phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số cơ sở lí luận liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Y học cổ truyền Việt Nam. Chƣơng 3: Đặc điểm định danh của thuật ngữ Y học cổ truyền Việt Nam. 5 z NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Khái niệm thuật ngữ và những vấn đề có liên quan 1. Khái niệm thuật ngữ Lịch sử thuật ngữ đƣợc hình thành, phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của các ngành khoa học và thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, cũng nhƣ ở Việt Nam. Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học, khối lƣợng các thuật nhữ ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, hiểu thế nào là thuật ngữ lại là vấn đề không đơn giản.
Hiện nay, trong ngôn ngữ học có một số lƣợng vô cùng lớn các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ, thậm chí “về điều này có thể viết cả một cuốn sách”. Ở Việt Nam ta, các nhà ngôn ngữ học cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực thuật ngữ và đã đƣa ra những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ. Công trình “Sự phát triển của từ vựng nửa sau thế kỉ XX” (Hà Quang Năng chủ biên, 2009) đã dành một chƣơng nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt, chỉ rõ những chặng đƣờng phát triển của tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt, nêu rõ những con đƣờng hình thành thuật ngữ tiếng Việt cũng nhƣ những giải pháp cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nƣớc ngoài vào tiếng Việt [35]. Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng thuật ngữ không chỉ biểu thị một khái niệm khoa học, mà còn chỉ tên một sự vật, một hiện tƣợng khoa học nhất định.
Thuật ngữ là những từ chuyên môn đƣợc sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy. Có thuật ngữ của ngành vật lí, hoá học, toán học, thƣơng mại, ngoại giao v. Sau này, năm 1981, ông nhấn mạnh hơn nữa chức năng của thuật ngữ: “Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ vựng dùng để biểu thị những sự vật, hiện tƣợng, hoạt động, đặc điểm. trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự nhiên hay xã hội” [6, tr.
6 z Còn tác giả Hoàng Văn Hành đã chỉ rõ tính xác định của khái niệm mà thuật ngữ biểu thị trong hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định: “Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định. Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [20]. Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Nhƣ Ý thì: “Thuật ngữ là từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định; còn gọi là danh từ khoa học, chuyên ngữ, chuyên danh: thuật ngữ toán học, thuật ngữ văn học” [61]. Định nghĩa thuật ngữ do Viện sĩ Vinogradov đƣa ra đƣợc coi là một định nghĩa rất cơ bản và tin cậy trong giới thuật ngữ học Xô Viết: “Thuật ngữ không gọi tên khái niệm nhƣ một từ thông thƣờng mà khái niệm đƣợc quy vào nó nhƣ thể khái niệm bị áp đặt vào thuật ngữ.
Và trong các từ điển, thuật ngữ không đƣợc giải thích mà chính là định nghĩa” [57, tr. Qua các phân tích trên thì chúng tôi cho rằng: Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định. Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ. - Một số nhà ngôn ngữ học khác lại định nghĩa thuật ngữ nghiêng về chức năng của thuật ngữ.
Tác giả Gerd đã định nghĩa thuật ngữ nhƣ sau: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và đƣợc khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi đặc trƣng tính hệ thống, tính đơn nghĩa” [11, tr. Việc các nhà nghiên cứu cho rằng thuật ngữ có chức năng gọi tên, đã gây nên một cuộc tranh luận trong giới ngôn ngữ học. Tác giả Reformatxkij nhận định rằng: “Chức năng định danh, đó là chức năng chung của tất cả các từ và vì vậy, nó không thể đƣợc đƣa ra hàng chủ yếu khi xác định đặc điểm của thuật ngữ” [41, tr. 7 z Chúng tôi thấy trong số những từ trọn nghĩa, thuật ngữ là những từ đặc biệt về mặt ý nghĩa và cách dùng, vì rằng bên cạnh chức năng định danh (chức năng biểu thị các ý niệm này kia) mà những từ khác trong ngôn ngữ đảm nhiệm, thì chúng còn nổi bật lên chức năng định nghĩa của chúng nữa.
Còn tác giả Vinogradov cũng đồng tình cho rằng thuật ngữ không chỉ đảm nhận chức năng định danh mà quan trọng là đảm nhận chức năng định nghĩa: “Từ đảm nhiệm chức năng định danh hay chức năng định nghĩa, tức là hoặc nó là phƣơng tiện biểu thị rõ ràng và bấy giờ thì nó là một kí hiệu giản đơn, hoặc là một đơn vị định nghĩa theo lôgic, bấy giờ thì nó là một thuật ngữ” [57]. Dựa vào tƣ tƣởng của các nhà ngôn ngữ, Vinogradov và Kapatnadze đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt của thuật ngữ nhƣ sau: “Thuật ngữ không gọi tên khái niệm nhƣ từ thông thƣờng mà là khái niệm đƣợc gán cho nó, giống nhƣ định nghĩa về nó. Ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa khái niệm, là cái định nghĩa đƣợc gán cho nó” [21, tr. - Cách định nghĩa thuật ngữ từ góc độ “ký hiệu học” (semiotika): theo quan điểm của kí hiệu học thì thuật ngữ là kí hiệu – biểu đạt, đƣợc sử dụng nhƣ yếu tố của một mô hình kí hiệu thuộc một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định.
Các định nghĩa này cho phép đối lập thuật ngữ với các yếu tố từ vựng khác của ngôn ngữ tự nhiên mà không phải là thuật ngữ và các yếu tố từ vựng của ngôn ngữ nhân tạo. - Cách định nghĩa thuật ngữ từ góc độ “ngôn ngữ học”: Thực tế là phần lớn các đơn vị từ vựng đƣợc xem là thuật ngữ, đã trở thành nhƣ thế, đƣợc thu hút vào hệ thống thuật ngữ, là từ phạm vi từ vựng không chuyên biệt. Cho nên một đơn vị từ vựng có thể tồn tại trong ngôn ngữ vừa nhƣ một thuật ngữ vừa nhƣ một từ -phi thuật ngữ (netermin), ví dụ: nos (mũi người) – nos (mũi tàu), passage (hành lang bán hàng) - passage (nét lướt, trong âm nhạc), nisha (cái hốc trên tường) – nisha (lỗ hổng, về môi trường)…[34, tr. 8 z - Đáng chú ý hơn cả là cách xác định theo “thuật ngữ học” đã định nghĩa thuật ngữ nhƣ sau: “Thuật ngữ là đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ nhất định (dùng) cho những mục đích chuyên biệt, biểu đạt khái niệm chung - cụ thể hay trừu tƣợng, của lý thuyết thuộc một lĩnh vực chuyên môn nhất định của các tri thức hay hoạt động”.
Trong định nghĩa vừa nêu có nhấn mạnh mấy điểm quan trọng nhất nhƣ sau: 1) Thuật ngữ có tất cả các đặc trƣng ngữ nghĩa và hình thức của từ và cụm từ của ngôn ngữ tự nhiên; 2) Thuật ngữ nhƣ ta thấy hiện diện chính là trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt, chứ không phải trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ tự nhiên nào đó nói chung; 3) Trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt, thuật ngữ phục vụ với tƣ cách là phƣơng tiện biểu đạt các khái niệm chuyên môn chung – là kết quả của sự tri nhận trong những phạm vi chuyên môn của các tri thức và (hay) hoạt động; 4) Thuật ngữ là yếu tố của các hệ thống thuật ngữ phản ánh (mô hình hóa) các lý thuyết mà nhờ các lý thuyết này miêu tả đƣợc các lĩnh vực chuyên môn – tức là các đối tƣợng của các ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt [12, tr. Tóm lại, cách định nghĩa thuật ngữ từ góc độ thuật ngữ học xuất phát từ chỗ rằng: thuật ngữ là một đối tƣợng đặc biệt, khác với từ và cụm từ nhƣ là đối tƣợng của ngôn ngữ học. Và mặc dù trong đa số trƣờng hợp thuật ngữ học xem xét cũng các đơn vị từ vựng đó nhƣ là ngôn ngữ học, nhƣng ở thuật ngữ có những đặc trƣng khác. Đối với thuật ngữ có những yêu cầu chuẩn mực khác với những yêu cầu mà ngôn ngữ học đòi hỏi ở các đơn vị từ vựng khác.
Và chỉ trong ý nghĩa đó có thể nói rằng: thuật ngữ - đó là những từ đặc biệt. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp Khi bàn về mối quan hệ giữa thuật ngữ và danh pháp, các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng giữa thuật ngữ và danh pháp có sự khác biệt rõ ràng. 9 z Danh pháp là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tƣợng và ƣớc lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phƣơng tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tƣợng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tƣ duy lí luận hoạt động với những sự vật này. Tác giả Palamarchuk đã đi theo quan điểm này và chỉ rõ sự khác biệt giữa thuật ngữ và danh pháp: Hệ thuật ngữ trƣớc hết gắn với một hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ “dán nhãn hiệu hóa” cho đối tƣợng của khoa học mà thôi.
Vì vậy, danh pháp có thể coi là thể liên tục của các chữ cái (Vitamin A, Vitamin B…) hay là thể liên tục của các con số (MÁC 5, MÁC 8), và của mọi thứ dấu hiệu có tính cách ƣớc lệ, tùy tiện khác, danh pháp không có tƣơng quan giữa các khái niệm của khoa học. Vì vậy, danh pháp không tiêu biểu cho hệ khái niệm của khoa học [38, tr. So với hệ thuật ngữ, danh pháp là một phạm trù mới hơn rất nhiều. Danh pháp của một ngành bất kì trong lịch sử tự nhiên cũng đều là một tập hợp các tên gọi các loại (hay tiểu loại) của ngành đó.
Khi chúng đã trở nên một tập hợp tƣơng đối lớn, chúng phải đƣợc tổ chức một cách thật đặc biệt. Tính khái niệm là đặc trƣng quan trọng nhất của thuật ngữ. Tính khái niệm ở danh pháp không thật rõ rệt nhƣ ở thuật ngữ.