ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, tệ nạn ma túy tại Việt Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 31/12/2008, tổng số ngƣời nghiện có hồ sơ trong toàn quốc là 173.731 ngƣời (56,29%) đang ở ngoài xã hội; 31.225 ngƣời (17,99%) đang cai nghiện tại các cơ sở Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội (CBGDLĐXH) và 44. Tại một số tỉnh, thành phố, số ngƣời nghiện tăng cao nhƣ Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Dƣơng, Thái Bình… Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố thƣơng mại lớn nhất của Việt Nam, nằm ở phía Nam Việt Nam.
Thành phố có 19 quận và 5 huyện. Dân số hơn 7 triệu ngƣời, bao gồm 5.308 dân thƣờng trú và khoảng 1,5 triệu dân nhập cƣ đến từ nhiều tỉnh khác nhau trong cả nƣớc (chƣa kể số dân nhập cƣ theo thời vụ). Theo số liệu của các cơ quan chức năng của thành phố, đầu năm 1996, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 5.300 ngƣời nghiện ma túy. Đến ngày 15/6/2002, theo kết quả điều tra và thực tiễn đấu tranh của các quận-huyện và công an thành phố thì số ngƣời nghiện tăng lên hơn 24.000 ngƣời và hiện nay lên đến khoảng trên 30.
Đáng lo ngại hơn là ma túy tổng hợp có tính gây nghiện nhanh và độc hại cao đã xuất hiện tại thành phố trong vài năm gần đây cùng với việc sử dụng ma túy qua đƣờng tiêm chích đã làm tăng sự lây nhiễm HIV/AIDS [3], [6]. Tệ nạn nghiện ma túy gia tăng tạo sự bất an trong đời sống xã hội, nhân dân lo lắng, ảnh hƣởng đến công cuộc xây dựng và phát triển của thành phố. Đồng thời, ma túy còn gây tác hại lớn cho sức khỏe, đặc biệt là trong thanh thiếu niên nghiện hút, chích, ảnh hƣởng xấu tới nòi giống dân tộc, để lại hậu quả nghiêm trọng cho các thế hệ mai sau [82]. Ý thức đƣợc hiểm họa ma túy, Đảng bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã khẩn trƣơng thực thi hàng loạt biện pháp mang tính chất lâu dài và cấp bách để phòng chống tệ nạn ma túy.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ VII đã đề ra chƣơng trình mục tiêu 3 giảm: giảm ma túy, giảm mại dâm và giảm tội phạm. Ngày 23/7/2001, ban nhân dân thành phố đã ra Quyết định số 62/2001/QĐ-UB ban hành Kế hoạch thực hiện chƣơng trình 9 mục tiêu 3 giảm nêu trên; trong đó có mục tiêu tập trung quản lý ngƣời nghiện ma túy để chữa trị, phục hồi sức khỏe và nhân cách. Trong đó, vấn đề quan trọng và cấp bách là việc khám, chữa bệnh, chăm sóc và tăng cƣờng sức khỏe để những ngƣời nghiện ma túy có đầy đủ sức khỏe học văn hóa, học nghề và lao động sản xuất. Với mục đích tăng cƣờng công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ngƣời nghiện ma túy trong các Trung tâm iáo dục lao động xã hội, đề tài nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu sau: 1.
thực trạng nhu cầu, sử dụng dịch vụ chăm sóc của người cai nghiện ma túy và khả năng đáp ứng của Phòng Y tế Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007. hiệu quả một số giải pháp tăng cường hoạt động chăm sóc cho người cai nghiện ma túy tại các Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội (2008 – 2010). 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Ảnh hƣởng của tới con ngƣời 1.
Khái ni : M , khi đƣợc đƣa vào cơ thể con ngƣời, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức , con ngƣời sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thƣơng và nguy hại cho ngƣời sử dụng và cộng đồng [82]. : Có nhiều cách phân loại, sau đây là một cách phân loại cơ bản [59], [60], [82]: -D. : Là các chất có nguồn gốc tự nhiên nhƣ thuốc phiện và các sản phẩm của thuốc phiện nhƣ morphine, codein., côca và các hoạt chất của nó nhƣ cocain, cần sa và các sản phẩm của cần sa. :L ợc điều chế từ các chất là sản phẩm tự nhiên bằng cách cho tác dụng với một số ban đầu, ví dụ hêroin.
: L ƣợc điều chế bằng phƣơng pháp tổng hợp học toàn phần từ các chất (đƣợc gọi là tiền chất). Ví dụ: Amphetamin, Methamphetamin, Dolargan. - Dựa vào mức độ gây nghiện và khả năng ƣợc chia ra hai nhóm [60], [82]: (Amphetamin, Methamphetamin. 11 (nhựa thuốc phiện, lá cây cần sa.
- ợc chia ra làm 8 nhóm gồm [59], [60]: + Nhóm thuốc phiện và các chế phẩm. + Nhóm cần sa và các sản phẩm của cần sa. + Nhóm côca và các sản phẩm của côca. + Nhóm thuốc ngủ.
+ Nhóm các chất an thần. + Nhóm các chất kích thích. + Nhóm các chất gây ảo giác điển hình. + Nhóm dung môi hữu cơ và các thuốc xông.
- Dựa vào nguồn gốc của và cơ chế tác động dƣợc lý, các chuyên gia của đã thống nhất phân chia thành 5 nhóm sau [2], [82], [105]: + Nhóm 1: là các chất từ cây thuốc phiện. : Hiện nay, vẫn chƣa có một khái niệm NMT thật đầy đủ và thống nhất, trên mỗi một góc độ có những khái niệm khác nhau [60], [82]. , không bỏ đƣợc. + Về mặt sinh học: NMT là một trạng thái nhiễm độc hệ thần kinh và toàn bộ cơ (thực chất là lệ thuộc 12 vào thuốc).
+ Về mặt xã hội: NMT là một tệ nạn ảnh hƣởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, tác động xấu về đạo đức, lối sống, tri thức của con ngƣời… [59], [60] đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạn tính, bị lệ thuộc về thể chất và tâm t , con ngƣời bị lệ thuộc vào nó, khi đó sẽ gây tổn thƣơng và nguy hại cho ngƣời sử dụng và cộng đồng. Ngƣời NMT có các đặc trƣng sau [56]: + Có sự ham nuốn không kìm chế đƣợc, phải sử dụng nó bất kỳ giá nào. + Có khuynh hƣớng tăng dần liều dùng, liều dùng lần sau phải cao hơn liều dùng trƣớc mới có tác dụng. + Tâm sinh lý bị lệ thuộc vào tác dụng của chất đó.
Theo quan điểm y học, trong Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (10th International Classification of Disease – ICD-10), Tổ chức Y tế thế giới xếp NMT vào loại rối loạn tâm thần và hành vi (RLTT&HV) do các chất tác động tâm thần (F.1) và đƣợc mã theo [107]. Ngƣời NMT có thể mắc nhiều bệnh thể chất và tâm thần khác nhau, đặc biệt là các bệnh gây tàn phế, tử vong cao [1], [28], [41], [79], [82], [88] + Quá liều, ngộ độc, hôn mê. 13 + Nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nội tạng: Viêm ), nhiễm HIV/AIDS. + Loạn thần, mất nhớ, mất trí.
Thực ra, ngƣời NMT trƣ , thông thƣờng đã lâm vào cảnh: + Giảm và mất khả năng lao động, thất nghiệp. + Tổn hao tài sản, tiền bạc. + Suy đồi về nhân cách và đạo đức dẫn đến hành vi phạm tội. nh hưởng của * Đối với bản thân người nghiện: - làm hoại , làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh ngƣời nghiện bị tổn hại.
Dùng liều có thể dẫn đến t vong [41]. - Gây nghiện nặng, giảm sút. Tiêm chích dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi-r B, C, đặc biệt là HIV [77], [82]. - Thoái nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật.
Mâu thuẫn và bất với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình. Mất lòng tin với mọi ngƣời… - còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống [77], [82]. * nh hưởng đến gia đình: - Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình. Nhu cầu cần tiền để mua của ngƣời nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 50.
- các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặc cảm, ăn không ngon, ngủ không yên. vì trong gia đình có ngƣời nghiện). 14 - Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc. - Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của ngƣời nghiện do gây ra.
* nh hưởng đến xã hội: - Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết ngƣời, mại dâm, băng nhóm. [77], [82] - Ảnh hƣởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội [77], [82]. - Ảnh hƣởng đến giống nòi, diệt giống nòi [77], [82].
Tác hại của đối với người nghiện Các chất tác động gây ảnh hƣởng xấu đến thông qua tác động xấu đến đƣờng hô hấp, hệ tim mạch, hệ thần kinh, hệ sinh dục… - Đối với hệ hô hấp: Gây kích thích hô hấp, gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp nhất là dùng quá liều. Nhiều trƣờng hợp ngƣng thở không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong [42], [76], [82]. - Đối với hệ tim mạch: Các chất làm tăng nhịp tim ảnh hƣởng trực tiếp lên tim gây co thắt mạch vành, tạo nên cơn đau thắt ngực, có thể gây nhồi máu cơ tim [76], [82]. - Đối với hệ thần kinh: Sử dụng giai đoạn đầu có thể gây hƣng phấn sảng khoái lệ thuộc thuốc…, sau đó xảy ra những tai biến nhƣ co giật, xuất huyết, đột quỵ [42], [82].
- Đối với hệ sinh dục: Ngoài một vài chất tăng khả năng tình dục, hầu hết ở ngƣời NMT khả năng tình dục giảm rõ rệt và điều này còn tồn tại sau khi ngƣng dùng thuốc một thời gian dài [42], [82]. Ngoài ra, ngƣời dùng ma còn bị những tác hại nhƣ hoại tế 15 bào gan, ảo thính, ảo thị…[42], [76], [82]. Tình trạng của người nghiện Qua một số nghiên cứu cho thấy, ngƣời NMT giảm sút nhanh chóng, giảm khả năng lao động; có thể bị rối loạn về dinh dƣỡng, biếng ăn; không phân biệt đƣợc cảm giác nóng lạnh, nhiều trƣờng hợp dùng với liều cao làm tê liệt thần kinh và dẫn đến cái chết. Ngƣời NMT rất dễ mắc một số bệnh nguy hiểm đối với tính mạng nhƣ nhiễm trùng huyết, trụy tim mạch…, đặc biệt ngƣời NTCMT có nguy cơ cao nhiễm HIV/AIDS, HBV, HCV… [42], [72], [82].
Hiện nay, việc sản xuất và sử dụng các chất kích thích Amphetamine đang ngày một lan rộng, trên toàn thế giới ƣớc tính có 40 triệu ngƣời sử dụng loại này và đã trở thành một nạn dịch đáng báo động. Ngày càng có nhiều ngƣời đứng trƣớc nguy cơ bị đe về do sử dụng ATS (Amphetamine – Type Stimulants), có thể do họ đã không nhận thức đƣợc mối nguy hiểm này.