CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Các khái niệm liên quan * Môi trường: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. * Đánh giá tác động môi trường (ĐTM): Là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó (Theo Khoản 23 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).
* Các đối tượng phải ĐTM: Tất cả các dự án đầu tư phải thực hiện ĐTM, tuy nhiên, phân chia theo mức độ khác nhau. Việc xác định đối tượng ĐTM căn cứ theo quy mô, công suất của dự án. Dự án có quy mô công suất lớn, phức tạp hơn về môi trường phải thực hiện ĐTM, dự án có quy mô công suất nhỏ hơn, ít phức tạp hơn thì thực hiện hồ sơ môi trường ở dạng đơn giản hơn ĐTM. * Thẩm định báo cáo ĐTM: Từ khái niệm về Thẩm định theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản Đà Nẵng, có thể hiểu "Thẩm định báo cáo ĐTM" là việc các cơ quan chức năng xem xét, nghiên cứu và đánh giá việc ĐTM của dự án thông qua đánh giá báo cáo ĐTM, cụ thể về sự phù hợp trong việc nhận định các nguồn thải, đánh giá mức độ, phạm vi tác động của nguồn thải trong mối tương quan với các đối tượng tự nhiên, kinh tế xã hội xung quanh; về phương án, công nghệ xử lý chất thải của dự án, từ đó để đưa ra quyết định phê duyệt hay không phê duyệt hoặc phê duyệt nhưng phải chỉnh sửa, bổ sung báo cáo sao cho phù hợp với quy định pháp luật và có ý nghĩa thực tiễn cao nhất.
* Phê duyệt báo cáo ĐTM: Căn cứ vào kết quả thẩm định của Hội đồng thẩm định, Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt ra quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM có hiệu lực pháp lý bắt buộc thực e 4 hiện, là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường của dự án. Nội dung của quyết định phê duyệt là chấp thuận nội dung của bản báo cáo ĐTM kèm theo các yêu cầu (điều kiện) nhất định, cụ thể về quy mô, công suất, chất lượng nguồn thải sau khi xử lý. Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM của dự án cơ sở pháp lý cần thiết để thực hiện các thủ tục đầu tư tiếp theo của dự án.
Mục đích của ĐTM - ĐTM nhằm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp và cho chủ dự án về các tác động của quá trình hoạt động của dự án đối với môi trường và con người trên cơ sở phân tích, dự báo các tác động, làm cơ sở đưa ra quyết định hợp lý cho hoạt động phát triển phù hợp với môi trường (phát triển bền vững). - Tìm ra các giải pháp tối ưu, lựa chọn công trình bảo vệ môi trường phù hợp với loại hình dự án nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực từ hoạt động của dự án; - Đảm bảo các vấn đề môi trường được cân nhắc đầy đủ và cân bằng với các yếu tố kỹ thuật - kinh tế của dự án trước khi đưa ra các quyết định về dự án. - Đảm bảo cho cộng đồng có quan tâm về dự án hoặc chịu tác động của dự án có cơ hội được biết về dự án và tham gia trực tiếp vào quá trình thiết kế và phê duyệt về dự án. - Công khai, xem xét đồng thời lợi ích của tất cả các bên: Bên Chủ dự án, Chính phủ, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư nhằm triển khai dự án theo cách có lợi nhất và công khai mức độ đồng thuận đối với dự án.
- Ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp, tạo sự chủ động trong vấn đề bảo vệ môi trường suốt quá trình hoạt động của dự án. Tóm lại, mục đích của ĐTM là góp thêm tư liệu khoa học cần thiết cho việc quyết định phê duyệt một dự án phát triển, giúp cho cơ quan có thẩm quyền có đủ điều kiện để đưa ra một quyết định toàn diện và đúng đắn hơn về dự án đạt được mục đích phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Ý nghĩa của ĐTM - ĐTM khuyến khích các hoạt động quy hoạch ngày càng tốt hơn, sát sao hơn với tình hình thực tế của môi trường: Vấn đề môi trường và phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và luôn được xem là quan hệ đối ngược, đó là phát triển càng nhanh thì càng có nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, càng có xu thế làm suy giảm chất lượng môi trường sống. Việc tăng trưởng kinh tế nếu không tính tới yêu cầu bảo vệ môi trường cũng như sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên thì đến một thời điểm nào đó chất lượng môi trường sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, cản trở phát triển, tác động xấu tới kinh tế xã hội của vùng.
ĐTM hình thành với mục đích đánh giá và dự báo các tác động tiêu cực của một dự án hoặc một chính sách đến môi trường là cơ sở để xây dựng các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội theo định hướng phát triển bền vững. - ĐTM giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc trong phát triển lâu dài: Khi thực hiện ĐTM chúng ta đã dự liệu được những trường hợp xấu sẽ xảy ra trong quá trình vận hành dự án, ĐTM giúp hạn chế việc phải khắc phục những tác động mà mình gây ra cho môi trường. Mặt khác, thông qua các kiến nghị từ các đối tượng liên quan trong ĐTM, doanh nghiệp và nhà nước sẽ có sự thận trọng hơn trong việc xây dựng, thực hiện dự án để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, từ đó giảm chi ngân sách địa phương cho xử lý môi trường. - Giúp Nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn: Từ việc tham vấn trong quá trình ĐTM, hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM cũng như trong thanh tra, kiểm tra đối với những cơ sở trong hoạt động sản xuất.
Việc niêm yết công khai báo cáo ĐTM tại Trụ Sở UBND xã, phường là phương thức để cộng đồng tham gia vào quá trình bảo vệ môi trường của dự án. Cơ sở pháp lý của ĐTM - Luật Bảo vệ Môi trường 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014; - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014; - Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014; - Nghị định số 18/2015/NĐ-CP, ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; e 6 - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, ngày 14/02/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường; - Nghị định số 38/2015 NĐ-CP, ngày 24/04/2015 của Chính Phủ về quản lý chất thải và phế liệu; - Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường. - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP, ngày 09/04/2007 của Chính Phủ về quản lý chất thải rắn; - Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT, ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; - Thông tư 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. - Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.
- Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. - Các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong lĩnh vực Tài nguyên môi trường, Xây dựng, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn…. Tổng quan kết quả nghiên cứu về ĐTM trên thế giới 1. Sự hình thành và phát triển của hệ thống ĐTM (Theo Đặng Văn Lợi, Mai Thế Toản (2014), Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam).
- Vào thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX, nhân dân tại các nước phát triển đã bắt đầu quan tâm sâu sắc tới chất lượng môi trường sống. Những nguy cơ về thảm họa môi trường làm cho ĐTM trở thành một vấn đề chính trị rất quan trọng tại nhiều quốc gia thời bấy giờ. Hoa kỳ Kỳ là quốc gia đầu tiên phát Formatted: Font: Times New Roman, Vietnamese e 7 triển hệ thống ĐTM. Từ năm 1969, việc phải tiến hành ĐTM đối với các dự án có quy mô lớn đã quy định trong Đạo luật về chính sách môi trường quốc gia (The National Environmental Policy Act), trong đó quy định tất cả các kiến nghị quan trọng ở cấp Liên bang về luật pháp, các hoạt động kinh tế kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được nhà nước chấp nhận đều phải kèm theo một báo cáo chi tiết về tác động đến môi trường của hoạt động được kiến nghị.
Tiếp đó, hệ thống này đã được giới thiệu và áp dụng tại các nước EU, Châu Á, ví dụ như Úc (1974), Thái Lan (1975), Pháp (1976); Philipines (1978), Israel (1981) và Pakistan (1983). Tại Châu Á, các nước trong khu vực đã quan tâm đến môi trường từ thập kỷ 70 như: Trung Quốc: Luật Bảo vệ môi trường được ban hành từ năm 1979, trong đó Điều 6 và Điều 7 đưa ra các cơ sở cho các yêu cầu đánh giá tác động môi trường cho các dự án phát triển. Bộ Bảo vệ môi trường Trung Quốc đã ban hành Luật ĐTM từ 2003 và mỗi năm có đến khoảng 30.000 dự án lậpbáo Formatted: Font: Times New Roman, Vietnamese Formatted: Font: Times New Roman, Vietnamese cáo ĐTM đã được thực hiện cho các quy hoạch phát triển các vùng kinh tế, địa phương, ngành lĩnh vực, các lưu vực sông, các vùng kinh tế ven biển, vịnh biển … nhưng nhiều học giả Trung Quốc tự đánh giá: chất lượng ĐTM/ĐMC ở nước này vẫn còn chú trọng “phòng ngừa là chính”, nặng hình thức, ít thực chất so với Hàn Quốc và với các nước tiên tiến trên thế giới. - Nhật Bản: ĐTM đã được giới thiệu từ 1972, tuy nhiên đến năm 1984 Formatted: Justified, Indent: First line: 1.