ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, các bệnh lý răng miệng như sâu răng, viêm nướu và viêm nha chu đang ngày càng trở nên phổ biến. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 3,5 tỷ người trên toàn thế giới bị ảnh hưởng bởi các bệnh lý răng miệng, trong đó sâu răng và viêm nha chu là hai bệnh phổ biến nhất, đặc biệt ở trẻ em và người lớn tuổi. Nếu không được điều trị kịp thời, những bệnh lý này không chỉ gây đau đớn và khó chịu mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe tổng thể của người bệnh [53]. Trong bối cảnh đó, các chất sát khuẩn có nguồn gốc hóa học đã được nghiên cứu và phát triển nhằm hỗ trợ việc kiểm soát và ngăn ngừa vi khuẩn gây bệnh trong khoang miệng [54].
Nhờ khả năng kháng khuẩn mạnh mẽ và hoạt phổ rộng, CHX có hiệu quả cao trong việc tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, giảm mảng bám và viêm nướu. Tuy nhiên, việc sử dụng CHX cũng cần được cân nhắc do có thể gây ra một số tác dụng phụ như ố màu răng và thay đổi vị giác [46]. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và phát triển các chế phẩm nước súc miệng đang ngày càng nhận được sự quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về đặc tính vật lý và khả năng kháng vi sinh vật của các sản phẩm NSM chứa CHX vẫn còn rất hạn chế [6].
Sự ảnh hưởng của các thành phần tá dược lên hiệu quả diệt khuẩn của chế phẩm vẫn chưa được khảo sát. Điều này đặt ra nhu cầu cấp thiết về việc thực hiện các nghiên cứu cụ thể để đánh giá tác dụng và hiệu quả của các sản phẩm này trong điều kiện sử dụng thực tế. Nhằm phát triển một chế phẩm nước súc miệng có khả năng ngăn ngừa hiệu quả các chủng vi sinh vật gây bệnh, đề tài “Khảo sát một số tính chất lý hóa và kháng vi sinh vật của dung dịch nước súc miệng Chlorhexidine Digluconate 0,12%” được thực hiện và hướng đến các mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu một số đặc tính vi sinh của dung dịch Chlorhexidine Digluconate.
Xây dựng công thức nước súc miệng Chlorhexidine digluconate 0,12%. Đánh giá tính chất lý hóa và tác dụng trên VSV ở dạng tự do của dung dịch nước súc miệng Chlorhexidine digluconate 0,12%. Một số bệnh lý liên quan đến răng miệng 1. Sâu răng Sâu răng là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến trên thế giới, gây hậu quả nặng nề ở nhiều mức lên về sức khoẻ răng miệng và sức khoẻ chung.
Theo nghiên cứu của The Global Burden of Disease Study năm 2017 ước tính có 2,3 tỷ người trên thế giới bị sâu răng mạn tính, và hơn 530 triệu trẻ em bị sâu răng sữa [19]. Hệ vi khuẩn răng miệng là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh sâu răng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng vi khuẩn S. mutans, Lactobacillus spp.
đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây sâu răng ở người. Streptococcus mutans là vi khuẩn Gram dương cư trú trong các biofilm đa loài trên bề mặt răng [40]. Vi khuẩn này là một trong nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tình trạng sâu răng. Trong môi trường pH thấp, S.
mutans có thể tồn tại nhờ khả năng bám dính tốt lên bề mặt răng đồng thời điều chỉnh các con đường trao đổi các thành phần dinh dưỡng. mutans kết hợp với các VSV, tăng sinh và lan sang các vị trí khác trong niêm mạc miệng. Cuối cùng, biofilm đạt đến trạng thái ổn định làm thay đổi sự cân bằng cân bằng của hệ sinh thái trong khoang miệng, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào các mô sâu hơn và vào vùng nướu, gây ra sự hòa tan các tinh thể hydroxyapatite trong men răng và ngà răng, dẫn đến hình thành các hốc trong răng [28], [35]. Candida albicans là một vi nấm phổ biến, thường kí sinh trên bề mặt niêm mạc các bộ phận cơ thể con người, trong đó có niêm mạc miệng [35].
Trong khoang miệng, sự tồn tại của C. albicans phụ thuộc vào sự tương tác với các vi khuẩn khác [18]. Ngoài việc cung cấp các vị trí bám dính, Streptococci còn bài tiết lactate, cung cấp carbon – nguồn dinh dưỡng cho nấm men phát triển, từ đó cung cấp các yếu tố kích thích tăng trưởng cho vi khuẩn [18]. Nhiều nghiên cứu tập trung vào vai trò của sự kết hợp C.
mutans trong quá trình bám dính vào bề mặt răng [14]. Giả thuyết về mối liên quan giữa S. albicans dựa trên cơ chế độc lực và đặc tính sinh hóa của chúng [14], [56]. Trên thực tế, một số nghiên cứu in vitro đã chứng minh rằng C.
albicans có vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng bám dính của S. mutans lên trên bề mặt răng. Viêm quanh răng (nha chu) Viêm quanh răng là bệnh răng miệng hay gặp và là nguyên nhân gây mất răng hàng đầu hiện nay. Bệnh có thể gặp ở các lứa tuổi khác nhau, nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì bệnh trở nên nặng và nguy cơ cao mất răng [31].
Những vi khuẩn gây bệnh viêm quanh răng chủ yếu là các loại vi khuẩn Gram (- ) yếm khí và bao gồm nhiều loại như Treponema denticola, Tannerella forsythia, 2 Porphyromonas gingivalis, Prevotella intermedia, Campylobacter rectus, Aggregatibacter actinomycetemcomitans, Fusobacterium nucleatum, Eubacterium timidum, và Bacteroides spp, Capnocytophaga spp, Peptostreptococcus spp, Eikenella spp… 1. Viêm quanh implant Viêm quanh Implant là bệnh viêm nhiễm làm phá hủy xương nâng đỡ trong các mô xung quanh Implant. Bệnh khởi phát khi thức ăn, vi khuẩn không được làm sạch sẽ tích tụ và xâm nhập vào khe hở giữa mô liên kết xung quanh răng tạo thành các túi [60]. Theo thời gian vi khuẩn trong các túi này gây nên các quá trình viêm và làm các túi này ăn dần đến lớp xương nâng đỡ Implant gây nên tình trạng phá hủy xương, cuối cùng làm cho Implant rơi ra ngoài.
Viêm quanh implant có liên quan đến nhiều loại vi khuẩn, trong đó có Porphyromonas gingivalis và Tannerella forsythia [55]. Một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng viêm quanh implant thường liên quan nhiều hơn đến các mầm bệnh cơ hội như Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus (S. aureus ) [47] [50], vi nấm (ví dụ Candida albicans, Candida boidinii, Penicillum spp., Rhadotorula laryngis , Paelicomyces spp) [47] [59] [10] và virus (cytomegalovirus ở người, virus Epstein-Barr) [44]. Nhiễm trùng miệng do răng giả Nhiễm trùng miệng do răng giả là một bệnh chủ yếu do sự hiện diện của nấm Candida albicans trong khoang miệng do vệ sinh răng giả kém [49].
Viêm nội tâm mạc do nhiễm khuẩn răng miệng Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng là bệnh nhiễm trùng ở màng ngoài tim, thường do vi khuẩn (Streptococci hoặc Staphylococci) hoặc nấm. Các VSV gây viêm nội tâm mạc có thể xâm nhập vào nội mạc cơ tim từ các cơ quan khác ở xa tim (ví dụ: áp xe ổ, viêm nhiễm hoặc nướu bị nhiễm trùng, nhiễm trùng đường tiết niệu). Viêm nội tâm mạc cũng có thể là hậu quả của bệnh nhiễm khuẩn huyết không triệu chứng, xảy ra trong các thủ thuật xâm lấn về răng miệng, y tế hoặc phẫu thuật [20]. Ngay cả đánh răng và nhai cũng có thể gây ra bệnh nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhân viêm nướu (thường là do viridans streptococci).
Nguyên nhân của nhiễm khuẩn huyết thường do sự tập trung của các vi khuẩn ở các bề mặt da, nơi chứa nhiều vi khuẩn hội sinh và mầm bệnh cơ hội. Theo thống kê, có tới 90% nguyên nhân gây nhiễm khuẩn nội tâm mạc do nhiễm khuẩn huyết là do vi khuẩn Gram dương ở các chi Staphylococcus sp , Streptococcus sp. và Enterococcus sp [51]. Trong đó, tụ cầu vàng được coi là nguyên nhân phổ biến nhất [61].
Nhiễm liên cầu khuẩn do nhóm viridans đường uống 3 (S. anguinis ) cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới nhiễm khuẩn nội tâm mạc [51]. Tổng quan về Chlorhexidine 1. Công thức hóa học Chlorhexidine là bis -guanide tổng hợp ở dạng cation, bao gồm hai vòng 4- clorophenyl đối xứng và hai nhóm biguanide, được nối với nhau bằng chuỗi hexamethylene ở trung tâm.
● Công thức: C22H30Cl2N10 ● Phân tử lượng: 505,447 ● Công thức cấu tạo Hình 1. Công thức cấu tạo của CHX 1. Tác dụng sinh học CHX là một bis - guanide sát khuẩn và khử khuẩn, có hiệu quả trên phạm vi rộng đối với các vi khuẩn Gram dương và Gram âm, nấm men, nấm da và các virus ưa lipid. Thuốc chứa thành phần CHX có hoạt tính trên các bào tử vi khuẩn ở nhiệt độ cao và có hoạt tính mạnh nhất ở môi trường trung tính hoặc acid nhẹ (pH 5,5 – 7) [5].
Tác dụng trên vi khuẩn Thành tế bào vi khuẩn chứa các thành phần sulfat và phosphate tích điện âm. Trong khi đó, Chlorhexidine là một cation mang điện tích dương nên sẽ xảy ra tương tác với các anion trong thành tế bào vi khuẩn, từ đó làm tăng tính thấm và hình thành các tổn thương trên thành tế bào, cho phép phân tử CHX xâm nhập vào vi khuẩn ([27], [26]). Ở nồng độ 0,2%, các chất có trọng lượng phân tử thấp, đặc biệt là kali và phốt pho, sẽ rò rỉ ra khỏi tế bào. Mặt khác, ở nồng độ 2%, CHX có tác dụng diệt khuẩn do hình thành kết tủa trong tế bào chất, dẫn đến chết tế bào [27].
Hoạt tính chống lại vi khuẩn của CHX đã được chứng minh trong một số nghiên cứu sau: 4 Nhóm nghiên cứu của Leshem đã tiến hành đánh giá tác dụng của CHX với các chủng Gram âm ở Israel, đồng thời so sánh hiệu quả của CHX với các vi khuẩn sinh beta-lactamase phổ rộng (ESBL) với các chủng không sinh enzyme này. Pseudomonas aeruginosa, Proteus mirabilis, Klebsiella spp, Escherichia coli và Acinetobacter baumannii được phân lập từ các mẫu lâm sàng của 193 bệnh nhân nhập viện tại Trung tâm Y tế Padeh-Poriya. Hiệu quả của CHX trên các VSV trên được đánh giá bằng cách xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC). CHX cho MIC cao nhất ở P.
Các chủng sinh ESBL có giá trị MIC cao hơn so với các chủng không sinh ESBL. Có thể kết luận rằng, hiệu quả của CHX trên các chủng vi khuẩn Gram âm bị suy giảm. Vi khuẩn sinh ESBL ít nhạy cảm với CHX hơn vi khuẩn không sinh ESBL [32]. Để đánh giá hiệu quả của CHX đường uống đối với bệnh nhân mắc viêm phổi bệnh viện, L.Silverstri và cộng sự đã đã tiến hành đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng.
Kết quả chỉ ra rằng ở những bệnh nhân nặng, CHX đường uống làm giảm triệu chứng viêm phổi bệnh viện do vi khuẩn Gram dương và Gram âm, và do hệ vi khuẩn “bình thường” mà không ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong [62].