Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Ảnh huởng của phân người tói sức khỏe cộng đồng và môi trường Quản lý phân người không phù hợp sẽ gây ra những tác động đầu tiên tới môi trường sống của con người. Môi trường nước, đất, không khí có thể bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi phân người, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người vì phân người là nguồn truyền nhiễm mang đủ loại mầm gây bệnh đường ruột từ vi khuẩn, siêu vi khuẩn, đơn bào và trứng giun sán. Ước tính 1 gam phân người có thể chứa tới 10 triệu virut, 1 triệu vi khuẩn, 1000 nang ký sinh trùng và 100 trứng ký sinh trùng [3], [32], [36].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 88% bệnh tiêu chảy là do nguyên nhân của việc sử dụng nước và vệ sinh môi trường không an toàn. Hàng năm có 1,8 triệu người chết vì bệnh tiêu chảy, tả, trong đó 90% là trẻ em dưới 5 tuổi ở các quốc gia đang phát triển chết và 133 triệu người bị nhiễm giun nghiêm trọng và 9400 người bị chết bởi bệnh giun mỗi năm [37]. Hậu quả của việc quản lý và xử lý phân người không tốt là làm nhiễm bẩn các nguồn nước, môi trường đất và là nguồn reo giắc bệnh tật cho cộng đồng. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng phân người đã và đang làm cho các nguồn nước ăn uống sinh hoạt bị nhiễm bẩn và là yếu tố rất nguy hiểm đối với sức khỏe cộng đồng.
Sự có mặt của Coliform tổng số và coliform chịu nhiệt trong nước là bằng chứng quan trọng báo hiệu sự ô nhiễm phân đối với nguồn nước. Khi nghiên cứu về mức độ nhiễm Feacal coliform trong nước sinh hoạt ở Philippin cho thấy nước uống dành cho trẻ em ở đây có chứa vi khuẩn Escherichia coli vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép rất nhiều lần 1000 E.coli/lOOml và là nguyên nhân gây nên bệnh tiêu chảy cho trẻ [29], Theo kết quả nghiên cứu của Cục Y tế Dự phòng, Bộ Y tế cho thấy hàm lượng Feacal coliform trung bình có nguồn gốc từ phân người trong nước sinh hoạt ăn uống tại vùng nông thôn Việt Nam rất cao (5.103/100ml), trong đó ở Đông Bắc (4.103/100 6 ml), Tây Bắc (104/100ml), Đồng bàng sông Hồng (7.10 3/100ml), Bắc Trung Bộ (2.103/100ml), Nam Trung Bộ (104/100ml), Tây Nguyên (47/100ml). và tất cả đều vượt giới hạn cho phép. Hầu hết các nguồn nước sinh hoạt đều bị ô nhiễm nặng nề, tỷ lệ nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh rất thấp, chỉ từ 0,5% đến 4,3% ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
Đây là nguồn gốc dịch bệnh lưu hành thường xuyên ở đồng bằng sông Hồng như tiêu chảy, tả, lỵ. Trong cơ cấu bệnh tật, tỷ lệ mắc cao nhất vẫn là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa phần lớn lây lan do phân người theo sơ đồ truyền bệnh qua đường phân - miệng Rào chắn thứ nhất Rào chắn thứ hai (Nhà tiêu hợp vệ sinh) (Các hành vi vệ sinh) Đường truyền bệnh phân miệng [27] 7 Hiện nay, tại nước ta có rât nhiểu loại bệnh được truyền qua phân người như: viêm ruột do vi khuẩn, bị bệnh lỵ trực trùng, bệnh tả, thương hàn và phó thương hàn, viêm gan A, bại liệt, bệnh ỉa chảy do virut, nhiễm giun.[14], Theo kết quả điều tra thực trạng nhiễm giun tại 526 hộ gia đình tại tỉnh Hòa Bình của Verle.A cho thấy 88% tổng số mẫu điều tra có ít nhất là một loại giun trong đó tỷ lệ nhiễm giun móc là 52%. Có 73% số hộ có nhà tiêu trong đó 341 hộ gia đình có nhà tiêu một ngăn và 14 hộ gia đình có nhà tiêu hai ngăn. Tỷ lệ nhiễm giun ở những gia đình có nhà tiêu thấp hơn so với những hộ gia đình có nhà tiêu [35].
Điều tra của Van der Hoek w và cộng sự được tiến hành tại Việt Nam từ năm 1999 đến 2001 cho biết có khoảng 33,9 triệu người bị nhiễm giun đũa (44,4% dân số); 17,6 triệu người bị nhiễm giun tóc và 21,8 triệu người Việt Nam (chiếm 28,6% dân số) đang bị nhiễm giun móc và được phân bố trên toàn quốc nhưng tập trung chủ yếu vào vào vùng ngoại ô thành phố hoặc tại vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp. Những vùng trồng rau nơi mà sử dụng phân bón là yếu tố nguy cơ mắc bệnh giun móc đặc biệt đổi với phụ nữ [34], Nghiên cứu về mối liên quan giữa tình trạng nhiễm giun đường ruột với tình trạng sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh của Vũ Bình Phương, Lương Xuân Hiến và Lê Thị Tuyết của học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở hai xã thuộc huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình năm 2001 [17], cho thấy: Tỷ lệ nhiễm giun của nhóm học sinh mà gia đình sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh (chiếm 96,0%) cao hơn so với nhóm học sinh mà gia đình sử dụng NTHVS (87,5%). Theo đánh giá chất lượng rau sạch thông qua chỉ số ô nhiễm trứng giun và thực trạng xử lý phân người tại hai xã ngoại thành Hà Nội, tác giả Nguyễn Huy Nga và Nguyễn Tố Như đã cho thấy: có sự kết hợp rõ rệt giữa việc bón phân người và ô nhiễm ký sinh trùng ở rau ăn. số lượng trung bình từng loại trứng và ấu trùng có trong 100 gam rau với tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun móc cao nhất (79%), giun đũa (73%) và trung bình 100 gam rau có 48,03 trứng và ấu trùng [16], 8 Như vậy, quản lý phân người tốt nhất là sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh để tiêu diệt mầm bệnh không cho chúng phát tán ra ngoại cảnh, bảo vệ sức khỏe cho người dân và môi trường xung quanh như đất, nước, 1.
Các loại nhà tiêu họp vệ sinh được sử dụng tại Việt Nam Theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT ngày 11/03/2005 của Bộ Y tể, các loại nhà tiêu hiện đang được khuyến khích sử dụng ở Việt Nam là: nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu tự hoại dùng cho gia đình. Các loại nhà tiêu này được Bộ Y tể quy định là nhà tiêu hợp vệ sinh về mặt kỹ thuật và đảm bảo các yêu cầu sau [6]: - Cô lập được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với người, động vật và côn trùng. - Có khả năng tiêu diệt được tác nhân gây bệnh có trong phân (virut, vikhuẩn, đơn bào, trứng giun, sán) và không làm ô nhiễm môi trường xung quanh. Tùy từng địa bàn và điều kiện kinh tế mà lựa chọn loại hình nhà tiêu phù họp.
Nhà tiêu tự hoại: Là loại nhà tiêu tốt nhất hiện nay xuất phát từ Châu Âu. Phân được xử lý theo nguyên tắc ngâm ủ và lên men. Các mầm bệnh bị tiêu diệt, mùn được giữ lại ở đáy bể, nước lắng qua bể và thấm vào đất hoặc vào hệ thống cống thải. Loại nhà tiêu này có đặc điểm là không có mùi hôi, không thu hút ruồi nhặng, không gây ô nhiễm môi trường xung quanh, tạo sự dễ chịu cho người sử dụng.
Nhà tiêu tự hoại này đã góp phần rất to lớn trong phòng bệnh dịch đường ruột. Nhà tiêu Biogas (bể khí sinh học): Đây cũng là một loại nhà tiêu họp vệ sinh được áp dụng nhiều ở các nước Châu Á, nhất là Trung Quốc và Án Độ. Bể khí sinh học hoạt động theo che độ nạp nguyên liệu bổ sung thường xuyên. Từ những năm 60, loại nhà tiêu này được áp dụng thí điểm ở một số tình, thành phố của nước ta.
Kết quả thí điểm cho thấy loại nhà tiêu bể khí sinh học này áp dụng tốt cho những hộ gia đình thực hiện mô hình vườn, ao chuồng (VAC). Công nghệ này không những giải quyết tốt vấn đề ô nhiễm môi trường mà còn cung cấp khí đốt cho sinh hoạt gia đình. Bể khí sinh học 9 hoạt động do quá trình phân hủy yếm khí các chất hữu cơ có trong phân người, phân gia súc, rác thải hữu cơ để giải phóng ra khí co2 (cacbonic) và khí CH4 (mê tan). Nhà tiêu thấm dội nước: Có nguồn gốc từ Án Độ, Thái Lan du nhập vào Việt Nam từ những năm 1960, phù hợp với những nơi có nguồn nước dội dồi dào, chất đất dễ thấm nước và không có nguy cơ gây ô nhiễm cho nước ngầm.
Sử dụng ở nơi không có cống nước thải. Ưu điểm của loại nhà tiêu này là vệ sinh sạch sẽ, không có mùi hôi, không có ruồi nhặng, đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng và bảo quản. Tiêu chuẩn kín, có nút nước và thấm tốt rất quan trọng, nếu không đủ nước dội sẽ làm rối loạn quy trình sử dụng và gây mất vệ sinh cho nguồn nước và cộng đồng xung quanh. Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ: Đây là loại nhà tiêu phù hợp cho những vùng sản xuất nông nghiệp và có tập quán dùng phân nhà tiêu để bón ruộng và nuôi trồng thủy sản.
Có hai ngăn, một ngăn sử dụng, một ngăn ủ phân, thay đổi nhau khi đầy, có máng dẫn nước tiểu ra ngoài tránh ẩm ướt, có nắp đậy hố tiêu dể tránh ruồi muỗi, vật nuôi chui vào hố phân, có ống thông hơi để tránh mùi hôi. Ưu điểm là dễ xây dựng, không làm ô nhiễm nguồn nước và môi trường. Khi phân đã ủ đúng thời gian và đúng kỹ thuật có thể bón cho cây trồng, làm tăng độ màu mỡ cho đất, như vậy chất thải được tái sử dụng lại theo hướng sinh thái. Một ưu điểm nổi bật nữa của loại nhà tiêu này là không phải dùng nước để dội, có thể sử dụng ở những vùng khan hiếm nước.
Hiện nay nhà tiêu hai ngăn này vẫn được sử dụng phổ biến ở các vùng nông thôn miền Bắc và miền Trung nước ta. Nhà tiêu chìm có ống thông hơi: Là loại nhà tiêu áp dụng cho vùng thiếu nước dội, đât rộng người thưa như miền trung du, miền núi và nhân dân không có thói quen dùng phân bón cho lúa và hoa màu. Loại này cũng có máng dân nước tiểu, ống thông hơi, nắp đậy. Khi gần đầy (cách nắp bệ tiêu 5cm) thì đào hố mới và chuyển nắp bệ tiêu sang hố mới, san láp hố cũ để tránh súc vạt đào bới.
Loại này dễ làm, đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng. 10 Trong tiêu chuẩn vệ sinh, ngoài tiêu chuẩn về xây dựng còn đảm bảo tiêu chuẩn về sử dụng, bảo quản. Một nhà tiêu được đánh giá là hợp vệ sinh (HVS) phải đạt được cả tiêu chuẩn về xây dựng và cả tiêu chuẩn về sử dụng, bảo quản. Dưới đây nhà các tiêu chuẩn chi tiết cho từng loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo Quyết định 08/2005/QĐ- BYT [6].