Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lao tiềm ẩn 1. Một số khái niệm liên quan đến lao tiềm ẩn Bệnh nhân định hướng: là người đã được chẩn đoán mắc lao phổi có vai trò định hướng để phát hiện người có nguy cơ cao mắc lao. Bệnh lao (lao hoạt động): là tình trạng bệnh lý do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis (MTB) gây ra, biểu hiện các triệu chứng lâm sàng như ho, khạc đờm, sốt, đau ngực, khó thở, mệt mỏi, sụt cân… hoặc cận lâm sàng tìm thấy vi khuẩn lao qua soi, nuôi cấy hay các kỹ thuật sinh học phân tử như Hain test, Xpert- MTB/RIF hoặc có bằng chứng mô bệnh học… Bệnh lao có bằng chứng vi khuẩn học: bệnh lao được chẩn đoán dựa trên việc tìm thấy vi khuẩn lao qua soi trực tiếp, nuôi cấy hoặc qua các kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử như Xpert MTB/RIF, Hain.
Lao tiềm ẩn: là tình trạng cơ thể người có đáp ứng miễn dịch với kháng nguyên của trực khuẩn gây bệnh lao ở người (MTB) nhưng chưa có dấu hiệu lâm sàng - cận lâm sàng nào cho thấy bệnh lao hoạt động. Người tiếp xúc hộ gia đình: Là các thành viên sống trong cùng nhà với bệnh nhân lao phổi hoặc những người đáp ứng các điều kiện sau: - Ngủ cùng nhà với bệnh nhân lao phổi ít nhất 1 đêm/tuần trong 3 tháng trước khi bệnh nhân được chẩn đoán, - Có ở cùng nhà với bệnh nhân lao phổi ít nhất 1 giờ/ngày và liên tục 5 ngày/tuần trong 3 tháng trước khi bệnh nhân lao phổi được chẩn đoán. Điều trị lao tiềm ẩn: là liệu trình điều trị hiệu quả cho người có nguy cơ cao mắc lao hoặc có bằng chứng mắc lao tiềm ẩn. Trước đây còn gọi là điều trị dự phòng lao [6].
Chẩn đoán lao tiềm ẩn Chẩn đoán lao tiềm ẩn dựa trên 2 yếu tố [6]: (1) Xét nghiệm Mantoux hoặc IGRA dương tính. (2) Loại trừ được mắc lao hoạt động qua khám lâm sàng, Xquang phổi, xét nghiệm đờm hoặc dấu hiệu bất thường ở các cơ quan ngoài phổi nghi lao. Phân biệt giữa lao vào lao tiềm ẩn Lao tiềm ẩn Bệnh lao Không có các triệu chứng lâm sàng Có thể có các triệu chứng lâm sàng của bệnh lao của bệnh lao bao gồm: sốt, ho khạc kéo dài, đau ngực, gầy sút cân, ra mồ hôi đêm, ho máu, hoặc có dấu hiệu của lao ngoài phổi. Xét nghiệm Mantoux hoặc IGRA Xét nghiệm Mantoux hoặc IGRA thường dương tính thường dương tính Phim chụp Xquang ngực bình thường Phim chụp XQ thường có hình ảnh hoặc có hình ảnh tổn thương cũ, cố bất thường thâm nhiễm, nốt, xơ, định hang… Xét nghiệm vi khuẩn lao âm tính Xét nghiệm vi khuẩn lao thường (VD: soi đờm trực tiếp, Xpert, nuôi dương tính (soi trực tiếp, cấy, cấy…) Xpert…), tuy nhiên âm tính cũng không loại trừ.
Không lây truyền vi khuẩn lao cho Người bệnh lao phổi có thể lây truyền người khác vi khuẩn lao cho người khác Cần điều trị lao tiềm ẩn để giảm nguy Cần xác định tình trạng kháng thuốc cơ phát triển thành bệnh lao và điều trị phác đồ lao phù hợp 5 Hình 1. Mô tả quá trình nhiễm lao và lao tiềm ẩn 1. Xử trí khi mắc lao tiềm ẩn a. Chuẩn bị trước khi điều trị Tương tự chuẩn bị cho điều trị bệnh lao tiến triển, trước khi điều trị lao tiềm ẩn, nhân viên y tế nên thực hiện giáo dục sức khoẻ cho người bệnh và gia đình được biết.
Nội dung tư vấn, giáo dục sức khoẻ bao gồm: - Người bệnh đã nhiễm vi khuẩn lao, vi khuẩn trong cơ thể có thể nhân lên và gây bệnh khi cơ thể yếu đi. - Một số người có nguy cơ cao chuyển từ nhiễm lao thành bệnh lao như: người tiếp xúc hộ gia đình với bệnh nhân lao phổi, người mắc các bệnh tiểu đường, bụi phổi, suy thận, bệnh hệ thống, người nhiễm HIV, bệnh nhân chuẩn bị cấy ghép tạng, bệnh nhân điều trị thuốc ức chế miễn dịch kéo dài… - Hoàn thành điều trị lao tiềm ẩn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh lao tới 90%. - Bệnh nhân cần uống thuốc đủ liệu trình, đúng liều lượng theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc để đảm bảo hiệu quả điều trị 6 - Giới thiệu các thông tin về phản ứng bất lợi có thể gặp trong điều trị cũng như đề nghị bệnh nhân nên liên hệ ngay với nơi điều trị nếu như có bất kỳ vấn đề gì xảy ra liên quan đến điều trị lao tiềm ẩn. - Điều trị lao tiềm ẩn chỉ dùng 1 đến 2 loại thuốc trong khi điều trị bệnh lao phải dùng ít nhất 4 loại thuốc.
- Hậu quả của bỏ trị, không tuân thủ điều trị b. Nguyên tắc điều trị - Dùng thuốc đúng liều lượng - Dùng thuốc đều đặn - Dùng thuốc đủ thời gian quy định c. Theo dõi điều trị Sau khi được chẩn đoán xác định và được tư vấn điều trị, thầy thuốc sẽ lựa chọn một trong các phác đồ điều trị thích hợp cho bệnh nhân: phác đồ 9H, 6H, 3RH hoặc 3HP. Cán bộ tổ chống lao sẽ đăng ký người bệnh vào sổ đăng ký điều trị lao tiềm ẩn (mỗi người bệnh sẽ có một số đăng ký).
Cấp phát thuốc cho bệnh nhân về nhà uống hàng ngày. Người bệnh cần tái khám hàng tháng tại huyện trong quá trình điều trị bác sĩ cần thực hiện: - Đánh giá tuân thủ điều trị - Đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lao - Làm xét nghiệm chức năng gan hoặc các xét nghiệm khác nếu có lo ngại về ngộ độc gan hoặc các tác dụng phụ khác của thuốc - Hỏi xem bệnh nhân có thấy xuất hiện các triệu chứng tác dụng phụ của thuốc. - Cấp thuốc tháng kế tiếp cho bệnh nhân. Đối với trẻ em khi đến tái khám cần: - Cân trẻ, điều chỉnh liều lượng thuốc theo cân nặng hàng tháng.
7 - Tìm dấu hiệu tác dụng ngoài ý muốn của thuốc lao như: vàng da, vàng mắt… - Chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng trong trường hợp cần thiết. - Đánh giá các dấu hiệu, triệu chứng bệnh lao. - Cánh giá các xét nghiệm cận lâm sàng 1. Khái niệm về cầu trong quản lý lao tiềm ẩn.
Cầu là sự sẵn sàng mua và có khả năng chi trả cho một loại dịch vụ nào đó. Như vậy, không phải tất cả mọi người có bệnh đều có cầu chữa bệnh mà cầu có nghĩa là: có bệnh + sẵn sàng chữa bệnh + sẵn sàng chi trả (hoặc ở đó miễn phí thì là sẵn sàng sử dụng dịch vụ) [10]. Trong nghiên cứu này, cầu sử dụng dịch vụ y tế về lao tiềm ẩn từ phía người sử dụng trong bao gồm: cầu sàng lọc, cầu điều trị và cầu quản lý lao tiềm ẩn. Cầu sàng lọc: là những đối tượng có nguy cơ cao mong muốn được khám sàng lọc và tham gia sàng lọc, phát hiện lao tiềm ẩn bằng các xét nghiệm TST hoặc IRGA.
Cầu điều trị: người mắc lao tiềm ẩn và sẵn sàng điều trị lao tiềm ẩn bằng các phác đồ theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Cầu quản lý: đối tượng mắc lao tiềm ẩn và sẵn sàng thực hiện theo dõi và điều trị thường xuyên, liên tục để đánh giá sự dung nạp, tác dụng phụ của thuốc. Cầu kê đơn phát thuốc về nhà sử dụng: là các đối tượng đến khám bệnh tại cơ sở y tế được chẩn đoán mắc lao tiềm ẩn, được làm hồ sơ, sổ theo dõi và được cấp phát thuốc về nhà sử dụng. Các đối tượng theo hướng dẫn điều trị, đến tái khám tại cơ sở y tế theo định kỳ.
Cầu kê đơn mua thuốc về nhà tự dùng thuốc: là những trường hợp đối tượng đến khám bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh được chẩn đoán mắc lao tiềm ẩn và được kê đơn thuốc và mua thuốc về tự sử dụng thuốc tại gia đình. Người bệnh tự uống thuốc theo hướng dẫn và tái khám theo định kỳ. 8 Cầu nằm điều trị nội trú trong bệnh viện: là những trường hợp đối tượng mắc lao tiềm ẩn có bệnh lý kèm theo, được thầy thuốc của bệnh viện làm hồ sơ bệnh án theo quy định vào nằm điều trị nội trú tại bệnh viện và điều trị theo chế độ người bệnh nội trú. Thực trạng lao tiềm ẩn.
Thực trạng mắc lao tiềm ẩn trên Thế giới. Theo số liệu ước tính cách đây khoảng 2 thập kỷ, 1/3 dân số trên thế giới mắc lao tiềm ẩn, tương đương khoảng 2-3 tỷ người [13]. Cách ước tính này dựa vào mối quan hệ cố định giữa gánh nặng bệnh lao và nguy cơ nhiễm lao hàng năm, trong khi sau gần 20 năm, có quá nhiều thay đổi, cụ thể dân số thế giới tăng từ 6 tỷ dân năm 1998 lên 7 tỷ dân năm 2014, và gánh nặng bệnh lao cũng có những chuyển biến đầy ấn tượng; do đó, cần phải có một ước tính lại gánh nặng lao tiềm ẩn trên thế giới. Tuy nhiên hiện nay chưa có số liệu chính xác về gánh nặng lao tiềm ẩn trên toàn cầu [1].
Tỷ lệ nhiễm lao tiềm ẩn toàn cầu [32] 9 Năm 2014, một ước tính lại gánh nặng lao tiềm ẩn sử dụng mô hình toán học đã được thực hiện. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng xu hướng nhiễm lao hàng năm của các Quốc gia trong giai đoạn 1934-2014 bằng cách tổng hợp số liệu ước tính trực tiếp về tỷ lệ nhiễm lao hàng năm từ các cuộc điều tra mắc lao tiềm ẩn ẩn của 131 quốc gia trong giai đoạn 1950-2011 và số liệu ước tính gián tiếp của WHO về tỷ lệ hiện mắc lao phổi dương tính từ 218 quốc gia trong giai đoạn 1990-2014. Kết quả cho thấy ước tính năm 2014, gánh nặng lao tiềm ẩn trên toàn cầu là 23%, tương đương xấp xỉ 1,7 tỷ người nhiễm lao. Khu vực Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và Châu Phi có tỷ lệ hiện mắc lao tiềm ẩn cao nhất trên thế giới, chiếm khoảng 80%.
Tỷ lệ mới mắc lao tiềm ẩn ẩn được ước tính là 0,8% dân số toàn cầu, tương đương 55,5 triệu người hiện đang có nguy cơ cao mắc lao hoạt động [32]. Những nhóm dân số có nguy cơ mắc lao tiềm ẩn cao gồm người có HIV (+), người tiếp xúc hộ gia đình với người bệnh lao có bằng chứng vi khuẩn, người đang sử dụng thuốc chống ung thư, mắc bệnh bụi phổi silic, suy thận mạn hoặc lọc máu nhân tạo, ghép tạng, bệnh máu ác tính, phạm nhân, người sử dụng ma túy. Lao tiềm ẩn là vấn đề phổ biến tại nhiều nước trên thế giới. Tại Úc, theo kết quả nghiên cứu năm 2018 tỷ lệ mắc lao tiềm ẩn là 42,5% ở người tiếp xúc với bệnh nhân lao và có 32,3% người tham gia điều trị [54].