ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay có nhiều nhóm thuốc để điều trị rối loạn lipid, trong đó nhóm thuốc statin và nhóm thuốc fibrat được sử dụng rộng rãi [1]. Acid fenofibric là một trong những dạng fenofibrat mới được phê duyệt với sinh khả dụng tốt hơn và gần đây đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phê duyệt để điều trị các loại tăng lipid máu khác nhau hoặc kết hợp với statin [2]. Chất này có tác dụng ức chế sinh tổng hợp cholesterol ở gan làm giảm các thành phần gây xơ vữa, giảm triglycerid và làm tăng lipoprotein tỉ trọng cao, do đó có tác dụng tốt trong điều trị mỡ máu [3]. Tác dụng dược lý của nó bao gồm làm giảm nồng độ chất béo trung tính và cholesterol trong huyết tương.
Fenofibric về cơ bản không hòa tan trong dung môi nước, thuốc hạ lipid máu này có thời gian bán thải khoảng 16 giờ [4]. Năm 2008, FDA đã phê duyệt acid fenofibric trong điều trị : i) Để giảm TGs ở bệnh nhân tăng triglycerid máu nặng; ii) Để giảm LDL- C, cholesterol toàn phần, TGs, và tăng HDL-C ở bệnh nhân tăng lipid máu nguyên phát hoặc rối loạn lipid máu hỗn hợp; iii) Kết hợp với statin để giảm TGs và tăng HDL-C ở bệnh nhân rối loạn lipid máu hỗn hợp và những người đang điều trị statin để đạt được mục tiêu LDL-C [2]. Khi kiểm tra chất lượng nguyên liệu và thành phẩm chứa acid fenofibric cần phải có chất chuẩn acid fenofibric. Một số phương pháp phân tích để xác định fenofibrat hoặc acid fenofibric đã được nghiên cứu, bao gồm sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), sắc ký khí (GC) hoặc sắc ký lỏng khối phổ (LC_MS/MS) [5], [6], [7].
Vì vậy, chất chuẩn acid fenofibric là cần thiết để phục vụ các nghiên cứu, kiểm nghiệm, kiểm tra chất lượng của acid fenofibric. Chất chuẩn acid fenofibric hiện nay phải nhập từ nước ngoài với thời gian chờ lâu và giá thành cao. Do vậy việc tiêu chuẩn hóa nguyên liệu trong tổng hợp nguyên liệu để làm thuốc và thiết lập chất chuẩn acid fenofibric là yêu cầu cấp thiết, góp phần cung cấp thêm chất chuẩn cho quỹ chuẩn trong nước, tạo thuận lợi cho việc kiểm nghiệm acid fenofibric cũng như thúc đẩy các nghiên cứu xây dựng các phương pháp kiểm nghiệm các thuốc thuộc nhóm fibric. 1 Do đó, đề tài “Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nguyên liệu và thiết lập chuẩn làm việc acid fenofibric tổng hợp tại Việt Nam” được thực hiện với hai mục tiêu chính: 1.
Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng acid fenofibric tổng hợp tại Việt Nam. Thiết lập chuẩn làm việc acid fenofibric tổng hợp tại Việt Nam. Tổng quan về acid fenofibric 1. Một số tính chất chung - Công thức cấu tạo: [8] Hình 1.
- Công thức phân tử: C17H15ClO4 - Khối lượng phân tử: 318,7 - Tên IUPAC: 2-[4-(4-chlorobenzoyl)phenoxy]-2-methylpropanoic acid [9] - Tính chất: Dạng bột màu trắng. - Độ tan: Không tan trong nước, tan tốt trong MeOH. - Nhiệt độ nóng chảy 179 – 183oC. - Có khả năng hấp thụ ánh sáng tử ngoại với cực đại hấp thụ ở bước sóng 288nm, nên có thể định lượng bằng HPLC detector UV-VIS tại bước sóng này [10].
Một số biệt dược chứa acid fenofibric - Fibricor: Viên nang giải phóng chậm chứa acid fenofibric, hàm lượng 35mg và 105mg [11]. - Trilipix®: Viên nang giải phóng chậm chứa acid fenofibric, hàm lượng 45 mg và 135 mg [4]. Tác dụng dược lý Acid fenofibric hoạt hóa PPARII (Peroxisome Proliferator Activated Receptor type II) làm tăng phân hủy lipid và loại trừ các tiểu phân giàu triglicerid khỏi huyết tương nhờ hoạt hóa lipoprotein lipase và giảm sản xuất apoprotein CIII, tăng tổng hợp AI và 3 AII. Qua đó, fenofibric làm giảm được các thành phần gây xơ vữa động mạch như lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL) và lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) làm tăng sản xuất lipoprotein tỷ trọng cao (HDL), và còn làm giảm triglycerid máu.
Do đó, thuốc cải thiện đáng kể sự phân bố cholesterol trong huyết tương [11]. Chỉ định lâm sàng Hiện nay trên thị trường các thuốc nhóm fenofibric chủ yếu được bào chế ở dạng muối fenofibrat, khi vào cơ thể, thuốc được chuyển hóa nhanh chóng thành chất có hoạt tính chính của nó là acid fenofibric [12]. Acid fenofibric được chỉ định cho điều trị rối loạn lipid máu hỗn hợp và tăng triglycerid máu với liều khuyến cáo 135 mg mỗi ngày, đây cũng là liều khuyến cáo tối đa. Liều khởi đầu 45 mg mỗi ngày là thích hợp ở những bệnh nhân bị tăng triglyceride máu.
Đây cũng là liều khuyến cáo cho bệnh nhân suy thận. Acid fenofibric không được khuyến cáo ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin <30 mL/phút) hoặc những người chạy thận nhân tạo, vì nó không được loại bỏ bằng lọc máu. Các xét nghiệm chức năng gan và thận nên được thực hiện trước khi sử dụng thuốc. Thuốc fibric làm tăng bài tiết cholesterol vào mật, dẫn đến tăng nguy cơ sỏi đường mật.
Bệnh nhân bị bệnh túi mật không nên được kê đơn acid fenofibric. Nếu có các triệu chứng sỏi mật tiến triển thì cần theo dõi, nếu sỏi mật phát triển, nên ngừng thuốc. Nếu nồng độ lipid trong máu không giảm nhiều sau 3 đến 6 tháng điều trị bằng fenofibric thì cần thay đổi thuốc (trị liệu bổ sung hoặc trị liệu khác) [13]. Các hướng dẫn điều trị hiện tại khuyến cáo liệu pháp statin là phương pháp điều trị đầu tay cho những bệnh nhân có nguy cơ cao bị rối loạn lipid máu, ngoại trừ những người có nồng độ triglyceride tăng lớn hơn 500, trong trường hợp đó nên dùng thuốc hạ triglyceride trước khi điều trị statin [14].
Chỉ điều trị bằng statin sẽ bỏ lỡ cơ hội giải quyết các khía cạnh quan trọng khác của điều trị lipid, và có lẽ liệu pháp kép với statin và acid fenofibric có thể giải quyết được vấn đề này này [13]. Tác dụng không mong muốn Acid fenofibric có thể gây ra các phản ứng bất lợi [4]: - Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh mạch vành tăng. - Độc tính trên gan. - Phản ứng quá mẫn.
- Huyết khối tĩnh mạch. Tương tác thuốc Tương tác giữa acid fenofibric và các thuốc dùng đồng thời có thể làm thay đổi cách thuốc tác động hoặc làm tăng nguy cơ mắc các tác dụng phụ nghiêm trọng. Các thuốc có thể tương tác với acid fenofibric là nhóm thuốc chống đông máu (như warfarin). Fenofibric có tính chất gần tương tự fenofibrat, do đó không sử dụng thuốc có chứa Fenofibrat khi đang dùng acid fenofibric [15].
Một số phương pháp tổng hợp acid fenofibric 1. Tổng hợp từ (4-clorophenyl)(4-hydroxyphenyl)methanon Tác giả Philippe Dellis và Kamel Nasar đã tiến hành hoà tan 4,50 g (0,02 mol) (4-clorophenyl)(4-hydroxyphenyl) methanon trong 100 mL aceton trong bình cầu 250 mL, lắc đến khi tan hoàn toàn. Thêm 4,00 g NaOH (dạng rắn), khuấy ở nhiệt độ thường trong 30 phút. Sau đó, thêm 3,0 mL CHCl3 (0,036 mol), đun hồi lưu ở 60°C trong 1 giờ [16].
Kết thúc phản ứng, cất loại dung môi dưới áp suất giảm. Cắn còn lại hoà tan trong H2O, acid hoá bằng acid HCl loãng đến pH 2-3, xuất hiện tủa, lọc thu tủa. Sau đó hòa tan tủa trong 300 mL NaHCO3 bão hòa, khuấy kĩ, lọc thu dịch, loại bỏ tủa. Tiếp tục acid hóa bằng acid HCl loãng đến pH 2-3, acid fenofibric sẽ kết tủa, lọc thu được sản phẩm.
Kết tinh lại trong hỗn hợp cồn – nước tỉ lệ 1:1. Lọc thu được sản phẩm kết tinh. Thủy phân este fenofibrat Tác giả Philippe Dellis và Kamel Nasar thực hiện thủy phân liên kết este fenofibrat trong môi trường acid hoặc base thu acid fenofibric [16]. • Thủy phân trong môi trường acid Hòa tan 0,50g (1,4 mmol) este fenofibrat trong ethanol, thêm 10 mL acid hydrocloric 2M khuấy đều, đun hồi lưu trong 10 giờ.
Sau khi phản ứng kết thúc, thêm H2O vào khối phản ứng xuất hiện kết tủa trắng. Sau đó lọc lấy tủa, sấy khô thu được acid fenofibric. • Thủy phân trong môi trường base (NaOH) Hòa tan 2,00 g (5,6 mmol) este fenofibrat trong 50 mL ethanol, thêm 0,28 g NaOH (7,0 mmol) trong 10 mL H2O, khuấy đều và đun nóng 90°C trong 8,5 giờ. Khi kết thúc, đưa dịch phản ứng về nhiệt độ phòng, acid hóa bằng cách thêm từ từ HCl loãng đến pH 2-3, xuất hiện tủa, lọc thu tủa.
Hòa tan tủa trong 100 mL dung dịch NaHCO3 bão hòa, khuấy kĩ, lọc thu dịch, loại bỏ tủa. Tiếp tục acid hóa bằng dung dịch HCl loãng đến pH 2-3, acid fenofibric sẽ kết tủa, lọc thu được sản phẩm. Kết tinh lại trong hỗn hợp cồn - nước tỉ lệ 1:1. Lọc, rửa thu được sản phẩm kết tinh.
Thủy phân fenofibrat Tác giả Trương Phương và Nguyễn Tường Vi thực hiện thủy phân fenofibrat trong môi trường acid thu được acid fenofibric. Hòa tan 0,5 g (0,0015 mol) fenofibrat trong ethanol, thêm 10mL acid hydroclodric 2M khuấy đều, đun hồi lưu trong 10 giờ. Sau khi phản ứng kết thúc, thêm H2O vào khối phản ứng xuất hiện kết tủa trắng. Sau đó lọc lấy tủa, sấy khô thu được acid fenofibric [17].
Một số phương pháp định lượng acid fenofibric 6 Bảng 1. Một số phương pháp định lượng acid fenofibric. TL Phươn Điều kiện sắc kí Xử lý Kết quả TK g pháp mẫu phân tích [12] HPLC- - Cột: Germini C18 (250 × Tủa Phương pháp đã định lượng UV 4,6mm; 5µm) protein acid fenofibric trong huyết - Pha động: MeOH – đệm tương với khoảng tuyến tính phosphat pH3 (75: 25) rộng (0,25 – 40,0 µg/mL), - Thể tích tiêm mẫu: 50µL LOQ: 0,25 µg/mL. -Bước sóng phân tích 288nm - Chất nội chuẩn: atorvastatin [18] HPLC- - Cột: Symmetry Shield Chiết Phương pháp đã định lượng UV RP18 (150 × 4,60 mm, 5 lỏng- acid fenofibric trong huyết μm) lỏng tương với độ thu hồi tuyệt đối - Pha động: acetonitril – bằng của acid fenofibric sử dụng acid phosphoric 0,02 M EtOAc một bước chiết lỏng/lỏng là (50:50) 79,8%.
Đường chuẩn được - Bước sóng phân tích: thiết lập cho dải nồng độ từ 295nm 0,05 đến 10,0 μg/mL. - Chuẩn nội: 4'-cloro-5- floro-2- hydroxybenzophenon [19] HPLC- - Cột: C18 (4,6x 250mmx Chiết Phương pháp đã định lượng UV 5µm) lỏng- acid fenofibric trong huyết 7 - Pha động: MeCN: đệm lỏng tương với khoảng tuyến tính acetat 20mM = 40:60 bằng 0,3 – 20,0 µg/mL, hệ số - Bước sóng phân tích: EtOAc tương quan r2 = 0,9983, độ 295nm thu hồi trung bình từ huyết - Chất chuẩn nội: tương người qua bước chiết Nevidipin lỏng/lỏng là trên 62%. [20] UHPL - Cột pha tĩnh Acquity Chiết Phương pháp đã định lượng C UPLC(TM) BEH C(18) lỏng- acid fenofibric trong huyết detecto (50 × 2,1 mm, 1,7 µm) lỏng tương với khoảng tuyến tính r khối - Chế độ đẳng dòng, tốc độ bằng 0,05-7,129 µg/mL. Độ đúng phổ dòng 0,2 mL/phút EtOAc và độ chính xác trong ngày và ion hóa - Chất chuẩn nội: Acid giữa các ngày không quá phun mefenamic 9,3%.
Độ thu hồi là 66,7% và điện 52,6% với acid fenofibric và acid mefenamic, tương ứng.