khóa định loại chim cho 773 loài chim theo phƣơng pháp “phân chia đối lập”.

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về mặt hình thái phân loại và phân bố tự nhiên của chim trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên các thông tin mô tả về loài và hình ảnh của các loài còn rất hạn chế. Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử [12] đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu tại nhiều vùng trong cả nƣớc và đƣa ra danh lục các loài chim ở Việt Nam gồm 828 loài, 81 họ và 19 bộ trong cuốn “Danh lục Chim Việt Nam”. Tên tiếng Anh, tên khoa học và thứ tự sắp xếp các loài trong bản danh lục đƣợc sử dụng 3 theo Richard Howard và Alick Moore “A complete Checklist of the Birds of the World”.[26] Năm 1999, Võ Quý và Nguyễn Cử [13] tiếp tục tái bản một lần nữa cuốn “Danh lục chim Việt Nam”.

Tuy nhiên, số lƣợng của các loài vẫn không có sự thay đổi so với các nghiên cứu trƣớc đó. Năm 2000, Nguyễn Cử, Lê Trọng Khải, Karen Phillips [3] đã xây dựng cuốn “Chim Việt Nam” trên cơ sở cuốn sách Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc của các tác giả Clive Viney, Lam Chiu Ying và Karen Phillipps (1994)[23]. Trong tài liệu có bổ sung và thay đổi dựa trên các tài liệu mô tả trƣớc đó. Tình trạng của các loài và các loài mới đƣợc phát hiện ở Việt Nam cũng đƣợc cập nhật.

Trong phần phụ lục của cuốn sách Danh lục Chim Việt Nam có sự kế thừa của các tác giả Võ Quý và Nguyễn Cử (1995, 1999)[12;13] về thành phần loài và tên phổ thông của các loài. Cuốn sách đã sử dụng các bản đồ trong báo cáo mở rộng hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam cho thế kỷ 21. Ngoài ra, các tác giả có mô tả về đặc điểm loài (có cả hình ảnh minh họa), tình trạng, phân bố, nơi ở của 500 loài trên tổng số 850 loài thuộc 81 họ và 19 bộ. Vì vậy, các thông tin về các loài chƣa đƣợc mô tả cần tiếp tục bổ sung trong các nghiên cứu tiếp theo.

Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân [17] đã xây dựng tài liệu “Danh lục chim Việt Nam”. Bản danh lục là sự kế thừa các nghiên cứu trƣớc đây của Võ Quý và Nguyễn Cử và sắp xếp danh lục chim theo hệ thống phân loại đƣợc đề xuất bởi Sibley - Ahlquist - Monroe (SAM) và đƣợc sử dụng trong Danh lục chim thế giới (Complete Checklist of the Birds of the World), tái bản lần thứ 3 có chỉnh lý và bổ sung (Dickinson ed. Bên cạnh đó, các tác giả có bổ sung một số dẫn liệu mới về phân loại chim đƣợc công bố gần đây và tham khảo thêm cuốn Danh lục chim thế giới (The Clements Checklist of Birds of the World) tái bản lần thứ 6 năm 2007 của James F. Nghiên cứu phân loại học của Sibley-Ahlquist đã tách nhóm này ra và sếp vào một bộ mới là bộ Cun cút (Turniciformes).

Tuy nhiên, những nghiên cứu toàn diện về nhóm này gần đây đã xếp chúng vào bộ Rẽ (Charadriiformes). Bộ Sả (Coraciiformes) vốn bao gồm các họ Bói cá, họ Trảu, họ Sả rừng, họ Đầu rìu và họ Hồng hoàng. Theo nghiên cứu phân loại chim của Sibley- Ahlquist, các loài trong họ Hồng hoàng đƣợc tách riêng ra thành một bộ (bộ Hồng hoàng - Bucerotiformes), theo đó hai phân họ của nhóm này (Bucorvinae và Bucerotinae) đƣợc nâng lên thành bậc họ. Theo Hackett, 2008, bộ mới Bucerotiformes bao gồm 4 họ: Upupidae, Phoeniculidae, Bucerotidae, Bucorvidae.

Tuy nhiên, quan điểm phân loại học về việc tách thành bộ mới này còn nhiều điểm chƣa hoàn toàn thông nhất và còn tranh cãi. Vì vậy, trong danh lục này, các tác giả vẫn tạm giữ nguyên các họ trên trong bộ Sả (Coraciiformes). Một số loài chim cũng đƣợc sắp xếp lại vào những họ mới. Họ Chim xanh (Irenidae) trƣớc đây đƣợc chia thành 3 họ gồm: họ Chim nghệ - Aegithinidae, họ Chim lam - Irenidae và họ Chim xanh - Chloropseidae.

Một số loài nhƣ Đớp ruồi xanh gáy đen, Thiên đƣờng đuôi phƣớn trƣớc đƣợc đặt trong cùng họ với các loài Rẻ quạt nay đƣợc tách thành hai họ: Rẻ quạt (Rhipiduridae) và Thiên đƣờng (Monarchidae). Các loài chim chiền chiện, chích bông trƣớc đây đƣợc đặt trong họ Chim chích (Sylviidae) nay đƣợc xếp vào một họ riêng là họ Chiền chiện (Cisticolidae). Các loài chim thuộc giống Phylloscopus và Seicercus trƣớc đây đƣợc đặt trong họ Chim chích (Sylviidae) nay đƣợc tách ra xếp vào một họ riêng là học Chích phylo (Phylloscopidae). Một số loài chim hoét, sáo đất… trƣớc đây đƣợc đặt trong họ Chích chòe, nay đƣợc tách ra đặt trong họ Hoét (Turnidae).

Nhƣng ngƣợc lại, các loài oanh, chích chòe, đớp ruồi lại đƣợc gộp trong họ Đớp ruồi (Muscicapidae). Các loài cu rốc, thầy chùa trƣớc đƣợc đặt chung trong họ Gõ kiến (Picidae) nay đƣợc tách ra họ riêng là họ Cu rốc (Ramphastidae). Một số giống trong họ Chim chích (Sylviidae) trƣớc đây cũng đƣợc tách ra thành họ mới Cettiidae, có tên tiếng Anh là Cettiid warblers và chúng tôi tạm đặt cho họ mới này là họ Chích đớp ruồi. Họ này bao gồm các loài chim hót, ăn sâu bọ, kích thƣớc nhỏ và cho tới nay bao gồm 9 giống là: Abroscopus, Pholidornis, Hylia, Erythrocercus, Urosphena, Tesia, Cettia, Tickellia, Phyllergates.

Họ Phƣờng chèo nâu - Prionopidae trên thế giới có 3 giống: Prionops, Tephrodornis, Philentoma, ở Việt Nam hiện có 2 giống là Tephrodornis và Philentoma tổng cộng 3 loài, trƣớc đƣợc đặt chung trong họ Phƣờng chèo Campephaghidae. Trong Danh lục chim thế giới họ Xúc cá (Rynchopidae) đƣợc chuyển xuống taxon phân họ (Rynchopinae) thuộc họ Mòng bể (Laridae). Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu phân loại gần đây vẫn khẳng định đó là một họ tách biệt nên trong Danh lục chim Việt Nam các tác giả vẫn để các loài trong nhóm này là một họ riêng nhƣ trƣớc đây. Một số họ trƣớc đây trong Danh lục chim của Võ Quý v à Nguyễn Cử (1995)[12] có đặt tên phổ thông trùng nhau, điều này bất tiện cho việc sử dụng.

Vì vậy, nhóm tác giả đã đặt tên mới để phân biệt. Ví dụ: họ Fringillidae trƣớc đây đặt là họ Sẻ đồng (trùng tên với họ Emberizidae) nay đổi là họ Sẻ thông. Họ Ploceidae trƣớc đây đặt tên là họ Sẻ (trùng tên với họ Passeridae) nay đổi là họ Rồng rộc. Nhiều loài chim có sự thay đổi giống so với trƣớc đây dựa trên các kết quả nghiên cứu đạt đƣợc gần đây về phân loại chim.

Ví dụ: loài Ngan cánh trắng (White- winged Wood Duck) trƣớc đây đƣợc đặt trong giống Cairina nay đƣợc chuyển sang giống Asarcornis và có tên khoa học mới là Asarcornis scutulata (Müller, 1842). Loài Khƣớu ngực vàng trƣớc đây chỉ đƣợc coi là phân loài của loài Khƣớu ngực đốm (Garrulax merulina) nhƣng nay đƣợc tách ra thành một loài riêng có tên khoa học là Garrulax annamensis. Đôi khi giống của loài này đƣợc tách ra thành giống mới là Stactocichla, nhƣng trong danh lục này các tác giả vẫn giữ nguyên giống cũ là 6 Garrulax. Cũng nhƣ vậy, loài trĩ edwards trƣớc đây gồm hai phân loài là Lophura edwardsi edwardsi và L.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ