Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1: Nghiên cứu về tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới và trong nước. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới [10] Theo thống kê của FAO, tỷ lệ tăng sản lượng NTTS trung bình hằng năm của NTTS tính rừ năm 1970 tới nay là 8,9% , trong khi đó tỷ lệ tăng của thủy sản khai thác là 1,4% và của sản phẩm thịt gia súc chăn nuôi gia súc là 2,8%. Sản lượng NTTS thế giới năm 2001 đạt 48,42 triệu tấn, trong đó động vật thủy sản 37,85 triệu tấn và thực vật thủy sinh đạt 10,56 triệu tấn. Tổng sản lượng NTTS thế giới năm 2000 đạt 45,71 triệu tấn , nhuyễn thể 10.73 triệu tấn, thực vật thủy sinh 10,13 triệu tấn, giáp xác 1,65 triệu tấn, động vật lưỡng cư và rùa biển 100,271 tấn.
Các con số trên chứng tỏ đối tượng NTTS rất phong phú và đa dạng tuy nhiên trong thực tế có tới 21,2% sản lượng NTTS toàn cầu không được báo cáo là thuộc loài nào Có khoảng 210 loài thủy sản, kể cả thực vật thủy sinh được nuôi trồng, trong đó có 131 loài cá, 42 loài nhuyễn thể, 27 loài giáp xác, 8 loài thực vật thủy sinh, 2 loài động vật lưỡng cư và rùa biển. Nuôi biển và nước lợ ven biển chiếm 54,9%, nuôi ngọt chiếm 45,1%. Trong giai đoạn hiện nay nuôi ngọt lại có mức tăng trung bình hằng năm cao nhất với 9,7%, sau đó là nuôi nước lợ 8,4% và nuôi biển tăng 8,3%. Tính về sản lượng nuôi nước lợ chỉ chiếm 4,6% nhưng tính về giá trị thì chúng lại chiếm 15,7% toàn bộ giá trị NTTS.1: Sản lượng NTTS thế giới theo vùng nước Nhóm loài Tổng Nước ngọt Nước lợ Nước mặn Cá, giáp xác, Q:37.434 Q: Số lượng (Tấn), V: Giá trị( Ngàn USD) Theo thống kê của FAO, các nước đang phát triển sản xuất tới 912% lượng NTTS đặc biệt trong thời gian qua tang mạnh.
- Châu Á: 41,72 triệu tấn chiếm 91,3% sản lượng toàn thế giới - Châu Âu: 2.03 triệu tấn cgeems 4,4% - Châu Mỹ latinh và Caribê: 0.87 triệu tấn, chiếm 1,8% - Bắc Mỹ: 0,55 triệu tấn, chiếm 1,2% - Châu Phi 0,40 triệu tấn, chiếm 0,9% - Châu đại dương: 0,14 triệu tấn chiếm 0,3% Bảng 1.2: 10 nước nuôi trồng thủy sản hàng đầu thế giới Giá trị Giá đơn vị Sản lượng Tỷ lệ Nước ( Ngàn (USD/kg.khối (Tấn) % USD) lượng sống) Trung Quốc 32.Tình hình nuôi trồng thủy sản trong nước. Thuỷ sản là ngành hàng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đối với nước ta, thuỷ sản hiện đang cung cấp một nguồn thực phẩm quan trọng cho tiêu dùng trong nước và góp phần không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước nhà. Với tiềm năng to lớn, để phát triển thuỷ sản, cùng với việc chủ động tiếp cận thị trường, thực hiện công cuộc ”đổi mới” trong quản lý và sản xuất kinh doanh thuỷ sản, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đã vượt qua ngưỡng 2 tỷ đô la vào cuối năm 2002, ngày càng trở thành một ngành quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, cải tạo bộ mặt nông thôn ven biển Việt Nam.
Tuy nhiên, những kết quả đạt được của ngành hàng thuỷ sản chưa tương xứng với tiềm năng phát triển. Đặc biệt trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, thương mại thuỷ sản đang phải cạnh tranh ngày càng gay gắt và là một trong những ngành hàng luôn phải đối mặt với những rào cản thương mại, kể cả các rào cản trá hình. Để thuỷ sản ngày càng phát triển trong xu thế hội nhập, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, đòi hỏi phải có những biện pháp, bước đi thích hợp. Tiềm năng và thực trạng phát triển thủy sản Việt Nam.
Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á có diện tích đất liền là 330.991 km2, có bờ biển dài, còn phần lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2. Do trải qua nhiều vĩ độ Việt Nam cắt qua nhiều đơn vị địa chất - địa hình, khí hậu - thủy văn, thổ nhưỡng - sinh vật, làm tiền đề cho tính đa dạng sinh thái hiếm có. Việt Nam là nước có “tính biển” lớn nhất trong các nước ven biển Đông Nam Á, vùng biển rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, biển và đất liền đã tạo nên những vùng sinh thái khác nhau với các loài vật thủy sinh đa dạng, phong phú (môi trường nước mặn xa bờ, môi trường nước mặn gần bờ). 7 Với 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển.
Trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi, thủy điện, đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về mặt nước với khoảng 1.700 ha mặt nước ngọt, 635.400 ha mặt nước lợ cửa sông ven biển và 125.700 ha eo vịnh có khả năng phát triển, chưa kể mặt nước các sông và khoảng 300.000 ha, eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể sử dụng vào nuôi trồng thủy sản chưa được quy hoạch. Theo những đánh giá mới nhất, trữ lượng cá biển trong toàn vùng biển khoảng 4,2 triệu tấn, trong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850 nghìn cá đáy, 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương. Hàng năm cho khả năng khai thác tối đa 1.670 triệu tấn; cùng với cá biển, nguồn lợi tôm biển có trữ lượng 58 ngàn tấn, cho khả năng khai thác tối đa 29 ngàn tấn; với mực các loại, số tương ứng là 123 ngàn tấn và 50 ngàn tấn. Đặc điểm cơ bản của nghề cá biển Việt Nam là nghề cá đa loài, phân tán, phù hợp với nghề cá truyền thống.
Bên cạnh cá, vùng biển Việt Nam còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 - 70 nghìn tấn/năm); hàng năm có thể khai thác từ 45 - 50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ v. Ngoài ra, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cỏ, ngọc trai, v. Với trên 4 triệu dân sống ở vùng triều và khoảng 1 triệu người sống ở đầm phá, tuyến đảo của 714 xã, phường thuộc 28 tỉnh, thành phố có biển và hàng chục triệu hộ nông dân, hàng năm đó tạo ra lực lượng lao động nuôi trồng thuỷ sản đáng kể chiếm tỷ trọng quan trọng trong sản xuất nghề cá. 8 Chưa kể 1 bộ phận khá đông ngư dân làm nghề đánh cá, nhưng không đủ phương tiện để hành nghề khai thác cũng chuyển sang nuôi trồng thủy sản và lực lượng lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa nuôi trồng thủy sản.
Đội ngũ lao động nghề cá nước ta cần cù và tự lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi do nguồn lợi tự nhiên mang lại, sản xuất thủy sản cũng là ngành chịu nhiều rủi ro do thời tiết và thiên tai gây nên. Về thực trạng phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam: Hơn 20 năm qua, kể từ khi Nhà nước cho ngành thủy sản thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trang trải” đến thực hiện cơ chế thị trường nhiều thành phần kinh tế, nhất là những năm gần đây, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu bản thân bộ, ngành. Ngành Thuỷ sản đã tự khẳng định bằng các chỉ số liên tục phát triển, với tốc độ khá cao trong 2 thập kỷ qua.
Nuôi trồng thuỷ sản là một ngành sản xuất động thực vật thuỷ sinh trong điều kiện kiểm soát hoặc bán kiểm soát, hoặc như người ta vẫn thường nói, nuôi trồng thuỷ sản là sản xuất nông nghiệp trong môi trường nước. Vì vậy, nuôi trồng thuỷ sản đề cập đến cả các hoạt động trong môi trường nước mặn, nước ngọt và nước lợ. Kể từ hơn 2 thập kỷ qua, Việt Nam cũng từng bước tham gia vào phong trào phát triển NTTS của thế giới và đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Năm 2003, sản lượng NTTS đạt 1.138 tấn và còn nhiều khả năng tăng hơn nữa trong các năm tới.
Tuy nhiên, đứng về góc độ quản lý, ngành NTTS thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề. Nếu những người NTTS không có được những giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và đồng nhất thì không thể phát triển NTTS bền vững được. Ngoài các vấn đề về kỹ thuật 9 nuôi và sản xuất giống để có thể nâng cao năng suất và chất lượng thuỷ sản nuôi, đa dạng hoá đối tượng nuôi, loại hình nuôi, phát triển công nghệ sinh học trong NTTS, sản xuất thức ăn phù hợp, các biện pháp phòng trị bệnh, phương pháp bảo quản sau thu hoạch, v. vốn là các vấn đề mà nghề nuôi truyền thống yêu cầu còn rất nhiều vấn đề mà bất cứ một nhà quản lý, nghiên cứu về NTTS nào cũng phải nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của chúng.
Ðó là sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng do ảnh hưởng của các hoạt động nuôi; Tình trạng nhiễm hoá chất và kháng sinh trong thuỷ sản nuôi làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu thụ; Tình trạng lan truyền mầm bệnh ở các vùng nuôi do hoạt động di giống, nhập giống TS trên toàn cầu và tình trạng cấp thoát nước bừa bãi; Sự phát triển vùng nuôi thiếu quy hoạch và đầu tư lâu dài đã trở thành một nguy cơ trước mắt đối với nhiều nước phát triển NTTS quá nhanh; Và trên hết là sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường đòi hỏi các nước sản xuất phải liên tục tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn giữ được sự phát triển bền vững, đồng thời lại phải hết sức nhanh nhạy trong công tác xúc tiến thương mại để chiếm lĩnh thị trường. Nuôi trồng thuỷ sản được xác định là nguồn chính cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu, cho an ninh thực phẩm, xoá đói giảm nghèo và là ngành có nhiều tiềm năng để phát triển nhanh trong thời gian tới.