phần mở đầu và kết luận, gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2. Nghiên cứu, thiết kế bộ kết nối máy tính với mô hình Chƣơng 3. Xây dựng phần mềm điều khiển mô hình PXĐT.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hệ thống phun xăng điện tử Ngày nay, tô, mang lại cho con ngƣời nhiều t hợp điều khiển tự động cho các hệ thống thuần cơ khí nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, tiết kiệm nhiên liệu, thân thiện với mô trƣờng, độ chính xác cũng nhƣ tạo cảm giác thoải mái trong quá trình sử dụng. Hệ thống phun xăng điện tử trên ô tô cũng là một trong những hệ thống đƣợc áp dụng các công nghệ của cơ điện tử để tạo ra các sản phẩm mới có những ƣu điểm vƣợt trội. Có thể thấy qua các hệ thống phun xăng nhƣ: Hệ thống phun xăng kiểu cơ khí K - Jetronic, hãng BOSCH chế tạo (nhiên liệu đƣợc phun lien tục vào trƣớc supap hút) đƣợc ứng dụng trên các xe của hãng Mercedes, là nền tảng cho việc phát triển hệ thống phun xăng thế hệ sau nhƣ K – Jettronic (với cảm biến oxy) và KE – Jettronic (có kết hợp điều khiển bằng điện tử) hoặc KE – Motronic (kèm điều khiển góc đánh lửa sớm).
Đầu những năm 80, BOSCH đã cho ra đời hệ thống phun xăng sử dụng kim phun điều khiển bằng điện. Có hai loại: hệ thống L – Jettronic (lƣợng nhiên liệu phun đƣợc xác định nhờ cảm biến đo lƣu lƣợng khí nạp) và D – Jettronic (lƣợng nhiên liệu phun đƣợc xác định dựa vào áp suất trên đƣờng ống nạp). Đến năm 1984 ngƣời Nhật (mua bản quyền của hãng BOSCH) đã ứng dụng hệ thống phun xăng L – Jettronic và D – Jettronic trên các xe của hãng Toyota, năm 1987 hãng Nissan ứng dụng hệ thống L – Jettronic thay cho bộ chế hòa khí. Hệ thống phun xăng điện tử (EFI) là một trong những hệ thống đƣợc nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây.
Kết cấu của hệ thống EFI là sự kết 4 hợp của nhiều lĩnh vực (lĩnh vực cơ điện tử) với mục đích chính là tạo ra một hệ thống phun xăng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tỷ lệ khí nhiên liệu, khả năng hiệu chỉnh hỗn hợp theo nhiệt độ và điều kiện làm việc , giảm thất thoát nhiên liệu trên đƣờng ống nạp. Hệ thống phun xăng EFI thay thế việc tạo hòa khí do sƣ thay đổi áp suất trên đƣờng ống nạp bằng các cơ cấu cung cấp nhiên liệu trực tiếp, chính vì điều này nên hệ thống đƣợc chia thành ba phần chính. Phần một bao gồm: các cảm biến tốc độ động cơ, tải động cơ, nhiệt độ nƣớc làm mát, …đƣợc gọi chung là ngõ vào. Phần hai là phần điều khiển (ECU) dựa vào các tín hiệu ngõ vào mà đƣa ra các tín hiệu điều khiển.
Phần ba ngõ ra là các cơ cấu chấp hành nhƣ kim phun, hệ thống đánh lửa,. nhận các tín hiệu điều khiển từ ECU. Hoạt động của hệ thống thể hiện qua sơ đồ Hình 1. Sơ đồ nguyên lý hệ thống phun xăng điện tử 1- Cảm biến vị trí trục cam, 2- Van PDI, 3- Bô bin và bugi đánh lửa, 4,10- cảm biến oxy, 5- Kim phun, 6- cảm biến lưu lượng khí nạp, 7, 8 –cảm biến tốc độ động cơ, 9- cảm biến nhiệt độ nước 5 Nguyên lý hoạt động của hệ thống đƣợc chia thành các nhóm: Nhóm điều khiển kim phun, chống ô nhiễm trên bộ catalyst, điều khiển phối khí thông minh VVTi, điều khiển đánh lửa và điều khiển tốc độ cầm chừng tự động.
Hoạt động của hệ thống cung cấp nhiên liệu đƣợc thể hiện qua hình 1. Sơ Để xác định lƣợng khí nạp (lƣợng gió) đi vào xy lanh trong L-Jetronic ngƣời ta sử dụng các loại cảm biến khác nhau nhƣng ta có thể phân làm 2 kiểu: đo lƣu lƣợng với thể tích dòng khí (cánh trƣợt, Kármán .) và đo lƣu lƣợng bằng khối lƣợng dòng khí (dây nhiệt). Do có các sự thay đổi nhƣ trên nên một số vấn đề để đảm bảo các yêu cầu về cung cấp nhiên liệu đƣợc cải thiện: hao hụt trên đƣờng ống nạp, thời gian cung cấp nhiên liệu chính xác, tính năng tự chẩn đoán hƣ hỏng. Hệ thống phun xăng điện tử EFI có rất nhiều ƣu điểm: Cung cấp hỗn hợp khí nhiên liệu đồng đều đến từng xy lanh.
Đạt đƣợc tỷ lệ khí nhiên liệu chính xác với tất cả các dải tốc độ động cơ. Đáp ứng kịp thời với sự thay đổi góc mở bƣớm ga. Khả năng hiệu chỉnh hỗn hợp khí nhiên liệu dễ dàng: có thể làm đậm hỗn hợp khi nhiệt độ thấp hoặc cắt nhiên liệu khi giảm tốc. Hiệu suất nạp hỗn hợp không khí – nhiên liệu cao.
6 Do kim phun đƣợc bố trí gần suppap hút nên dòng khí nạp trên ống góp hút có khối lƣợng thấp đạt tốc độ xoáy lốc cao, nhờ vậy nhiên liệu sẽ không còn thất thoát trên đƣờng ống nạp và hòa khí sẽ đƣợc trộn tốt hơn. Hệ thống EFI điều khiển bằng bộ vi xử lý đƣợc sử dụng trên xe Toyota gọi là TCCS nó không chỉ điều khiển lƣợng phun mà còn bao gồm ESA, ISC, cũng nhƣ chức năng chẩn đoán và dự phòng. Cảm biến vị trí trục cam G2: Trên trục cam đối diện với cảm biến vị trí trục cam là đĩa tín hiệu G2 có 4 răng. Khi trục cam quay, khe hở không khí giữa các vấu nhô ra trên trục cam và cảm biến này sẽ thay đổi.
Sự thay đổi khe hở tạo ra một điện áp trong cuộn nhận tín hiệu đƣợc gắn vào cảm biến này, sinh ra tín hiệu G2. Tín hiệu G2 này đƣợc chuyển đi nhƣ một thông tin về góc chuẩn của trục khuỷu đến ECU động cơ, kết hợp nó với tín hiệu NE từ cảm biến vị trí của trục khuỷu để xác định điểm chết trên kỳ nén của mỗi xi lanh để đánh lửa và phát hiện góc quay của trục khuỷu. ECU động cơ dùng thông tin này để xác định thời gian phun và thời điểm đánh lửa. Cảm biến vị trí trục cam 7 Cảm biến tốc độ trục khuỷu NE: Tín hiệu NE đƣợc tạo ra trong cuộn cảm cùng nguyên lý với tín hiệu G.
Điều khác nhau duy nhất là rotor của tín hiệu NE có 24 răng. Cuộn dây cảm biến sẽ phát 24 xung trong mỗi vòng quay của delco. Tín hiệu NE đƣợc ECU động cơ sử dụng để phát hiện góc của trục khuỷu và tốc độ của động cơ. ECU động cơ dùng tín hiệu NE và tín hiệu G để tính toán thời gian phun cơ bản và góc đánh lửa cơ bản.
Cảm biến vị trí trục khuỷu Hình 1. Sơ đồ mạch điện và dạng xung G và NE Cảm biến kích nổ:Cảm biến kích nổ thƣờng đƣợc chế tạo bằng vật liệu áp điện. Nó đƣợc lắp trên thân xylanh hoặc nắp máy để cảm nhận xung kích nổ phát sinh trong động cơ và gửi tín hiệu này đến ECU động cơ, làm trễ thời điểm đánh lửa nhằm ngăn chặn hiện tƣợng kích nổ. Cấu tạo cảm biến kích nổ 8 Thành phần áp điện trong cảm biến kích nổ đƣợc chế tạo bằng tinh thể thạch anh, là vật liệu khi có áp lực sẽ sinh ra điện áp.
Phần tử áp điện đƣợc thiết kế có kích thƣớc với tần số riêng trùng với tần số rung của động cơ khi có hiện tƣợng kích nổ để xảy ra hiệu ứng cộng hƣởng (f = 7KHz). Nhƣ vậy, khi có kích nổ, tinh thể thạch anh sẽ chịu áp lực lớn nhất và sinh ra một điện áp. Tín hiệu điện áp này có giá trị nhỏ hơn 2,4V. Nhờ tín hiệu này, ECU động cơ nhận biết hiện tƣợng kích nổ và điều chỉnh giảm góc đánh lửa cho đến khi không còn kích nổ.
ECU động cơ có thể điều chỉnh thời điểm đánh lửa sớm trở lại. Mạch điện cảm biến kích nổ Cảm biến nhiệt độ nước làm mát: Cảm biến này đƣợc dùng để xác định nhiệt độ động cơ, có cấu tạo dạng trụ rỗng có ren ngoài, bên trong đƣợc lắp một nhiệt điện trở. Nó đƣợc làm bằng vật liệu bán dẫn nên có hệ số nhiệt điện trở âm. Khi nhiệt độ tăng điện trở giảm và khi nhiệt độ giảm thì điện trở tăng.
Sự thay đổi giá trị điện trở sẽ làm thay đổi giá trị điện áp, tín hiệu này giúp ECU biết đƣợc nhiệt độ của động cơ. Cảm biến nƣớc làm mát và đặc tính Cảm biến ô xy: Để lọc đƣợc khí xả tốt nhất cần phải duy trì tỷ lệ không khí và nhiên liệu nằm trong khoảng gần với tỷ lệ lý thuyết. cảm biến nồng độ oxy 9 nhận biết tỷ lệ không khí nhiên liệu đậm hay nhạt hơn tỷ lệ lý thuyết. Cảm biến đƣợc đặt ở đƣờng ống xả.
Cấu tạo cảm biến oxy loại Ziconnium 1- Đầu bảo vệ.,2- Lớp zirconia, 3- Đệm, 4- Thân cảm biến, 5- Lớp cách điện, 6- Vỏ cảm biến, 7- Đường thông với không khí, 8-Đầu dây nối, 9- Đường khí vào Cảm biến vị trí bướm ga: Cảm biến vị trí bƣớm ga đƣợc lắp trên cổ họng gió. Cảm biến này biến đổi góc mở bƣớm ga thành điện áp, đƣợc truyền đến ECU động cơ nhƣ tín hiệu mở bƣớm ga (VTA). Ngoài ra, một số thiết bị truyền một tín hiệu IDL riêng biệt. Các bộ phận khác xác định nó lúc tại thời điểm chạy không tải khi điện áp VTA này ở dƣới giá trị chuẩn.
Khi bƣớm ga đóng điện áp phát ra của cảm biến giảm và khi bƣớm ga mở điện áp phát ra của cảm biến tăng. ECM tính toán góc mở bƣớm ga theo những tín hiệu này và điều khiển bộ chấp hành bƣớm ga tƣơng ứng với điều khiển của lái xe. Một điện áp không đổi 5V từ ECU cung cấp đến cực VC. Khi cánh bƣớm ga mở, con trƣợt trƣợt dọc theo điện trở và tạo ra điện áp tăng dần ở cực VTA tƣơng ứng với góc mở cánh bƣớm ga.
Khi cánh bƣớm ga đóng hoàn toàn, tiếp điểm cầm chừng nối cực IDL với cực E2. Trên xe Toyota cảm biến bƣớm ga loại điện trở chỉ có 3 chân VC, VTA, E2 mà không có dây IDL. Giống nhƣ các mạch điện cảm biến khác mạch cảm biến gồm các bộ phận chính: ECU, các dây dẫn, dây nối… khi vị trí con trƣợt và điện trở R2 thay đổi thì giá trị điện trở của cảm biến cũng thay đổi. nhờ có bộ phận xác định điện áp mà bộ phận điều khiển ECU có thể xác định chính xác vị trí của bộ phận, nhận biết thông qua giá trị điện áp tại con trƣợt.