ĐẶT VẤN ĐỀ Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nƣớc có diện tích rừng tự nhiên khá lớn. Theo thống kê của bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, tổng diện tích rừng của cả nƣớc hiện nay là 14,061,856 ha. Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10,175,519 ha, rừng trồng là 3,886,337 ha. Phân theo cơ cấu loài cây thì diện tích cây lâm nghiệp 13,613,056 ha (độ che phủ 39,5%); diện tích trồng cây lâu năm trồng trên đất lâm nghiệp là 448,800 ha (độ che phủ 1,34 %).
Diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là 13,520,984 ha với độ che phủ là 40,84%. Trong những năm qua để đáp ứng nhu cầu phát triển của nhân loại, con ngƣời khai thác một cách mạnh mẽ vào diện tích rừng tự nhiên, làm cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, thay vào đó là các nƣơng rẫy bỏ hoang sau một vài vụ canh tác, trong tƣơng lại không xa những diện tích rừng bỏ hoang này sẽ bị sa mạc hóa. Sự suy giảm diện tích rừng do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ: Quản lý rừng không chặt chẽ, kinh doanh rừng không đúng mục đích, khai thác rừng bất hợp pháp,… Một trong những nguyên nhân chính là công tác bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh hại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Hàng năm có hàng nghìn ha rừng trên đất nƣớc ta, đặc biệt là rừng trồng bị các trận dịch bệnh tàn phá, ảnh hƣởng lớn đến sinh trƣởng, phát triển của rừng mà chƣa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu.
Trƣớc những thực trạng trên, nhiệm vụ chính và quan trọng hiện nay của ngành Lâm nghiệp và toàn xã hội là việc bảo vệ và duy trì vốn rừng hiện có, đi đôi với công tác cải tạo và xây dựng vốn rừng. Núi Luốt – trƣờng Đại học Lâm Nghiệp rộng hơn 100 ha là địa điểm học tập, thực hành lý tƣởng của sinh viên trong trƣờng. Cũng là nơi thu hút đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Với sự đa dạng, phong phú về các trạng thái rừng, có hơn 342 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 257 chi và 90 họ.
Trong đó có cây Keo tai tƣợng (Acacia mangium) là loài cây có khả năng sinh trƣởng và phát triển nhanh, hiệu quả kinh tế cao, đã và đang đƣợc áp dụng trồng rộng rãi và phổ biến tại đây. Keo tai tƣợng là cây cung cấp nguyên vật liệu cho ngành chế biến bột giấy, gỗ ván dăm, ngành xây dựng, tận dụng lá và hạt 1 keo tai tƣợng trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, chế biến phân vi sinh,. Tuy là cây trồng dễ thích ứng dễ sinh trƣởng song cây Keo tai tƣợng là một trong những loài cây trồng hiện nay mắc phải nhiều loại bệnh hại xảy ra tại vƣờn ƣơm cũng nhƣ rừng trồng, gây ảnh hƣởng đến sản lƣợng và chất lƣợng rừng. Xuất phát từ thực tiễn trên và đƣợc sự đồng ý của Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trƣờng - Trƣờng Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, dƣới sự hƣớng dẫn của TS Hoàng Thị Hằng, em xin thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành pần sâu hại trên cây Keo tai tƣợng(Acacia mangium) và đề xuất một số biện pháp phòng trừ tại khu núi luốt trƣờng đại học Lâm Nghiệp”.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Keo tai tƣợng (Acacia mangium) thuộc phân họ Trinh nữ (Mimosoideae). Keo tai tƣợng có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia. Nhờ khả năng thích nghi tốt với các điều kiện môi trƣờng khác nhau và khả năng sinh trƣởng và phát triển nhanh, cho sinh khối lớn nên loài này trở thành cây trồng phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới. Từ những năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã đƣợc gửi tới hơn 90 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đi đôi với việc hình thành các lâm phần keo tai tƣợng thì đã xuất hiện các loại sâu hại cây. Nghiên cứu khái quát về côn trùng 1. Nghiên cứu về côn trùng trên thế giới Ngay khi loài ngƣời xuất hiện, đặc biệt là từ lúc con ngƣời bất đầu biết trồng trọt và chăn nuôi, họ đã va chạm với sự phá hoại nhiều mặt của côn trùng. Do đó con ngƣời phải bắt tay vào tìm hiểu nghiên cứu về côn trùng.
Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú. Trong một cuốn sách cổ của Xeerri viết vào năm 3000 TCN đã nói tời cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại khùng khiếp của những đàn châu chấu sa mạc. Trong các tác phẩm nghiên cứu của nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa đƣợc hơn 60 loài côn trùng. Ông đã gọi tất cả các loài côn trùng ấy là những loài chân có đốt.
Hội côn trùng đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năn 1945. Hội côn trùng ở Nga đƣợc thành lập năm 1959. Nhà côn trùng Nga Keppen (1882 – 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập đên côn trùng thuộc bộ cánh cứng. Những cuộc du hành của nhà nghiên cứu côn trùng Nga nhƣ Potanrin (1976 – 1899), Provorovski (1979 – 1895), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á, Mông Cổ và miền tây Trung Quốc.
Đến thế kỷ XIX đã xuất bản nhiều tài liệu về côn trùng ở Châu Âu, Châu Mỹ (gồm 40 tập) ở Madagatsca (gồm 6 tập) quần đảo Haoai, Ấn Độ và nhiều nƣớc khác trên thế giới. 3 Trong các tài liệu nói trên đề cập đến loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng nhƣ: mọt, xen tóc và các loài côn trùng cánh cứng ăn hại khác. Ở Nga đã có nhiều nhà nghiên cứu côn trùng nổi tiếng, họ đã xuất bản những tác phẩm có giá trị về nhƣng loài nhƣ sâu róm thông, sâu đo ăn lá, ong ăn lá, các loài thuộc họ cánh cứng ăn lá thuộc họ Chrysomelidae, Mọt, Vòi Voi, Xén Tóc đục thân… Về phân loại năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh Cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập. Trong đó đã đề cập đến hàng nghìn loài thuộc bọ lá Chrysomelidae.Ilisnki đã xuất bản cuốn “phân loài côn trùng bằng trừng, sâu non, nhộng, của các loài hại rừng”.
Năm 1950, Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô đã xuất bản tập “Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ” của tác giả L.Ap non di và G. Năm 1959, Trƣơng Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “sâm lâm côn trùng học” liên tiếp từ năm 1956 giáo trình “sâm lâm côn trùng học” đƣợc viết lại nhiều lần. Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loài bọ lá phá hoại nhiều loại cây rừng trong đó có các loài: Ambrostma quadriimpressum Motsh ; Gazercella aenescens Fairemaire; Gazercella maculli colis Motsh ; Chrysomela populi Linnaeus ; Chrysomela zutea Oliver ; Chrysomera adamsi ornaticollis Chen ; Plagiodera vesicolora Laichart; Gaszrolina thoracica Boly ; Chitea mellica Chen. Năm 1958, các nhà côn trùng Trung Quốc đã nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của các loài sâu hại rừng.
Năm 1959 đã cho ra đời cuốn “sâu lâm côn trùng và biện pháp phòng trừ các loài sâu hại rừng”. Năm 1965, Viện hàn Lâm Khoa Học Liên Xô cho ra đời cuốn “phân loại côn trùng thuộc bộ cánh cứng phần Châu Âu thuộc Liên Xô”. Ở Trung Quốc giáo trình “sâm lâm côn trùng học” của Trƣơng Chấp Trung xuất bản năm 1961, năm 1978 xuất bản cuốn “Hình vẽ côn trùng thiên 4 địch”, năm 1970 Donald.Boro và Riciard.White đã xuất bản “sổ tay về lĩnh vực côn trùng” ở Bắc Mỹ, trong đó đề cập đến phân loại sâu hại, sâu có ích. Năm 1978, Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “côn trùng Vân Nam” đã xây dựng một mảng tra của ba họ phụ của Họ Bọ lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelinea đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae đã giới thiệu 93 loài.
Nghiên cứu về côn trùng ở Việt Nam Côn trùng ở Việt Nam bắt đầu đƣợc nghiên cứu vào cuối thế kỷ XIX thời Pháp thuộc. Năm 1904 đoàn nghiên cứu tổng hợp Mission Parie đã công bố cuốn “Côn trùng chí Đông Dƣơng”. Cuốn sách ghi nhận 1020 loài trong đó có 541 loài thuộc Bộ Cánh cứng, 168 loài thuộc Bộ Cánh vảy, 139 loài chuồn chuồn, 59 loài mối, 55 loài thuộc Bộ Cánh màng, 9 loài thuộc Bộ Hai cánh và 49 loài thuộc các bộ khác. Ngƣời Pháp đã thành lập các phòng, viện nghiên cứu nhƣ: Phòng nghiên cứu côn trùng, Trạm nghiên cứu côn trùng Chợ Ghềnh, Phòng nghiên cứu côn trùng thuộc Viện khảo cứu khoa học Sài Gòn.
Từ năm 1961-1968 Bộ nông nghiệp đã tiến hành các cuộc điều tra cơ bản xác định đƣợc 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ, 20 bộ khác nhau. Năm 1967, xuất bản giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của Phạm Ngọc Anh. Năm 1987, cuốn “Côn trùng rừng Việt Nam” của Thái Bang Hoa và Cao Chu Lâm đã xây dựng bảng tra của 3 họ phụ của họ Bọ lá (Chrysomelidae) với 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae với 93 loài. Năm 2001, các tác giả Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão đã viết cuốn “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp”.
Cuốn sách nêu ra những phƣơng pháp điều tra, dự tính, dự báo khả năng phát triển thành dịch của sâu, bệnh hại rừng. Năm 2002, Cao Thị Kim Thu đã xây dựng khóa định loại loài tới bộ Cánh úp ở Việt Nam. Đặt cơ sở cho những nghiên cứu về bộ cánh úp ở nƣớc ta sau này. Những nghiên cứu về các bộ Cánh cứng (Coleoptera), bộ Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera), bộ Cánh rộng (Megaloptera) chủ yếu 5 thƣờng nằm trong những mục nhỏ của các công trình nghiên cứu về hệ sinh thái côn trùng nhƣ: Nghiên cứu côn trùng ở VQG Tam Đảo,….
Các nghiên cứu về côn trùng ở nƣớc ta tuy còn hạn chế nhƣng trong những năm gần đây đã đƣợc quan tâm và càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta về các loài côn trùng ở Việt Nam.2 Nghiên cứu về sâu hại keo 1. Nghiên cứu về sâu hại keo trên thế giới Năm 1961, liên Xô (cũ) xuất bản cuốn giáo trình “ Côn trùng học” đã giới thiệu khá nhiều loại côn trùng, trong đó có một số loại hại Keo nhƣ Bọ xít (Araduscina mona Paut), các loại Bọ hung (Scarabaeidae). Ngoài ra, ở Liên Xô (cũ) còn có nhiều cuốn sách có giá về các loại sâu hại. Ở Trung quốc cũng có các công trình nghiên cứu về sâu hại.