CHƯƠNG 1. TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1.Co sở lý luận 1. Những cách hiểu về điếc Khi nói về điếc hay cộng đồng người điếc, trên thế giới hiện nay đang tôn tại ba quan điểm: quan điểmy tế, quan điểm văn hoá và quan điểm xã hội. Ba quan điểm này bắt nguồn từ khoa học xã hội hoặc sinh học.
Góc nhìn của những quan điểm này ảnh hưởng đến cách mà xã hội đối xử với người điếc cũng như cách mà mỗi cá nhân người điếc tự nhìn nhận mình. Trong quan điểmy tế, điếc được coi là không mong muốn, và đó là trách nhiệm của cá nhân cũng như toàn xã hội dé "chữa khỏi" tình trạng này (Power D, 2005). Theo quan điểm này, người điếc là những người không thể nghe, có bệnh về mặt y học, cần phải đến bác sĩ điều tri, cần học nói, không thé hoà nhập xã hội và Ngôn ngữ ký hiệu sẽ làm tôn hại đến lời nói (Corker, 1998, Abrahams, 2007). Trong quan điểm văn hóa, người Điếc thuộc về một nền văn hóa mà ở đó họ không bị bệnh hay khuyết tật, mà họ có ngôn ngữ tự nhiên — Ngôn ngữ ký hiệu và ngữ pháp hoàn chỉnh của riêng minh.
Trong mô hình văn hóa của người điếc, người Diéc coi mình là một cộng đồng thiểu số về ngôn ngữ và văn hóa hơn là một "nhóm người khuyết tật”. Những người ủng hộ văn hóa Điếc sử dụng chữ "Ð" viết hoa để phân biệt Điếc văn hóa với điếc như một bệnh lý. Văn hóa Điếc khác biệt ở chỗ việc không thé nghe được không được coi là "sự mat mát" hay điều gì đó tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của một cá nhân. Người Điếc thuộc về cộng đồng văn hoá Điếc ở đây như một cộng đồng thiểu số về ngôn ngữ, cũng giống như những nhóm dân tộc thiểu số khác có ngôn ngữ mẹ đẻ của riêng mình.
Yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định danh tính cộng đồng và bảo tồn văn hóa của họ. Quan điểm xã hội tìm cách giải thích những khó khăn mà những người điếc gặp phải là do môi trường của họ (Obasi C, 2008). Quan điểm xã hội về điếc bắt nguồn từ quan điểm xã hội về người khuyết tật. Ở quan điểm này, khuyết tật của một người được xác định bởi hai yếu tố: một là khiếm khuyết về thé chất hoặc tinh thần của một cá nhân, hai là những rào cản về nhận thức hoặc môi trường cản trở họ tiếp cận với xã hội.
Như vậy, theo quan điểm này, người điếc có khiếm khuyết về khả năng nghe, nhưng chính thiết kế của môi trường mới là yếu tố khiến ho trở nên khuyết tật. Ở những môi trường thuận lợi hơn, đặc biệt khi người điếc được tiếp cận về ngôn ngữ không chỉ là ngôn ngữ nói, họ cảm thấy “ít khuyết tật” hơn hoặc thậm chí không hề khuyết tật (Bauman, H. Quan điểm xã hội thừa nhận một su thật phũ phang rang can thiệp y tế không giải quyết được các van đề xã hội phổ biến - bat ké mức độ hay thành công của nó trong việc cải thiện thính lực. Trong luận văn này, người viết chọn sử dụng cách hiểu và định nghĩ về người điếc theo quan điểm văn hoá.
Theo đó, cộng đồng người Điếc là những người có văn hoá đặc thù và ngôn ngữ khác biệt. Văn hoá Điếc được thé hiện thông qua cách người Điếc sử dụng những lợi thé và đặc trưng của họ dé giải quyết van dé đáp ứng với các tình huống trong cuộc sống nơi mà họ thuộc về một cộng đồng thiểu số về ngôn ngữ và văn hóa. Ngôn ngữ ký hiệu là ngôn ngữ mẹ đẻ của người điếc, bởi người điếc không nghe âm thanh theo cách tự nhiên như người nghe nên một ngôn ngữ trực quan là con đường phù hợp nhất dé họ tiếp thu và xử lý thông tin. Các mô hình giáo dục điếc Có nhiều yếu tố tạo nên một mô hình giáo dục nên từ đó cũng có nhiều cách phân biệt các mô hình như: phân theo phương thức giáo dục, phân theo quan điểm tiếp cận giao tiếp trong giáo duc và phân theo nguồn tài chính vận hành cơ sở giáo duc,.
Phân theo phương thức giáo dục ta có mô hình giáo dục chuyên biệt, giáo dục dục hòa nhập và giáo dục hội nhập (Vương Hồng Tâm, 2019). Trong đó: - _ Giáo dục chuyên biệt là phương thức tách biệt trẻ điếc vào cơ sở giáo dục riêng theo chương trình giáo dục riêng; -_ Giáo dục hội nhập là phương thức giáo dục trẻ điếc trong lớp học riêng nam trong môi trường phổ thông bình thường; -_ Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ điếc cùng học với trẻ nghe trong trường phô thông ngay tại nơi trẻ sinh sống. Phân theo quan điểm tiếp cận giao tiếp trong giáo dục trẻ điếc ta có mô hình sử dụng ngôn ngữ nói trong giáo dục trẻ điếc, mô hình sử dụng ngôn ngữ ký hiệu trong giáo dục trẻ điếc và mô hình sử dung giao tiếp tổng hợp trong giáo dục trẻ điếc (Vương Hồng Tâm, 2019). Trong đó: - M6 hình sử dụng ngôn ngữ nói cho rằng phương pháp này phá vỡ rào cản cản trở, hạn chế đến mức tối đa khoảng cách giữa trẻ điếc và trẻ nghe, việc truyền tải thong tin dé dang nhất bởi không phải qua quá trình chuyền mã.
- Mô hình song ngữ sử dung NNKH được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận người điếc từ quan điểm văn hóa, coi họ như nhóm văn hóa thiểu số chứ không phải người bị khuyết tật. - _ Mô hình sử dụng Ngôn ngữ tổng hợp hay còn gọi là Giao tiếp tổng hợp là hình thức sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp giao tiếp khác nhau như ngôn ngữ nói, ký hiệu ngôn ngữ, chữ cái ngón tay, chữ viết, cử chỉ điệu bộ. vào quá trình giao tiếp. Mô hình này được xây dựng theo quan điểm y tế dựa trên việc khuyến khích người điếc linh hoạt, sử dụng và ứng phó với mọi tình huống trong giao tiếp.
Phân theo nguôn tài chính vận hành cơ sở giáo duc: mô hình tư nhân với nguồn kinh phí từ dự án nước ngoài hoặc tự chủ tài chính và mô hình công lập của nhà nước. Khái niệm về phát triển bền vững và tính bền vững Bên vững (sustainability) là khả năng duy trì. Thuật ngữ “tính bền vững” chính thức xuất hiện lần đầu tiên trong báo cáo Brundtland (UN, 1987). Tính bền vững được định nghĩa là đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng cung ứng cho các thế hệ tương lai nhờ vào việc cân băng hài hoà giữa các trụ cột Kinh tế - Xã hội — Môi trường.
Thuật ngữ “tính bền vững” tiếp tục được nhắc đến “Là khả năng của một xã hội, một hệ sinh thái, hay bất cứ một hệ thống liên tục nào đó nhằm tiếp tục vận hành tới tương lai mà không bị suy giảm do áp lực thiếu hụt những nguồn lực quan trọng mà hệ thống đó phụ thuộc vào” (Robert Gilman, 1992). Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tốn hại đến khả năng nhu cầu của thé hệ mai sau (UN, 1992). Trong luận văn này, tác giả nói đến hai tính bền vững. Một là tính bền vững của một hệ thống (mô hình Giáo dục) là nói đến mức độ và khả năng duy trì trong tương lai của mô hình giáo dục một cách cân băng trong việc sử dụng các nguồn lực quan trọng và toàn diện trong việc thoả mãn nhu câu của thê hệ học sinh hiện tại mà không làm tốn hại đến kha năng nhu cầu của thế hệ học sinh mai sau.
Hai là tính bền vững mà Giáo dục mang lại cho sự phát triển bền vững nói chung cho thế giới, bao gồm cả ba trụ cột Kinh tế - Xã hội - Môi trường. Tính bền vững của giáo dục Khi nói đến Giáo duc và Bén vững, thường có hai khái niệm được nhắc đến, đó là Giáo dục vì sự phát triển bền vững (Education for Sustainable development) và Giáo dục bền vững (Sustainable Education). Giáo dục bền vững có nghĩa là tìm ra các giải pháp lâu dài thông qua giáo dục, cụ thé là liên quan đến các van dé xã hội, môi trường và kinh tế — ba trụ cột của sự bền vững (Gilbert Ahamer, 2013). Giáo dục bền vững là một phương pháp giáo duc nham mục đích củng cố cho học sinh, trường học và cộng đồng những giá trị và động lực hành động vì sự bền vững hiện tại và trong tương lai - trong cuộc sống của chính mỗi người, trong cộng đồng của họ và trên phạm vi toàn cầu.
Như vậy bản thân sự bền vững của giáo dục (hệ thống giáo dục, mô hình giáo dục, chương trình giáo dục.) sẽ góp phần vào việc xây dựng một thế giới bền vững ở mọi mặt của cuộc sống, ở cả 3 trụ cột của phát triển bền vững. Giáo dục vì sự phát triển bền vững (ESD) cung cấp cho người học ở mọi lứa tudi kiến thức, kỹ năng, giá trị và khả năng giải quyết các thách thức toàn cầu và là một quá trình học tập suốt đời và là một phần không thể thiếu của nền giáo dục có chất lượng (UNESCO). Giáo dục vì sự bền vững phát triển kiến thức, kỹ năng, giá trị và thế giới quan cần thiết để mọi người hành động theo những cách góp phần tạo nên những mô hình sống bền vững hơn (ACARA, 2015). Giáo dục vì sự bền vững dựa trên bảy nguyên tắc sau: Chuyên đổi và thay đổi; Giáo dục cho tất cả mọi người và học tập suốt đời; Suy nghĩ có hệ thống; Hình dung một tương lai tốt hơn; Tư duy phản biện và tự đánh giá; Sự tham gia và Hợp tác đề thay đổi (Chính phủ Úc, 2009).
Sử dụng Giáo dục như một con đường đề chia sẻ những kiến thức về phát triển bền vững là ý nghĩa của Giáo dục vì sự phát triển bền vững, bởi chỉ khi mọi công dân trên thé giới hiểu về phát triển bền vững thì chúng ta mới có cơ sở dé tạo nên một môi trường sống bền vững hơn. Phát triển bền vững gồm có 3 trụ cột: Kinh tế, môi trường và Xã hội. Giáo dục là một phan quan trọng trong trụ cột Xã hội. Trong số 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc, mục tiêu phát triển bền vững về giáo dục là mục tiêu phát triển bền vững số 4 (SDG4).
Mục tiêu này có nội dung cốt lõi xuyên suốt là đảm bao một nên giáo dục chất lượng, hoà nhập, công bang và thúc đây cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người.