Chương 1 TỎNG QUAN 1.1 Giói thiệu chung về lan Hài Trên thế giới hiện nay đã ghi nhận có khcing 80 loài lan Hài được phân bố ở An Độ, Trung Quôc, Việt Nam, Thái Lan. Người Pháp gọi loài lan này với tên gọi là Sabot de Venus hay còn gọi là Hài Vệ Nữ. Người Anh gọi với ý nghĩa tương tự Lady's slippers. Ở Việt Nam ghi nhận có khoảng 26 loài (21 loài giống, 5 loài giống lai tự nhiên) loài lan Hài xuất hiện ở Việt Nam được coi lã rất phong phú và đa dang, có nhiều loài được ghi nhận là chỉ xuất hiện ờ Việt Nam như: Lan Hài Hồng, Hài Hằng, Hài Hê Len, Hài Trần Liên, Hài Việt Nam.2 Nguồn gốc và họ hàng lan Hài Đại diện của nhóm lan Hài nguyên thủy nhất có hai hoặc ba nhị đực trong hoa.
Các loài này được gọi là Lan Apostasỉa, dưới họ Apostacioideace. Đây là một nhóm nhỏ bao gồm các loài địa lan sống ở vùng nhiệt đới Châu Á và Bẳc Australia và có hai chi Apostasia, Neuwiedia, với khoảng 16 loài. Nhóm thứ hai là lan Hài, dưới họ Cypripedioideae gồm có hai nhị đực còn tồn tại trong hoa, nó đại diện cho một loài tiến hóa riêng. Dưới họ này bao gồm 5 chi Cyprpedium, Mexìpedium, Paphiopedilum, Phragmipedium.
Selenipedium và có khoảng 150 loài phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới Á - Âu. Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Tên gọi chi Paphiopedỉlum được Ernst Hugo Heinrich Pfitzer đề xuất năm 1886; nó có nguồn gốc từ Paphos (một thành phố trên đào Síp) và từ trong tiếng Hy Lạp cổ đại pedilon nghĩa là "Hài, dép". Một điều trớ trêu là không có loài lan Paphiopedilum nào sinh sống trèn đào Síp - ít nhất là theo phân bố hiện nay.
Nhưng trong suốt một thời gian dài người ta đã trộn các loài trong chi này với các họ hàng gần của chúng là chi Cypripedium, trên thực tế có loài sinh sống trong khu vực Địa Trung Hài. Paphìopedilum được công nhận là chi hợp lệ vào năm 1959, nhưng việc sử dụng các danh pháp khoa học chỉ hạn chế cho các loài ờ khu vực Đông và Đông Nam Á. 3 Lan rừng Từ A-Z ghi nhận Việt j.'arn có 26 loài trong đó có Paphiopedilutn delenatii nôi tiêng và nhiêu loài chi gập tại Việt Nam như p. Sách “Tra cứu Tên Cầy có Việt ? (an’ cùa GS.
Võ văn Chi ghi 18 loài. Các nhà nghiên cứu về lan, dựa theo hinh dạng của cánh hoa, còn chia Paphiopedỉlum thành năm chi phụ, và sau đó từ các chi phụ còn chia thêm thành những nhóm khác nhau. Những chi phụ gom Parvisepalum, Brachypetalum, Polyantha, Sigmatopetalum và Cochlopetalum. Tên khoa học và vị trí của lan Hài trong hệ thống phân loại Lan Hài Paphiopedihim thuộc: Giới: Plantae (Thực vật) Nghành: Magnoliophyta (Ngọc lan) Lớp: Monocotyledones (Hành tỏi) Bộ: Asparagales (Măng tây) Họ: Orchidaceae (Phong lan) Phân họ: Cypripedioideae (lan Hài) Chi: Paphiopedilum (lan Hài) Trong phân họ Cypripedioideae được các nhà khoa học nghiên cứu gồm có năm chi: Cypripedilum, Mexipedilum, Pharagmipedilnm, Selenipedilum và Paphiopedilum.
Các loài lan Hài của Việt Nam đều thuộc chi Paphiopediliưn. Đặc điểm hình thái Cây sống hầu hết trên các vách đá, núi, cây có thân rất ngắn, thường mọc thành từng chùm với nhau. Dạng cây của loài Paphỉopedilum là một loài thân cỏ, kích thước trung bình. Thân của giống Paphiopedilum cỏ cor cấu thực vật nhò nhất, được phân chia thành 2 cấu trúc cũng như thành phần chức năng.
Thân chính là thân rễ năm ngang, ở vị trí gốc và thường bị che lấp bởi lớp đất nền. Đày là thân chính, tạo ra rễ, bộ rễ sẽ hình thành các nhánh, nhánh sè thành cày và mang lá. Các đốt ân bị nén lại vì thế các lá mới mọc ngay phía trèn dinh. Thân đứng mang một so lá sau khi trưởng thành thì chồi hoa sẽ xuất hiện.
Trong một số loài đặc hữu lai tạo chồi non xuất hiện ở gốc của tần lá thấp. Ở những cày như thế các chồi mới sẽ tăng trưởng nhanh và đến một thời điểm nào đó thì sè tạo thành cụm (Averyanov và ctv, 2003). Plant and floral morphology of PUphivpfMum. a — flowering plant: b — Hower with eut petal and longitudinal section of the lip; c-a — column (gywouemnun).
view from above (d) and from below (e).1 Hình thái cây và hoa cùa Paphiopedilum (Averyanov và ctv, 2003). Lá mọc thành hai hàng xềp thành hình quạt, lá thường ở dạng dài, gấp đôi, hình trứng ngược hay bầu dục thuôn và mở rộng. Độ dài của lá ở các loài rất khác nhau. Mặt trên của lá có thể màu xanh lá cây cùng màu, hoặc khảm bởi các mảng đậm nhạt không đều với các gân màu xanh lá nổi rõ.
Mặt dưới lá cùa một số loài có các đổm tím dày đặc, ở các loài khác chi thấy vết tím xỉn ở gần gốc lá. Lá của lan Hài phát triển 5 thành lững cặp từ gôc của cây. Cáy giữ các lá náy trong nhiều năm và cây sinh trưởng thành một cụm lớn. Chúng không có các gia hanh vì vậy không thể lưu trữ nước và chât dinh dưỡng, vì lý do này mà lan Hái không có mũa nghi, hoặc bị quá khô, mặc dù với hâu hêt các loại hoa lan đều cần phải có sự thoát nước tốt.
Lan Hài có thể được trông từ cây con đên trưởng thành hoặc dược chia Ách tứ các cây trưởng thành. Các cây sông trong vùng khí hậu lạnh thường không cớ bĩển dị về lá, chúng thường có màu xanh, trong khi các cây sinh trưởng trong vùng ấm hơn ‘thường có lá van, điều đó khiến cho chúng hấp dẫn ngay cả khi chúng chưa ra hoa A*. en anov và ctv, 2003). Rê của các giông lan Hài được bao bọc bỡ: —Ạ ■ iớp vỏ lụa luôn luôn xanh, đó là lớp biểu bì bên ngoài của hầu hết các loại rễ lan.
Lóp vò lụa giúp rễ có khả năng hấp thụ độ âm trong không khí cũng như nước. Không những thê, rễ còn giúp cho các cây lan Hài đứng vững trên đất mà hút nước và khoáng chất dinh dưỡng. Chức năng bám vào đất hiển nhiên là quan trọng. Rễ của các loài lan Hài khỏe và to.
đường kính đo được từ 2 đến 5 mm, chúng nhờ các nhánh mà trải rộng ra, chiều dài tổng cộng cùa những cây khỏe mạnh lên đến 30 - 50 cm. Đầu rễ của những cây Paphiopedilum có màu be đến trắng ngà, trong khi đó những cây già dần dần ưở nên màu nâu tối và giống da lông thú hơn. Rễ hiện ra từ thân rễ, cũng là từ chàn cùa các lá hình quạt, ở một số loài thì chúng xuất hiện ở trục của lá dưới cùng. Điều quan ttọng cần nhớ rằng cây con của loài lan xếp lá hình quạt thường từ rễ, do đó các cày con phải phụ thuộc vào cây cha mẹ trên một năm, lúc đó bộ rễ của cây con mới hình thành đầy đủ, đó mới là thời gian chúng ta có thể tách cây con ra khỏi cây cha mẹ (Averyanov và ctv, 2003).
Hoa của lan Hài thường có nhiều màu sắc và một số có hương thơm để thu hút ong và côn trùng. Đa số lan Hài có hoa màu vàng, xanh và nàu đõ. một số có màu hang. Cụm hoa của các loài Paphiopedihơn thường thẳng đứng hay cong, phần lớn các loài chỉ mọc hoa riêng lẻ, một số loài như p.
dianthum thì thường mọc từ 2 - 5 hoa. Mỗi loài lan Hài khác nhau thì có những đặc điểm đặc trưng riêng của từng loài về kích thước, màu sắc của lá, hoa và từng cánh hoa (Averyanov và ctv, 2003). Quả của lan Hài dài. nhò và sô lượng hạt rất ít không có nhiều dinh dưỡng dự trữ nên ảnh hưởng dền quá trinh nảy mầm của hạt.
Vì vậy, trong điều kiện tự nhiên hạt của Lan Hài rất khó này mầm và sinh trưởng. Hơn nữa, việc nảy mầm nhanh hay chậm 6 phụ thuộc vào tình trạng của hạt gióng, cũng gióng như các nhóm lan khác để hạt nảy mâm hạt cân phải có sự cộng sinh của các vi jfih vật (Averyanov và ctv, 2003). Đặc điểm sinh thái Lan Hài được phân chia thành 2 nhóm chính. những cây có iá màu xanh dương thích sống ở nơi có nhiệt độ lạnh, ban đêm từ 13 - :6'C.
Các loại có lá vằn thích hợp ở nhiệt độ ấm, ban đêm 16 - Ì8°c, ban ngày 21 - 25°c. Vì vậy ở dông băng chúng ta có thể trồng Lan Hài được quanh Sải Gòn, Gia Định xưa lan Hài mọc khăp mà sách vở còn ghi, như loài p.or 2ỌĨ ’iã Hài Gia Định. Hơn nữa các loài lan Hài chịu được khí hậu nóng ở đồng bảng đà được nuôi trồng khá phổ biến ở nhiều nơi. Như vậy ngoại trừ ở cao nguyên như Đà Lạt, Buôn Mê Thuột.là những nơi lý tưởng để trồng lan Hài còn ở đồng bàng thi nên chọn những loài chịu khí hậu nóng, thường là những loài có vân ở lá (Phan Kế Long, 2009).
Ánh sáng: lan Hài sống tốt trong điều kiện ánh sáng tốt, nhất là trong mùa đông. Nếu mức sáng quá thấp cây sẽ không ra hoa và mức sáng quá cao cây sẽ bị cháy và vàng lá. Ánh sáng thích hợp là từ 30 - 40%, lan Hài thích hợp ưồng trong bóng mát (Phan Kế Long, 2009). Độ ẩm không khí: Không khí ẩm và lưu thông tổt là rất cần thiết, nhất là ưong mùa hè, giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm nấm bệnh và giữ cho cày không bị khô quá nhanh.
Độ ẩm có thể được nâng lên bằng cách đặt chậu cày lèn ưẽn các khay sỏi nhẹ với 50% độ ẩm là lý tưởng. Độ pH: lan Hài sinh sống ở những nơi có độ pH từ 6,5 - 7, một số loài có thể sinh sống ở pH từ 5 - 6, không khí ẩm và thoáng mát sẽ giúp giảm nguy cơ mắc một số loại nấm bệnh cho loài lan Hài. Phân bố lan Hài Các loài lan Hài ở Việt Nam phân bố tập trung ở các khu vực phía Bắc và đồi núi. Chúng sống trong những đòi núi và vách đá, mặc dù khó cỏ thể hái được nhưng do có giá trị cao nên chúng bị khai thác một cách triệt để và gần như bị tuyệt chùng một số loài ở tự nhiên.
Một số loài có giá trị ờ Việt Nam như p. canhii được tìm thấy trên những vách đá vôi có một ít chất mùn, trong những khu rìmg lá kim ở miền Bắc Việt Nam ở độ cao 1.500 m, ngoài ra còn được phát hiện ở vùng thượng Lào, p. Vietnamese được 7 tìm thây trên những vách dá trong nhưng khu rửng ở tinh Thái Nguyên, phía bắc Việt Nam vào từ cuôi mùa thu đên dầu xuân trong khi mói trường có độ ẩm cao nhưng khô và có nhiêu mưa từ giữa mùa xuân dến đáu thu, mọc à độ cao từ 350 - 550 m. Giá trị của lan Hài 1.