Chương 1 TỔNG QUAN 1. Y học cổ truyền của một số quốc gia và Việt Nam 1. Y học cổ truyền của một số quốc gia Y học cổ truyền (YHCT) theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Đó là tổng hợp các tri thức và kỹ năng thực hành trên cơ sở những lý thuyết, đức tin và kinh nghiệm bản địa của những nền văn hóa khác nhau, có thể giải thích được hoặc không, được sử dụng để duy trì sức khỏe, cũng như trong dự phòng, chẩn đoán, cải thiện hoặc điều trị bệnh tật về thể chất và tinh thần [6], [9]. Theo đánh giá của WHO năm 2008 có 80% dân số Châu Phi được chăm sóc sức khỏe bằng YHCT và trên 50% người dân Châu Âu và Nam Mỹ đã sử dụng y học bổ sung/thay thế (CAM) trong một năm qua khi được hỏi.
YHCT đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kinh tế và y tế [10], [11]. Trung Quốc: Trung Quốc là một trong các quốc gia có nền YHCT phát triển mạnh nhất thế giới, năm 2011, Chính phủ Trung Quốc đưa ra kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015) về phát triển YHCT đảm bảo YHCT được bảo vệ, hỗ trợ và phát triển tích cực. Theo báo cáo của bộ Y tế Trung Quốc tại Hội nghị YHCT các nước ASEAN (Association of South – East Asian) lần thứ hai, ngày 31-10-2010 tại Hà Nội (Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ hai); Hiến pháp của Trung Quốc năm 1982 ghi rõ: phát triển nền y học của Trung Quốc theo hướng kết hợp y học hiện đại (YHHĐ) và YHCT trong hệ thống chăm sóc sức khỏe (CSSK) quốc gia. Thống kê của Bộ Y tế Trung Quốc năm 2009, cả nước có 3115 bệnh viện YHCT với 400.000 giường bệnh, điều trị cho 302 triệu bệnh nhân ngoại trú và trên 9 triệu bệnh nhân nội trú.
Ngoài ra còn có 245 bệnh viện với mô hình kết hợp giữa YHCT và YHHĐ và 95% số bệnh viện đa khoa có khoa YHCT. Trung 4 Quốc có 27 trường Đại học YHCT (thời gian đào tạo 5 năm), 52 trường trung học YHCT và 81 trường Đại học Y khoa có khoa YHCT.000 sinh viên theo học tại các trường Đại học YHCT, trong đó có 3.000 sinh viên nước ngoài. Trong những năm qua đã có khoảng 9.000 dược phẩm mới từ YHCT của Trung Quốc ra đời và đem lại doanh thu cho đất nước khoảng 180 tỷ nhân dân tệ mỗi năm. Y học cổ truyền Trung Quốc được nhiều nước trên thế giới (khoảng trên 120 quốc gia) đưa vào chương trình chăm sóc sức khỏe của quốc gia [11], [12], [13].
Nhật Bản: Nhật Bản là nước có truyền thống YHCT lâu đời, từ thế kỷ thứ V Y học cổ truyền Trung Quốc đã vào Nhật Bản qua con đường bán đảo Triều Tiên. Song, sau năm 1868, YHCT Nhật Bản bị lụi dần do thể chế cầm quyền, nhất là từ năm 1912-1926, thời Minh Trị, YHCT bị cấm hoạt động (chỉ cho Tây y hoạt động). Mặc dù vậy, YHCT Nhật Bản vẫn tiếp tục tồn tại và được người dân sử dụng trong cộng đồng, YHCT Nhật Bản bao gồm YHCT Trung Quốc và y học dân gian của Nhật Bản, được người Nhật Bản gọi là Kampo. Sau năm 1950, YHCT Nhật Bản dần được phục hồi.
Y học cổ truyền được đưa vào giảng trong trường đại học Y khoa hoặc trường đại học có khoa Y từ năm 1986. Để trở thành một Kampo, người thầy thuốc phải tốt nghiệp trường đại học y trở thành bác sỹ y học hiện đại (YHHĐ) và có thời gian thực tế lâm sàng 03 năm, sau đó học thêm 03 năm về YHCT. Trên 90% bác sỹ Nhật Bản thường xuyên kết hợp YHHĐ với thuốc YHCT trong khám và điều trị bệnh cho người dân tại cộng đồng và việc kê đơn thuốc YHCT của các bác sỹ trên cơ sở các bài thuốc YHCT ghi trong dược điển (kể cả sự gia giảm của bài thuốc). Trên lâm sàng, YHCT Nhật Bản được đưa vào khám và điều trị kết hợp với YHHĐ trong 25 chuyên ngành (lão khoa, nhi khoa, tiêu hóa, xương khớp, sản khoa, phụ khoa, da liễu, tiết niệu, tim mạch, thận, phổi….
Một 5 trong những nguyên nhân giúp cho YHCT được người dân sử dụng nhiều là: từ năm 1976 Nhật Bản đã đưa 148 bài thuốc Kampo và 6 phương pháp châm cứu vào mục chi trả của bảo hiểm y tế quốc gia và Kampo còn đáp ứng được các yếu tố tâm linh và tinh thần của người Nhật [11], [14], [15]. Singapore: Theo báo cáo của bộ Y tế Singapore tại Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ 02: từ năm 1995, Vụ YHCT của Bộ Y tế Singapore đã được thành lập. Đến năm 2000, đạo luật về đội ngũ hành nghề YHCT đã được Quốc hội Singapore thông qua. Tính đến ngày 31-12-2009, Singapore có 2.421 cán bộ đăng ký hành nghề YHCT.
Việc khám bệnh, chữa bệnh bằng YHCT được người Singapore tin dùng. Singapore có ba chủng tộc chính, chủ yếu là người Trung Quốc (74,7%), người Malaysia chiếm 13,6%, người Ấn Độ chiếm 8,9%. Y học cổ truyền tại nước này gồm các phương pháp chữa bệnh chính là: YHCT Trung Quốc (sử dụng châm cứu và nguyên liệu thuốc Trung Quốc); Y học cổ truyền Malaysia (sử dụng dược liệu thuốc của Malaysia hoặc Jamu chủ yếu từ Indonesia và Malaysia); Y học cổ truyền Ấn Độ (sử dụng dược liệu thuốc hoặc Ayurveda chủ yếu từ Ấn Độ) [7], [16], [17]. Thái Lan: Bộ Y tế Công cộng Thái Lan đã lồng ghép các loại thuốc thảo dược vào chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu từ khi có Kế hoạch phát triển Y tế Quốc gia lần thứ 4 (1977-1981) bằng cách lựa chọn 60 cây thuốc sử dụng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Cẩm nang về các cây thuốc được lựa chọn đã in thành sách xuất bản và cấp cho các tình nguyện viên về thôn bản trong cả nước để thúc đẩy việc trồng cây thuốc tại cộng đồng và giáo dục người dân hiểu về lợi ích của các cây thuốc, góp phần điều trị các bệnh và các triệu chứng thông thường để tăng cường việc tự chăm sóc sức khỏe. 6 Năm 1993 Viện nghiên cứu thuốc YHCT được thành lập. Đến năm 2002 Vụ YHCT của Bộ Y tế Công cộng Thái Lan được thành lập nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về YHCT. Mô hình lồng ghép YHCT vào chăm sóc sức khỏe ban đầu và tăng cường sử dụng các cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được Thái Lan liên tục sử dụng trong khoảng 30 năm (tính đến 2010) tương tự như phương pháp tiếp cận của WHO/SEAR để thúc đẩy việc sử dụng các cây thuốc, thuốc thảo dược và các chế phẩm thuốc YHCT được lựa chọn tại các cấp cơ sở.
Theo báo cáo của Bộ Y tế Công cộng Thái Lan tại Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ 02; ngày 03- 03-2007, Quốc hội Thái Lan đã thông qua Luật Y tế Quốc gia, Điều 47 của Luật ghi rõ: “việc tăng cường, hỗ trợ, sử dụng và phát triển những kiến thức công nghệ và thực hành địa phương liên quan đến sức khỏe, thuốc YHCT của Thái Lan, thuốc bản địa và các thuốc thay thế khác phải là một trong các yếu tố thiết yếu của Điều lệ Hệ thống Y tế Quốc gia”. Tính đến tháng 9/2009, số bác sĩ hành nghề YHCT được cấp phép ở Thái Lan thuộc các lĩnh vực: hành nghề YHCT 17.001; hành nghề dược học cổ truyền 23.409; hành nghề nữ hộ sinh cổ truyền 5.735; hành nghề massage Thái Lan 332; hành nghề ứng dụng YHCT Thái Lan 660. Đến năm 2010, Thái Lan có 13 trường Đại học giảng dạy YHCT, trong đó có 5 trường đào tạo cử nhân YHCT và 8 trường đào tạo bác sĩ YHCT ứng dụng, thời gian đào tạo là 4 năm. Tính đến tháng 4/2010, tại nước này đã có 15 cơ sở sản xuất thuốc YHCT được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN (Good Manufacturing Practice ASEAN – thực hành sản xuất thuốc tốt của Hiệp hội các nước Đông Nam Á) và 27 cơ sở được nhận chứng chỉ GMP (Good Manufacturing Practice - thực hành sản xuất thuốc tốt) [7], [16], [18].
7 Philippines: Năm 1992 nhiều người dân Philippine không có khả năng chi trả tiền thuốc chữa bệnh bằng YHHĐ, ngành Y tế đã vực dậy chương trình YHCT và đến năm 1997 Luật Thuốc YHCT và thuốc thay thế đã được phê duyệt. Viện Chăm sóc sức khỏe bằng thuốc YHCT và thuốc thay thế (Philippine Institute of Traditional and Alternative Health Care - PITAHC) được thành lập có nhiệm vụ cung cấp và phân phối sản phẩm chăm sóc sức khỏe truyền thống và thay thế. Đồng thời, phối hợp với bảo hiểm y tế địa phương cho phép thanh toán chi trả của người bệnh bằng các hình thức chữa bệnh bằng châm cứu hay các hình thức thay thế khác [17], [19], [20]. Indonesia: Indonesia YHCT có từ thế kỷ XV dựa trên kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm độc đáo riêng của mỗi bộ tộc, các vị thuốc thảo dược được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng và có tới 2,7% dân số Indonesia sử dụng YHCT trong CSSK.
Chính phủ Indonesia đã xây dựng chiến lược phát triển thuốc YHCT gồm 3 bước: bước (1) tìm hiểu cây thuốc bản địa; bước (2) chuẩn hóa cây thuốc và vị thuốc; bước (3) thử nghiệm lâm sàng và sản xuất [17], [20]. Brunei: Việc thực hành và sử dụng YHCT của các cộng đồng địa phương tại Brunei đã có từ đầu thế kỷ XIV và trở thành một phần của di sản quốc gia và văn hóa của đất nước Brunei. Các thầy thuốc hành nghề YHCT bao gồm các lương dược Malaysia, “sin she” của Trung Quốc và “healers Ayuvedic guru/yoga trị liệu” của Ấn Độ, các thầy lang tôn giáo, tâm linh và những người khác, tất cả đều cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoae ban đầu ở dạng này hay dạng khác cho cộng đồng. Các thầy lang truyền thống được phép hành nghề dài hạn về thuốc YHCT/thuốc bổ sung/ thuốc thay thế (TM/CAM) miễn là không trái pháp luật 8 và quy định hiện hành về quản lý và thực hành của y học allopathic và một số hướng dẫn do Bộ y tế Brunei quy định.
Bộ Y tế Brunei đã thành lập và phát triển một hệ thống chăm sóc sức khỏe hiện đại giúp cho người dân Brunei đều được hưởng lợi từ các dịch vụ y tế của hệ thống này trong những năm gần đây [7], [17]. Malaysia: Đạo luật Y tế năm 1971 của Malaysia thừa nhận công tác thực hành về YHCT. Y học cổ truyền của Malaysia được điều chỉnh theo văn hóa của mỗi chủng tộc Mã Lai, Trung Quốc, Ấn Độ và các dân tộc bản địa. Malaysia công nhận các hoạt động khác của YHCT như phép chữa vi lượng đồng căn hay thuốc bổ sung.