Đặt vấn đề Hiện nay, với chế độ ăn và vận động không lành mạnh đã dẫn đến việc tăng acid uric trong máu làm tỉ lệ mắc bệnh gout và một số bệnh khác có chiều hướng ngày càng gia tăng và đang trẻ hóa. Đa số mắc bệnh ở nam giới độ tuổi từ 40 – 60 tuổi, nhưng hiện nay có nhiều người trẻ ở độ tuổi 30 cũng mắc bệnh này [1]. Trong nghiên cứu khảo sát tình trạng sức khỏe quốc gia và đánh giá dinh dưỡng (National Health and Nutrition Examination Survey, NHANES) năm 2007 – 2008 đã cho thấy có khoảng 3,9% người trưởng thành (trên 20 tuổi) ở Mỹ tự báo cáo bị gout [3]. Tình hình bệnh ở Canada chiếm khoảng 3% [2].
Tại châu Âu, Hy Lạp là quốc gia có tỉ lệ bệnh cao nhất, với mức độ lưu hành bệnh là 4,75% ở người trưởng thành. Trong báo cáo chăm sóc sức khỏe ban đầu, thuộc hệ thống dữ liệu nghiên cứu thực hành lâm sàng (Clinical Practice Research Data) của Anh [3], tỉ lệ bệnh gout là 3,22% ở người trưởng thành (trên 20 tuổi) và trong toàn bộ dân cư là 2,49%. Tỉ lệ bệnh tương tự cũng quan sát được ở Tây Ban Nha và Hà Lan [4]. Trong khi đó, mức độ lưu hành bệnh ở Pháp rất thấp, chỉ khoảng 0,9% khi nghiên cứu trên nhóm dân cư sống ở thành thị.
Tỉ lệ mắc bệnh thấp nhất được ghi nhận ở các nước Bồ Đào Nha, Cộng hòa Czech, với mức độ lưu hành bệnh là 0,3% [3]. Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, tỉ lệ mắc bệnh gout không quá cao, khoảng 0,4% ở người trưởng thành. Tuy nhiên, tình trạng bệnh ở Đài Loan, Hồng Kông và Singapore ở mức phổ biến với tỉ lệ bệnh cao hơn rất nhiều. Năm 2001, khoảng 5,1% người lớn ở độ tuổi 45 – 59 tuổi ở Hồng Kông được báo cáo có bệnh gout [4].
Tỉ lệ này ở người lớn, trên 60 tuổi là 6,1%. Tỉ lệ bệnh ở người Singapore ở độ tuổi 45 – 74 tuổi là 4,1% [5]. Tỉ lệ lưu hành bệnh ở Đài Loan cao. Đặc biệt, ở một số nhóm dân tộc ở Đài Loan, tỉ lệ mắc bệnh lên tới trên 10% [4].
Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh gout là 0,14% dân số trong năm 2003; 1,0% dân số (940.000 bệnh nhân) vào năm 2014. Trong đó 96% là nam giới, 38% ở lứa tuổi 40, với 75% trong độ tuổi lao động [6]. Từ các thống kê trên, chúng ta thấy được tỉ lệ mắc bệnh gout (nguyên nhân chính là do tăng nồng độ acid uric trong máu) ngày càng gia tăng và ngày càng trẻ hóa. Vì vậy, nhu cầu về các phương pháp giúp đo nồng độ acid uric trong máu ngày càng tăng lên.
Hiện 3 nay có khá nhiều phương pháp giúp xác định nồng độ acid uric trong máu. Các phương pháp đang có hiện nay có thể xác định chính xác nồng độ tuy nhiên lại có một số nhược điểm như phức tạp, tốn nhiều thời gian, chi phí cao hay phải dùng các phương pháp xâm lấn [9,10]. Do đó việc tìm hiểu, nghiên cứu các phương pháp xác định nồng độ acid uric trong máu có độ chính xác cao, nhanh chóng, đơn giản, chi phí thấp và ít hay không xâm lấn là rất cần thiết. Đó là lí do phương pháp xác định nồng độ acid uric trong máu bằng quang học được nghiên cứu trong luận văn này.2 Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Với sự phát triển của lĩnh vực kỹ thuật y sinh, nhu cầu về việc phát hiện sớm, hiệu quả về các bệnh lý ngày càng cao.
Do vậy, các phương pháp khám sàng lọc, chẩn đoán bệnh sớm, nhanh và hiệu quả là mối quan tâm hàng đầu nhằm phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của con người.