CHƯƠNG 1 : THƠ ĐƯỜNG VÀ TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN 1.Thành tựu thơ Đường Đường triều là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Các học giả trước nay theo thói quen, thường coi thơ Đường là “nhất đại chi thắng”, cũng như phú đối với Hán, từ với Tống, khúc với Nguyên và tiểu thuyết với Minh Thanh1. Dẫu rằng việc lấy một thể tài văn học đơn độc để khái quát toàn bộ thành tựu văn học của một thời đại là chưa thật hợp lý, nhưng nhìn từ khía cạnh khác, không thể phủ nhận đây là quan điểm mang tính lịch sử lâu dài, đồng thời có ảnh hưởng sâu rộng nhất ở Trung Quốc từ hai đời Minh Thanh lại đây. Thành tựu của thơ Đường có thể kể tới một số mặt như sau: Trước hết, về số lượng, tính đến nay số lượng các bài thơ Đường thống kê được đã vượt quá con số 55000 bài và trên 2300 nhà thơ.
Cụ thể, sách Toàn Đường thi, gồm 900 quyển, thu thập hơn 48900 bài thơ của hơn 2200 nhà thơ. Sách hoàn thành dưới triều Khang Hy đời Thanh, cũng do chính vị Hoàng đế này lệnh cho Bành Định Cầu, Dương Trung Nột cùng tập thể hơn mười người tập biên trong khoảng thời gian gần hai năm. Công tác biên tập Toàn Đường thi tất nhiên nhắm tới thu thập toàn bộ thành tựu phong phú đa diện của thơ ca đời Đường, nhưng với khoảng thời khá hạn hẹp, lại thêm thời điểm cũng như đối tượng biên chép đều cách xa thời ấy hàng thế kỷ, vậy nên tham vọng nêu trên là không thể thực hiện. Chính vì lý do này, kể từ khi sách này ra đời, công tác sưu tầm bổ biên không ngừng diễn ra.
Trong đó tiêu biểu có thể kể đến Toàn Đường thi dật của học giả Nhật Bản Thượng Hà Mao Thế Ninh, Bổ toàn Đường thi và Đôn Hoàng Đường nhân thi tập tàn quyển của Vương Trọng Dân, Toàn Đường thi bổ dật của Tôn Vọng, Toàn Đường thi tục bổ di của Đồng Dưỡng Niên. Đặc biệt đáng chú ý trong công tác sưu tầm và bổ biên thơ Đường là công lao to lớn của học giả Trần Thượng Quân, trong Toàn Đường thi 1 Xem Vương Quốc Duy (1996), lời tự tự trong Tống Nguyên hý khúc khảo, Đông Phương xuất bản xã, 1996, tr. Xem thêm quan điểm của Ngu Tập đời Nguyên chép trong Khổng Tề (1987), Chí chính trực ký, Thượng Hải cổ tịch, tr. 7 bổ biên của mình, ông đã bổ sung thêm vào danh mục thơ Đường 6327 bài thơ, 1505 câu thơ lẻ và hơn 1600 tác giả2.
Nhìn từ phương diện chất lượng kết hợp thêm một số góc độ khác, học giả đời Minh là Hồ Ứng Lân trong quyển 3 phần Ngoại biên《外編》sách Thi tẩu《詩 藪》viết: 甚矣,诗 之盛于唐也!其体,则 三、四、五言,六、七、杂 言,乐 府、 歌行,近体、绝 句,靡弗 备 矣。其格, 则 高卑、远 近、浓 淡、深浅、巨细 、 精粗、巧拙、强 弱,靡弗具矣。其调 ,则 飘 逸、雄浑 、沈沉、博大、綺丽 、 幽闲 、新奇、猥琐 ,靡弗 诣 矣。其人, 则 帝王、将相、朝士、布衣、童子、 妇 人、緇流、羽客,靡弗预 矣。 Thậm hỹ, thi chi thạnh ư Đường dã! Kỳ thể, tắc tam, tứ, ngũ ngôn, lục, thất, tạp ngôn, nhạc phủ, ca hành, cận thể, tuyệt cú, mỹ phất bị hỹ. Kỳ cách, tắc cao ti, viễn cận, nồng đạm, thâm thiển, cự tế, tinh thô, xảo chuyết, cường nhược, mỹ phất cụ hỹ. Kỳ điệu, tắc phiêu dật, hùng hồn, thâm trầm, bác đại, ỷ lệ, u nhàn, tân kỳ, ổi tỏa, mỹ phất nghệ hỹ. Kỳ nhân, tắc đế vương, tướng tướng, triều sĩ, bố y, đồng tử, phụ nhân, truy lưu, vũ khách, mỹ phất dự hỹ.
Ôi, thơ vào đời Đường mới thịnh vượng biết bao! Xét về thể, có thơ ba chữ, bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, thơ tạp ngôn, nhạc phủ, ca hành, cận thể, tuyệt cú, thật không gì không đầy đủ; xét về cách, có cao thấp, xa gần, nồng đượm, sâu nông, to nhỏ, tinh thô, khéo vụng, mạnh yếu, không gì không đủ; xét về điệu, có phiêu dật, hùng hồn, thâm trầm, rộng lớn, đẹp đẽ, u nhàn, tân kỳ, tạp nhạp, không gì không đạt tới. Lại nói về lực lượng sáng tác, có đế vương, tướng văn tướng võ, triều thần, dân thường, trẻ em, phụ nữ, sư sãi, đạo sĩ, không tầng lớp nào không tham dự vào. Từ những khía cạnh nêu trên, có thể thấy rõ, thơ Đường là một trong những thành tựu rực rỡ nhất trong lịch sử thơ ca Trung Quốc và nhân loại. Hoàn toàn có 2 Xem Tào Đạo Hoành (2000), Cổ đại văn học yếu tịch giản giới, Giang Tô cổ tịch, tr.
Xem thêm Trần Thượng Quân (1997), Đường đại văn học tùng khảo, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, tr. Trương Bá Vĩ (1998), Thi từ khúc chí, in trong tùng thư Trung Hoa văn hóa thông chí, quyển số 8, tr. 8 thể coi thơ Đường là biểu tượng huy hoàng nhất của ngôn ngữ nhân loại đạt đến đỉnh cao của sự thăng hoa.Với tư cách là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền văn hoá truyền thống Trung Quốc, thơ Đường đồng thời cũng là di sản quan trọng của văn hoá thế giới, những vần thơ Đường cho đến nay vẫn luôn có sức lay động và cảm hoá mạnh mẽ đối với tâm hồn người đọc không chỉ ở Trung Quốc, mà ở khắp mọi nơi trên thế giới. Cũng chính vì vậy mà từ lâu, thơ Đường đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới, được nhiều thế hệ học giả Trung Quốc và thế giới dành trọn tâm huyết và cuộc đời mình cho công tác nghiên cứu và truyền bá thơ Đường.
Trang tử từng nói: “Ai mạc đại ư tâm tử, nhi thân tử thứ chi. 哀莫大於心死, 而身死次之。Điều đáng buồn của con người thực không gì lớn hơn việc lòng chết ( tâm tử ), sau đó mới đến cái chết.” Nếu như lòng con người ta ngày ngày chỉ biết chìm đắm trong vật dục, hoàn toàn không có hứng thú với bất kỳ một lĩnh vực nào khác, ấy chẳng phải đã uổng phí một kiếp nhân sinh? Chúng ta đều biết, thơ mang sức mạnh cảm phát, cái gọi cảm phát ở đây không chỉ dừng lại ở những rung động tình cảm trong lòng tác giả thông qua tác phẩm chuyển tải và gây cảm động đến từng trái tim độc giả, mà độc giả cũng có thể trên cơ sở đó tiếp tục liên tưởng, kết hợp thêm tình cảnh của cá nhân cùng bối cảnh lịch sử văn hoá của chính thời đại mình, tạo nên những xung động tình cảm mới, những tình cảm kiểu như vậy sẽ không ngừng sinh sôi, sẽ bất diệt và còn lưu truyền mãi mãi cùng thời gian. Sức mạnh cảm phát của thơ ca rõ ràng có thể làm cho lòng người trở nên hoạt bát hơn, tươi trẻ hơn, thậm chí như đã nói có thể đạt đến trạng thái vĩnh hằng cùng với không gian và thời gian (“lập ngôn”). Đây chính là một trong những công năng đặc biệt của thơ.Từ khía cạnh này, một lần nữa cũng có thể thấy rõ tính tất yếu trong việc tìm hiểu và nghiên cứu thơ Đường ở Trung Quốc và các nước trên thế giới, trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.Tiền đề phát triển của thơ Đường Thơ là gì theo quan niệm của người Trung Quốc ? Đối tượng này có tiến trình phát ra sao trước khi đạt đến đỉnh cao là thơ ca đời Đường? Thiết nghĩ, trước khi đi vào bàn luận về thơ Đường, đây là những vấn đề quan trọng mà chúng ta cần phải 9 giải quyết trước nhất.
Ở mục này, chúng tôi chủ yếu đi vào bốn vấn đề chính: quan niệm về thơ của người Trung Quốc xưa, nguồn gốc của thơ, mối quan hệ giữa tình ý và hệ thống hình tượng trong thơ, tiến trình phát triển ở phương diện thể thức của thơ ca Trung Quốc giai đoạn trước Đường. Thơ theo quan niệm của người Trung Quốc Trước khi văn tự ra đời, ca dao đã được sáng tác và lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, điều này có thể bắt gặp trong bất kỳ một nền văn hóa thuộc bất kỳ một dân tộc nào trên thế giới. Thế nên, có thể nói, “ca 歌” và “dao 謠” chính là tiền thân của thơ. Về điểm này, cổ nhân đã có không ít người đề cập, ví dụ học giả Khổng Dĩnh Đạt đời Đường trong Thi bổ tự chính nghĩa 《詩譜序正義》từng nói: “上古之時,徒有謳歌吟呼,縱令土鼓、葦龠,必無文字雅頌之聲。Thượng cổ chi thời, đồ hữu âu ca ngâm hô, tung lệnh thổ cổ, vĩ thược, tất vô văn tự nhã tụng chi thanh.
(Ở thời thượng cổ, duy chỉ có lời hô hào ca ngâm, cho dù có thể có trống chiêng, tiêu sáo, nhưng ắt chưa thể có hình thức thơ ca chép bằng văn tự.)” Ông lại cho rằng, hoạt động nói trên đại khái xuất hiện ở giai đoạn Thần Nông. Do chỉ có nhạc khí phối tấu, chưa có văn tự ghi chép, nên những lời hô hào ca ngâm của tiền nhân ắt chưa thể gọi là thơ. Nhưng “ca” và “dao” đã là tiền thân của thơ, nên muốn hiểu rõ quan niệm của tiền nhân Trung Quốc về thơ, ắt không thể không xem xét nét nghĩa của hai từ “ca” và “dao”. Hình thức Cổ văn của chữ “ca 歌” ngày nay được viết là “謌”, trong Kim văn viết là “訶”; cả hai đều lấy nghĩa của chữ “khẩu 口”, kết hợp với “ngôn 言” để tạo thành “訶” và “謌”, dùng chỉ nghĩa của chữ “ca 歌” trong từ “ca vũ 歌舞”, tức hoạt động ca múa.
Chữ “khả 可” mang nghĩa của chữ “khẩu 口” và chữ “hào ㄎ ”, theo Bạch Xuyên Tĩnh, một học giả Nhật giải thích: “‘khẩu 口’ vốn là khí vật dùng để đựng lời tế, sau khi lời tế được bỏ vào, miệng của khí vật hơi mở ra, đó là hình chữ ‘viết 曰’, ‘viết 曰’ chính là động tác dùng ngôn từ khấn nguyện cùng thần linh, cũng có thể coi là lời nhắn nhủ của thần linh đối với con người3.” Riêng chữ “hào ㄎ ”, 3 Xem Bạch Xuyên Tĩnh (1980), Văn học cổ đại Trung Quốc《中國の古代文學》, (Đông Kinh) Trung ương công luận xã, tr. 10 học giả Trần Mộng Gia cho rằng, “đó chính là chữ ‘hào 号’ trong từ ‘hô hào 呼号’ (kêu gào)”, cũng giống như vũ đạo (nhảy múa), hô hào (kêu gào thuộc phần lời ca) cũng là một hình thức không thể thiếu trong mọi hoạt động cúng tế của người xưa.4 Danh từ “dao 謡” luôn đi liền với “ca 歌”, đồng thời cũng là ngôn ngữ không thể thiếu trong những nghi thức cúng tế thuở xa xưa; chữ này hình thức Kim văn được viết với cấu hình bên trái phía trên là chữ “ngôn 言” (lời, ngôn từ) có thêm bộ “nhục 肉” (thịt), chỉ ý đem thịt làm vật cúng, vật trung gian nối kết giữa thần với người kèm theo lời khấn; bên phải là chữ “hệ 系”, “ý nói muốn giao tiếp với quỷ thần phải đem vật phẩm cùng lời khấn cầu làm phương tiện kết nối vậy.