Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TÍNH TÍCH CỰC NGHIÊN CUU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN 1. Tính tích cực 1. Khái niệm tính tích cực Tính tích cực được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, hiểu một cách chung nhất theo Từ điển Tiếng Việt thì tính tích cực được hiểu theo hai nghĩa: Một là, chủ động hướng tới hoạt động, nhằm tạo ra những thay đôi, phát triển (tư tưởng tích cực, phương pháp tích cực). Hai là, hăng hái, năng nỗ với công việc (tích cực học tập, tích cực làm việc) [31, tr.
Quan điểm của các nhà sinh học có cách giải thích khác nhau về bản chất sinh lý của tính tích cực cho rằng cơ sở sinh lý thần kinh của tính tích cực chính là hoạt động của vỏ bán cầu đại não và hệ thống tín hiệu thứ hai. Đây là sự khác biệt giữa con người với con vật. Con vật chỉ bắt chước, chứ không có tính tích cực. Chỉ con người mới có tính tích cực hoạt động, hành động [5], [47].
Quan điểm của các nhà triết học cho răng mỗi sự vật bao giờ cũng thê hiện tính tích cực của nó bởi vật chất luôn vận động và phát triển không ngừng. Tính tích cực thể hiện ở sức mạnh của con người trong chinh phục cải tạo thế giới và chính bản thân mình. Tính tích cực như là một phẩm chất xã hội căn bản của mỗi người. Tính tích cực của từng cá nhân có thé được thực hiện thông qua hoạt động sáng tạo.
Đây là một loại hoạt đặc biệt: Tự giác, có hứng thú, những hành động và hành vi được thôi thúc không phải do tính tất yếu bên ngoài mà do tinh tat yêu bên trong, do nhu cau va lợi ích của chủ thé [37, tr. Quan điểm của các nhà tâm lý học. Trong Từ điển Tâm lý học, tính tích cực là đặc điểm chung của các cơ thé sống.Trong mối tương quan với hoạt động, tính tích cực đóng vai trò là điều kiện, động lực của các quá trình hình thành, thực 11 hiện và thay đổi về loại hình của hoạt động, no là thuộc tính quan trọng của sự van động nội sinh của hoạt động [6, tr. Về tính tích cực của cá nhân được các lý thuyết chính nghiên cứu, như: Phân tâm học, tâm lý học nhân văn, tâm lý học hành vi, tâm lý học hoạt động.
Lý thuyết phân tâm học (S.Freud ) cho răng tính tích cực của con người coi như một sức mạnh tự nhiên sinh vật giống như bản năng động vật, mà đặc biệt là bản năng tình dục [14]. Lý thuyết tâm lý học nhân văn (A.Rogers) cho răng mô hình tích cực được thê hiện trong quan hệ “nhu cầu — tính tích cực” [14]. Ly thuyét tam ly hoc hanh vi (J.Bandura) cho rang ban chat của hành vi là phan ứng của co thê đáp ứng lại tác động của môi trường [20]. Lý thuyết tâm lý học hoạt động cho rằng tính tích cực gắn liền với hoạt động và hoàn cảnh bên ngoài, nó biểu hiện như động lực dé hình thành và hiện thực hoá hoạt động.
Các nhà tâm lý học hoạt động đã nghiên cứu van đề tính tích cực hoạt động của cá nhân tập trung chủ yếu ở bốn hướng sau: Hướng thứ nhất, tính tích cực được xem xét từ góc độ chức năng, vai trò của chủ thé với thế giới bên ngoài (S. Các tác giả đã chỉ ra ba điểm biểu hiện của tính tích cực: Tính tích cực thê hiện tinh chủ định của ý thức, tính chủ động của chủ thê với thế giới bên ngoài; tính tích cực là thông số đo sự chuyển động, sự biến đổi hoạt động tâm lý của chủ thé gan liền với việc tiêu hao năng lượng tâm lý và sinh lý; tính tích cực biểu hiện chức năng thích nghi mà cao hơn là sự thích ứng, sự cải tạo và sáng tạo của chủ thê với thé giới bên ngoài [37, tr. Hướng thứ hai, xem xét tính tích cực gan với hành động va được thê hiện trong các mức độ lĩnh hội khác nhau đó là chỉ số đo tính tích cực của chủ thê (P. Hướng thứ ba, nhìn nhận tính tích cực qua các dau hiệu của chúng (A.
Các tác giả đều thống nhất cho răng những thành tố tâm lý cơ bản, đặc trưng cho tính tích cực là: Tính tích cực gan liền với hoạt động, hay nói cách khác tính tích cực phải thể hiện trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trong những hoạt động, hành vi cụ thé của con người; tính tích cực dé chỉ tinh 12 sẵn sàng hoạt động của chủ thé, là nhu cầu đối với hoạt động của chủ thé; tính tích cực để chỉ tính chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ý của chủ thê đối lập với sự bị động, thụ động [12]. Hướng thứ tư, các tác giả cho rằng tính tích cực bao hàm và thể hiện 4 chỉ số, đó là: Tính giả trị và tính tự nguyện của hoạt động; tính sáng tạo; tính hiệu quả của hoạt động mà tính tích cực đang hướng tới; tính phát triển (L. Trên quan điểm tiếp cận hoạt động — nhân cách — giao tiếp các nhà tâm ly học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uan, Trần hữu Luyén, Trần Quốc Thành. đều thống nhất cho rang tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách, được biểu hiện trước hết ở việc xác định tính tự giác thực hiện hoạt động, giao tiếp nhăm thực hiện hoá mục đích [48]; [11].
Khi ban vé tính tích cực, tác giả Nguyễn Thị Tinh cho rang, tính tích cực là ý thức tự giác của con người về mục đích của hoạt động, thể hiện ở lòng say mê đôi với hoạt động; sự chủ động, sáng tạo và nỗ lực vượt mọi khó khăn trong hoạt động nhằm tô chức và thực hiện hoạt động có hiệu quả. Tính tích cực được nảy sinh, hình thành, phát triển và biéu hiện trong hoạt động [37, tr. Tác giả Lê Thị Minh Loan cũng cho rằng tính tích cực gắn liền với ý thức tự giác của con nguoi, thé hién su chu động, hứng thú, sáng tao và nỗ lực vượt khó khăn của con người trong các dạng hoạt động cụ thé dé đạt được mục đích [20, tr. Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu đi trước về tính tích cực, chúng tôi cho rằng trong nội hàm khái niệm của tính tích cực cần phải chứa đựng những nội dung sau: Sự chủ động, sự hứng thú, sự sáng tạo và vượt khó khăn.
Trong nghiên cứu nay, tinh tích cực được hiểu là ý thức tự giác của con người thể hiện sự chủ động, hứng thú, sáng tạo và nỗ lực vượt khó khăn nhằm thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động. Vai trò của tính tích cực Tính tích cực là một trong những phẩm chat cơ bản của nhân cách. Một cá nhân chỉ được thừa nhận là một nhân cách khi cá nhân đó tích cực hoạt động, nhờ vào việc nhận thức, cải tạo, sáng tạo ra thê giới và đông thời cải tạo chính 13 bản thân mình. Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thé hiện rd nét ở tính tích cực của nhân cách [47, tr.
Tinh tích cực có những vai trò sau đây: - Tính tích cực như một động lực thúc đây hoạt động của con người. - Tính tích cực góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của hoạt động hay nói cách khác, tính tích cực là yếu tố quyết định trực tiếp chất lượng và hiệu quả mọi hoạt động của cá nhân. - Tính tích cực là nguồn gốc của sự sáng tạo. - Tính tích cực là yếu tô giúp con người hướng tới sự thành đạt.
Nghiên cứu khoa học 1. Khai niệm nghiên cứu khoa học Từ trước đến nay, khái niệm “nghiên cứu khoa học” vẫn được quen dùng để chỉ các hoạt động nhằm nghiên cứu, tìm tòi bản chất, qui luật, tác dụng của các đối tượng, hiện tượng trong tự nhiên, kỹ thuật và xã hội. Nghiên cứu khoa học là một khâu cơ bản trong hoạt động khoa học. Theo tác giả Dương Thiệu Tống nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng.
Nó là một dạng hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhăm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặt các đữ kiện lại với nhau rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường qui nạp và diễn dịch [39, tr. Cũng theo quan điểm này, tác giả Vũ Cao Đàm cho rằng nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát trién nhận thức khoa học về thé giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới va phương tiện kỹ thuật mới dé làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người. Về mặt thao tác, có thé định nghĩa, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá [8, tr. Theo tiép cận hoạt động nghiên cứu khoa học là một hoạt động tim kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu thu thập được, các tài liệu, kiến thức.đạt được từ các thí nghiệm khoa học dé phat hiện ra 14 những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, dé sang tao phương pháp va phương tiện kỹ thuật mới cao hon, gia tri hon. Theo tiếp cận nhận thức, nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức hướng vào việc khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thé giới khách quan nhằm phát triển nhận thức khoa học và thé giới, đó là hoạt động trí tuệ nhằm cải tạo hiện thực. Trong nghiên cứu này chúng tôi đồng tình với khái niệm nghiên cứu khoa học được quy định tại Tại Khoản 4 Điều 3 Luật Khoa học và Công nghệ: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động kham pha, phat hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn "[21]. Các đặc điểm đặc trưng và những công việc chit yếu của nghiên cứu khoa học 1.Các đặc điểm đặc trưng của nghiên cứu khoa học Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa hề biết đến.
Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt đặc điểm khác nhau của nghiên cứu khoa học, mà người nghiên cứu cần quan tâm khi xử lý những vẫn đề cụ thê về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu. Cụ thể: Tính mới; tính tin cậy; tính thông tin; tính khách quan; tính rủi ro; tính thừa kế và tính cá nhân.