Chương 1 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HOÀNG QUẢNG UYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tiểu sử và quá trình sáng tác văn học của Hoàng Quảng Uyên 1. Tiểu sử của nhà văn Hoàng Quảng Uyên Nhà văn Hoàng Quảng Uyên (tên khai sinh là Hoàng Dương Quý), sinh ngày 27/9/1950 tại làng Pác Cam, xã Quốc Phong, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Ông là người dân tộc Nùng.
Bút danh Hoàng Quảng Uyên được lấy từ họ Hoàng ghép với tên huyện Quảng Uyên (nơi ông được sinh ra). Hoàng Quảng Uyên đã từng theo học trường cấp 1 và cấp 2 tại trường huyện Quảng Uyên. Vốn là một học sinh thông minh, học giỏi nên khi học hết cấp 2, ông thi đỗ vào lớp chuyên Toán của tỉnh Cao Bằng. Thời gian sau đó (từ năm 1968 đến năm 1972), ông thi đỗ và vào học khoa Vật Lý trường Đại học sư phạm Việt Bắc (nay là trường Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên).
Trong quá trình học tại trường Sư phạm, tuy theo học khối khoa học tự nhiên nhưng ông lại có niềm say mê đặc biệt đối với văn học. “Máu nghề nghiệp” sáng tác văn chương trong Hoàng Quảng Uyên được khơi nguồn từ đó. Vì xuất phát từ việc học khoa học tự nhiên nên Hoàng Quảng Uyên chịu ảnh hưởng sâu sắc của lối tư duy khoa học, chính xác. Ông đã vận dụng một cách khéo léo những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên vào trong các sáng tác của mình.
Do đó, những bài phóng sự của ông đều đảm bảo độ chân thực đến tận cùng của vấn đề mà không hề né tránh. Chính vì thế, những tác phẩm do ông sáng tác có nhiều điểm khác biệt so với nhiều nhà văn khác cùng thời. Sau khi tốt nghiệp ra trường, ông trở thành một nhà giáo có kiến thức chuyên môn vững vàng, lối giảng dạy dí dỏm và đặc biệt rất yêu thương học sinh và tôn trọng đồng nghiệp. Hơn 7 năm (từ năm 1973 đến năm 1980) gắn bó với sự nghiệp giáo dục và với các em học sinh, người thầy mẫu mực Hoàng Quảng Uyên đã nhận được nhiều tình cảm yêu mến từ phía đồng nghiệp và lớp lớp thế hệ học sinh.
Ông đã từng dành nhiều tâm huyết với nghề dạy học nhưng do hoàn cảnh xã hội, do niềm say mê khám phá đời sống xã hội trong ông quá lớn nên ông quyết định tìm một hướng đi mới, một ngã rẽ mới, mặc dù tình yêu với ngành giáo dục vẫn còn sâu đậm. Do đó, từ năm 8 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ 1980 đến năm 1981, ông quyết định chuyển sang làm báo và công tác tại Đài phát thanh tỉnh Cao Bằng. Tuy thời gian làm báo ngắn ngủi và đầy gian khổ nhưng đó lại là một trong những kỷ niệm đẹp đẽ nhất trong cuộc đời ông. Ông đã từng tâm sự với tôi: “ Những năm tôi là phóng viên Đài phát thanh Cao Bằng là những năm tháng gian khổ mà đẹp nhất trong nghề làm báo.
Những năm buồn ít, vui nhiều!”. Thời gian sau đó, ông tiếp tục theo đuổi tình yêu đối với văn học. Ông rong ruổi qua từng đường làng, ngõ xóm để tìm hiểu tư liệu. Đi đến đâu ông cũng chăm chỉ tìm tòi, ghi chép.
Năm 1986, Hoàng Quảng Uyên thi đỗ và theo học trường Viết văn Nguyễn Du (khóa 3). Trong quá trình học tại trường, ông đã được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, chính quy về những kiến thức cơ bản, kĩ năng viết văn và tác phong nghề nghiệp cần có trong quá trình sáng tác của một người viết văn. Nhờ thế, sau thời gian học ở trường (1986 – 1989), Hoàng Quảng Uyên đã có nhiều tác phẩm được đông đảo bạn đọc đón nhận. Đến năm 1990, Hoàng Quảng Uyên nghỉ chế độ khi ông vừa tròn 39 tuổi.
Từ năm 1998 đến năm 2000, Hoàng Quảng Uyên công tác ở báo Văn nghệ (phóng viên hợp đồng). Năm 2006, Hoàng Quảng Uyên là đặc phái viên của Hội nhà văn Việt Nam sang Trung Quốc để tìm hiểu thời gian 2 năm (1942 – 1943) Chủ tịch Hồ Chí Minh bị Tưởng Giới Thạch bắt giữ ở Quảng Tây – Trung Quốc, bị đày ải trong các nhà tù và sáng tác tác phẩm thơ “Nhật kí trong tù”. Đến năm 2007, Hội nhà văn Việt Nam mở trại sáng tác tiểu thuyết, từ đó Hoàng Quảng Uyên “gõ cửa” với thể loại tiểu thuyết. Tuy ông mới chuyển hướng sáng tác của mình theo thể loại này song ngòi bút của ông luôn tinh tế, sắc sảo và đã có thành công bước đầu.
Trước hết phải kể đến cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó được xuất bản năm 2010. Với cuốn tiểu thuyết này, Hoàng Quảng Uyên đã vinh dự được nhận giải thưởng trong sáng tác và quảng bá các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật và Báo chí về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", 2010. Đến năm 2013, tiểu thuyết Giải phóng ra đời và được xem như là tập 2 trong bộ tiểu thuyết dài tập mà nhà văn dự định viết về Bác Hồ. Hiện nay, ông là thành viên của Hội nhà văn Việt Nam và đang tiếp tục cống hiến không ngừng nghỉ cho sự nghiệp sáng tác văn chương.
9 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www. Sự nghiệp sáng tác văn học của nhà văn Hoàng Quảng Uyên Nhà văn Hoàng Quảng Uyên là cây bút trưởng thành sau năm 1975. Những tác phẩm của ông luôn có sức hấp dẫn, lay động người đọc bởi sức sáng tạo dồi dào của nhà văn luôn ẩn sâu trong từng câu chữ. Trong vòng hơn 20 năm cầm bút, ông đã có một sự nghiệp sáng tác đáng tự hào và có giá trị thể hiện trên nhiều thể loại khác nhau, từ thể loại kí cho đến tiểu thuyết, các bài phóng sự.
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã gặt hái được nhiều thành công với 2 tập kí, 2 tập truyện, 3 tập lí luận phê bình, 2 vở kịch, 2 tiểu thuyết và hàng loạt các bài báo phóng sự. Có thể kể đến thành công của ông trên bước đường sáng tác nghệ thuật với các tác phẩm tiêu biểu như: Hai tập truyện: Kim Đồng (1996), Đức Thanh - người anh đội nhi đồng cứu quốc (2012); Hai tập kí: Buồn vui (1999), Vọng tiếng non ngàn (2001); Ba tập lí luận phê bình văn học: Một mình trong cõi thơ (2000), Nhật kí trong tù và số phận và lịch sử (2007), Đi tìm nhật kí trong tù (2009); Hai kịch bản phim truyện: Mật đắng (2002) và nhiều kịch bản phim tài liệu; Một vở kịch: Nước mắt rừng Pác Bó (2010) và hai tập tiểu thuyết lịch sử: Mặt trời Pác Bó (2010) và Giải phóng (2013). Trong đó, có nhiều tác phẩm của ông đạt đuợc trao giải thưởng. Cụ thể: - Buồn vui - tập kí (NXB Văn hoá dân tộc, 1999) được trao giải C Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 1999.
- Thầy giáo Đại học - kí được trao giải B (Không có giải A) - Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp 1988. - Một mình trong cõi thơ - tập tiểu luận - Chân dung văn học (NXB Văn hoá dân tộc, 2000) được trao giải C Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 2000. - Vọng tiếng non ngàn - tập kí (NXB Văn hóa dân tộc 2001) được trao giải C Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 2001. Nổi bật trong số đó là 2 tập tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó và Giải phóng.
Tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, được trao giải thưởng trong sáng tác và quảng bá các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật và Báo chí về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", 2010. Ngay khi mới ra mắt bạn đọc, tác phẩm đã tạo được chỗ đứng trong lòng công chúng và được các nhà văn, nhà thơ cùng các nhà lí luận phê bình quan tâm. Đây là cuốn tiểu thuyết viết về những năm 10 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ tháng Bác Hồ ở Pác Bó - Cao Bằng (1941 - 1945) lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với biết bao gian truân, vất vả. Nối tiếp cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, năm 2013, nhà văn Hoàng Quảng Uyên cho ra đời cuốn Giải phóng với gần Giải phóng với 25 chương và hơn 600 trang, được tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam trong sáng tác và quảng bá các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật và Báo chí về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", 2013.
Đây là tập 2 trong bộ tiểu thuyết 5 tập trong dự định sáng tác của nhà văn Hoàng Quảng Uyên, mà tập 1 là tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó. Nội dung tập Giải phóng tái hiện quá trình hoạt động cách mạng của Bác từ năm 1945 đến năm 1954. Với những giải thưởng đã đạt được cùng sự yêu mến của đông đảo bạn đọc dành cho cây bút miền núi này, nhà văn Hoàng Quảng Uyên từng bước khẳng định vị trí vững chắc của mình trong nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam. Sáng tác của Hoàng Quảng Uyên trong bộ phận văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam Nhìn chung, văn xuôi các dân tộc thiểu số ra đời muộn, phát triển chậm và không đồng đều.
Trong sự hình thành văn xuôi các dân tộc thiểu số, văn học của người Việt (dân tộc Kinh) có ảnh hưởng rất lớn. Nhiều nhà văn dân tộc thiểu số được tiếp xúc với văn học Việt từ rất sớm. Những tiểu thuyết và truyện ngắn của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan … trước cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là những tác phẩm viết về miền núi của những nhà văn người Kinh sau này như: Tô Hoài, Nam Cao … đối với sự phát triển văn hóa, văn nghệ của các dân tộc thiểu số Việt Nam, do Đảng đề ra, đã tạo điều kiện để văn học dân tộc thiểu số nói chung, văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Mặt khác, việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi còn nhiều hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy nghệ thuật của một số nhà văn dân tộc.
Trong tình hình ấy, sự phát triển nhanh hay chậm của văn xuôi các dân tộc thiểu số phụ thuộc rất lớn vào tài năng, sự nỗ lực lao động nghệ thuật của người sáng tạo ra nó. Trong văn xuôi các dân tộc thiểu số, đề tài về thiên nhiên đất nước, phong tục tập quán và con người miền núi được các nhà văn phản ánh một cách chân thực, sinh động.