CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về sinh thái nhân văn và phát triển bền vững 1. Tổng quan về sinh thái nhân văn 1. Lịch sử phát triển và khái niệm sinh thái nhân văn Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu một kiểu hệ thống đặc biệt, đó là hệ sinh thái nhân văn, một hệ thống được cấu tạo từ các hệ xã hội và hệ sinh thái có liên hệ hữu cơ với nhau.
Hệ sinh thái là đối tượng nghiên cứu chính của sinh học và hệ xã hội là đối tượng nghiên cứu chính của các khoa học xã hội. Vậy tiếp cận của sinh thái nhân văn tới hai hệ này có điểm gì khác biệt? Đó là tiếp cận nghiên cứu đồng thời hai hệ trong quá trình chúng tương tác với nhau và thông qua đó tự tổ chức sắp xếp thành một thể thống nhất. Kết quả của sự tự tổ chức sắp xếp thành công giữa hệ sinh thái và hệ xã hội sẽ tạo ra cơ sở cho cả hai hệ thích nghi với nhau, tiến hóa cùng nhau, nhờ đó mà cùng tồn tại và phát triển lâu bền. Ngược lại, khi hai hệ không thể thích nghi với nhau, thì sẽ khởi phát dấu chấm hết cho sự tồn tại của ít nhất là một trong hai hệ và gây tổn thương lâu dài cho hệ còn lại.
Có rất nhiều ví dụ về văn hóa thích nghi của con người với hệ sinh thái, như văn hóa nhà sàn, văn hóa lúa nước, văn hóa ruộng bậc thang. Đồng thời cũng có rất nhiều ví dụ về sự thành công của các loài trong việc biến đổi thích nghi với tác động của con người, như mối quan hệ giữa loài muỗi với loài người, trong đó nhân loại chỉ thắng thế trong những khoảng thời gian ngắn, chứ chưa thể thắng tuyệt đối [7, 8, 11, 21, 56, 83, 88]. Sinh thái nhân văn được công nhận là khởi sinh vào năm 1921, khi nó được đề cập như một lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học, trong cuốn sách giáo khoa “Tổng quan về xã hội học” của nhóm tác giả tại Đại học Chicago, do Robert E. Park là chủ biên.
Ra đời bởi một nhà xã hội học, mang cái tên gần gũi với sinh thái học, sinh thái nhân văn có một lịch sử phát triển thăng trầm phức tạp. Để hiểu rõ khái niệm sinh thái nhân văn, cần phải xem xét quá trình lịch sử phát triển của nó [96]. Khởi đầu, thuật ngữ “sinh thái nhân văn” có nội dung hẹp, hàm nghĩa là ứng dụng các quy luật sinh thái vào nghiên cứu xã hội học đô thị Chicago, trong giai 15 z đoạn nó mở rộng và tiếp nhận lượng dân nhập cư đa dạng. Sinh thái nhân văn được phát triển nhằm phục vụ việc nghiên cứu bản chất mối quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình tự tổ chức và cấu trúc hệ xã hội theo lý thuyết đồng hóa, nghĩa là mang tính xã hội học.
Trong sự phát triển sau đó của sinh thái nhân văn, Robert E. Park, bận rộn với vai trò là một nhà xã hội học xuất chúng, đã không thể dành cho ngành khoa học này một sự quan tâm xứng tầm. Trong xã hội học, sinh thái nhân văn chưa được nhận sự quan tâm đặc biệt của các học giả khác, nhất là khi nó hiện diện bên cạnh, hoặc thậm chí bị đồng nhất với những ngành khoa học đã có lịch sử và cơ sở lý thuyết đáng nể, như nhân chủng học, dân tộc học… Theo thời gian, sinh thái nhân văn ngày càng tách xa khỏi xã hội học, phạm vi nghiên cứu của nó được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác có liên quan đến con người, như nhân chủng học, dân tộc học, sinh thái học người, kinh tế hộ và phát triển bền vững. Theo Jean -Clauder Paseson, 1992, “Để xác định được vị trí của mỗi ngành khoa học về con người so với với các ngành khác, ít nhất việc phân loại ngành phải đi kèm với thỏa thuận về phân chia nhiệm vụ.
Nhưng đây cũng là một mục tiêu khó đạt, do cơ cấu nghiên cứu không ngừng thay đổi”. Sự phát triển lý thuyết hệ thống và năng lượng đã thổi luồng gió mới vào khoa học sinh thái nhân văn, giúp nó định hình rõ nét hơn và thu hút được sự quan tâm hơn của nhiều nhà khoa học. Từ thập niên 1970, khoa học sinh thái nhân văn bước sang thời kỳ phát triển mới. Nó đã tập hợp được lực lượng trong nhiều trung tâm nghiên cứu độc lập, như Viện Sinh thái nhân văn ở California, Trung tâm Sinh thái nhân văn thuộc Đại học Edinburgh, các trường đại học, các tổ chức xã hội chuyên nghiệp ở châu Âu như Liên minh quốc tế của Ủy ban Khoa học nhân chủng học và dân tộc học về Sinh thái nhân văn… Nhiều hội sinh thái nhân văn được thành lập, như Ủy ban Sinh thái nhân văn khối cộng đồng chung Vương Quốc Anh có trụ sở tại Luân đôn, tổ chức Sinh thái nhân văn Quốc tế có trụ sở tại Viên.
Năm 1979, Hội sinh thái nhân văn (tên viết tắt là SHE) được thành lập và nhanh chóng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành. Young, sáng lập viên đồng thời là chủ tịch thứ tư của hội, trở thành nhân vật có ảnh hưởng tích cực, đóng góp đáng kể vào việc phát 16 z triển sinh thái nhân văn thành lĩnh vực đa ngành, tạo ra ý nghĩa mới cho tên gọi sinh thái nhân văn. Hội đã giúp phát triển việc đào tạo ngành khoa học này tại nhiều trường đại học như: Đại học Tự do Brussels, đại học California, đại học Washington, đại học Michigan, đại học Colorado tại Boulder… Sinh thái nhân văn đã phát triển thành một khoa học xuyên ngành, thực hiện nghiên cứu trên cơ sở kết hợp sức mạnh của nhiều đơn ngành theo cách đặc biệt, tổng hợp và chồng chéo các kiến thức để tạo ra tiếp cận toàn diện, nhằm vào những vấn đề tràn ra ngoài khuôn khổ ranh giới của các ngành. Theo từ điển môi trường, “Sinh thái nhân văn là hệ thống các nguyên tắc đạo đức, triết lý về địa vị thống trị của con người đối với trái đất và sinh vật, ở nơi mà sự thống nhất toàn vẹn giữa con người và môi trường là cần thiết cho phúc lợi xã hội.
Sinh thái nhân văn dựa trên tiếp cận theo thuyết tiến hoá trong môi trường và sự thích nghi, tiến hoá về văn hoá của con người. Sinh thái nhân văn nghiên cứu sự mất cân bằng của mối quan hệ con người - môi trường, liên quan đến bệnh tật, cung cấp lương thực, sinh thái quần thể người, ô nhiễm môi trường, phân bố không đồng đều và sử dụng không hợp lý tài nguyên…”. Tiếp cận sinh thái nhân văn là ứng dụng khoa học sinh thái nhân văn vào nghiên cứu hệ sinh thái nhân văn một cách có hệ thống, hướng tới các điều kiện cân bằng, ổn định, thịnh vượng của toàn hệ…. Tổng quan về hệ sinh thái nhân văn Khái niệm hệ sinh thái nhân văn hiện vẫn được diễn giải theo nhiều quan điểm khác nhau, trừ một điểm chung thống nhất rằng hệ sinh thái nhân văn được cấu tạo từ hai phụ hệ.
Một số học giả cho rằng hệ sinh thái nhân văn được tạo ra từ hệ xã hội và hệ sinh thái, số khác cho rằng nó bao gồm hai hệ thống xã hội và môi trường, nhóm thứ ba cho rằng nó bao gồm hệ sinh thái và hệ môi trường. Theo Stephen Boyden, 1987, con người vừa thuộc hệ thống xã hội vừa thuộc hệ thống sinh lý quyển (kiểu sinh quyển thuở sơ khai, khi con người mới có hành vi thích ứng với điều kiện sống tự nhiên, mà chưa có văn hóa xã hội [52, 78, 100, 105]. Marten, 2001, mặc dù con người là một thành phần sinh vật của hệ sinh thái, nhưng sẽ hữu ích và đúng đắn hơn, khi quan niệm tương tác con người - 17 z môi trường như là mối tương tác giữa hệ thống con người - xã hội nhân văn với phần sinh quyển còn lại của riêng sinh vật. Các thành phần của hệ sinh thái gồm có các yếu tố sinh thái vô sinh, hữu sinh tự nhiên (không có con người) và yếu tố sinh thái nhân sinh (xem hình 1.
Hệ xã hội nhận từ hệ sinh thái các dịch vụ sinh thái, các dòng sản phẩm năng lượng, vật chất, thông tin giúp nuôi dưỡng sự sống, phục vụ sản xuất, tiêu dùng và tự điều chỉnh thích nghi để phát triển bền vững. Hệ sinh thái nhận từ hệ xã hội dòng năng lượng, vật chất, thông tin dưới dạng chất thải và các tác động đặc biệt, từ đó thực hiện quá trình sản xuất, đồng thời là quá trình tái tạo tài nguyên, làm sạch môi trường. Dịch vụ mà hệ sinh thái cung cấp được hệ xã hội tiếp nhận một cách có chọn lọc. Khi hệ sinh thái không suy giảm năng suất sinh học chung, nhưng chuyển sang cung cấp những sản phẩm có giá trị thương mại và giá trị sử dụng thấp hơn hay vô giá trị cho hệ xã hội, thì có thể xem như chức năng cung cấp các dịch vụ từ hệ sinh thái cho con người bị suy thoái hay đình trệ.
Ví dụ thay vì cung cấp thóc lại chỉ cung lá lúa, do đó mặc dù năng suất sinh học không thay đổi, thậm chí còn có thể tăng, nhưng giá trị thương phẩm lại suy giảm, thậm chí mất hoàn toàn… Mỗi hệ thống sinh thái, hoặc nhân văn đều được cấu tạo từ các hạ hệ của mình và đồng thời là một hệ thành phần của thượng hệ liền kề. Theo Alan Beeby, Anne-Maria Brennan, 2008, lý thuyết sinh thái học hiện đại coi mỗi hệ sinh thái được cấu tạo từ nhiều hạ hệ sinh thái khác nhau, chia làm ba kiểu cơ bản là: 1- Kiểu hệ nền, chiếm ưu thế, phân bố hầu khắp không gian hệ thống, 2- Kiểu thể khảm là các ổ, mảnh sinh cư rời rạc, 3- Kiểu hành lang, là các tuyến chia cắt hệ thống nền, nối thông các thể khảm cùng loại với nhau. Sự tương đồng về đa dạng sinh học trong các mảnh sinh cư rời rạc tăng theo sự tăng mức độ liên thông qua các hành lang. Khi các mảnh này không lưu thông với nhau, sẽ có thể dẫn đến hình thành những quần thể đặc hữu, như rùa hồ Gươm.
Trong một vùng sinh thái nhân tác như đồng lúa, hình thành nhiều thể khảm hệ sinh thái, như ruộng lúa, ao nuôi cá, đầm sen, ruộng màu (đậu tương, rau…) … Các hộ nông dân canh tác trên cánh đồng lúa đó sẽ tạo thành hệ xã hội, bao gồm hệ những người trồng lúa, nuôi cá, trồng màu. Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái nhân văn theo Gerald G.