ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng đƣợc xem là “lá phổi” của trái đất có vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta. Ngoài cung cấp những lâm sản phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trƣờng và là nơi lƣu trữ nguồn gen động thực vật, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu trong nông lâm nghiệp. Vƣờn Quốc gia Pù Mát là một trong những khu rừng có mức độ đa dạng sinh học cao của Việt Nam, mang lại rất nhiều lợi ích cho con ngƣời, đặc biệt là ngƣời dân sống trong các xã vùng lõi và vùng đệm của Vƣờn quốc gia này. Nằm trên dải đất miền Trung, VQG Pù Mát có giá trị đa dạng sinh học cao của Việt Nam với thành phần động, thực vật phong phú, đa dạng, riêng về thực vật hiện đã xác định đƣợc 2494 loài, của 931 chi thuộc 202 họ.
Trong đó, có đến 70 loài đƣợc ghi trong sách đỏ Việt Nam (2007). Việc thành lập Vƣờn Quốc gia Pù Mát có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ các hệ sinh thái rừng theo đai độ cao, bảo tồn các nguồn gen động, thực vật quý hiếm. Bên cạnh đó còn phát triển và nâng cao kinh tế - xã hội ở các xã trong vùng đệm. Xã Môn Sơn nằm về phía Tây Nam của huyện Con Cuông, có tổng diện tích đất tự nhiên thuộc quản lý của Vƣờn quốc gia Pù Mát là 35.151,4ha, có vai trò vô cùng quan trọng trong vấn đề bảo vệ và phát triển rừng của VQG Pù Mát.
Xã Môn Sơn có 14 thôn bản; 10 bản vùng ngoài bao gồm: Bản Khe Ló, bản Xiềng, bản Cằng, bản Thái Sơn, bản Cửa Rào, bản Bắc Sơn, bản Nam Sơn, bản Thái Hoà, bản Yên; 2 bản vùng đầu nguồn Khe Khặng là bản Búng và bản Cò Phạt. Xã Môn Sơn là khu vực đƣợc đặc trƣng bởi rừng kín thƣờng xanh nhiệt đới và nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai khí hậu thuận lợi cho các loài động thực vật sinh trƣởng và phát triển tạo nên sự phong phú và đa dạng về thành phần loài và các hệ sinh thái. Tuy nhiên, công tác điều tra đa dạng thực vật tại xã Môn Sơn mới xác định đƣợc thành phần loài cơ bản của một số Họ, vì vậy còn nhiều loài thực vật chƣa đƣợc nghiên cứu trong đó có các loài thực vật thuộc họ Hồ tiêu. 1 Do vậy, để góp phần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thực vật về họ Hồ tiêu phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên cho khu vực xã Môn Sơn là rất cần thiết.
Xuất phát thực tiễn này tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của các loài thực vật thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) tại xã Môn Sơn thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, họ Hồ tiêu(Piperaceae) có khoảng 2000 – 3000 loài. Sự phân nhóm đối với các loài và chi của họ này cho đến nay vẫn chƣa đạt đƣợc sự thống nhất.
De Candolle (1869) xác định họ này gồm 2 chi Piper và Peperomia với trên 1000 loài. Theo Rendle(1956), họ Hồ tiêu gồm 2 chi lớn là Piper với trên 700 loài và Peperomia với trên 600 loài, ngoài ra, còn thêm 7 chi nhỏ khác. Tuy nhiên, theo Lawrence(1957), họ này có 10 – 12 chi với 2 chi lớn là Piper và Peperomia. Tác giả Burger(1977) cũng đƣa ra kết luận tƣơng tự.
Theo phân loại của Takhtajan (2009), họ Piperaceae gồm có 7 chi. Theo hai tác giả Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Kim Đào, họ Hồ tiêu phân bố ở Việt Nam có 5 chi gồm: Peperomia, Zippelis, Circaeocarpus, Piper, Lepianthes, trong đó chi Piper L. Loài Hồ tiêu có nguồn gốc từ khu vực miền Tây Ghate bang Kerala của Ấn Độ. Tại đây hiện vẫn còn gặp Hồ tiêu mọc hoang dại trên các khu vực đồi núi.
Ngƣời Ấn Độ đã đƣa vào gây trồng khoảng 100 năm trƣớc công nguyên. Từ đây nó đƣợc đƣa vào trồng tại các nƣớc Đông Nam Á và sau đó là các nƣớc nhiệt đới châu Mỹ. Loài Hồ tiêu đang đƣợc gây trồng trên diện tích lớn và sản phẩm đã đƣợc mua bán trên thị trƣờng thế giới với khối lƣợng lớn hàng năm. Các loài còn lại thƣờng chỉ có giá trị cho từng khu vực hoặc từng địa phƣơng.
Hiện nay tại Ấn Độ - quê hƣơng của Hồ tiêu đã có tới trên 75 giống đƣợc chọn lọc, một số giống đƣợc quan tâm nhƣ “Balamcotta”, “Kalluvalli”, “Cheria kaniakadan”. Ở Campuchia, hiện cũng đã phân biệt đƣợc 2 giống Hồ tiêu có kích thƣớc lá khác nhau: giống Hồ tiêu lá to và giống Hồ tiêu lá nhỏ. Loài Tiêu dội(P.retrofractum) đƣợc ngƣời dân Đông Nam Á dùng để ngâm rƣợu làm thuốc, dịch chiết từ lá Tiêu dội đƣợc làm thuốc chữa đau răng, làm nƣớc xúc miệng tại nhiều địa phƣơng ở Indonesia. Ngƣời Philippin dùng rễ 3 cây Tiêu dội để sắc lấy nƣớc uống hoặc nhai để chữa bệnh tả.
Ở Malaisia ngƣời dân thƣờng dùng rễ của loài Tiêu dội nhƣ một loại chất độc. Loài Tiêu dội hiện vẫn đƣợc nhân giống tại Indonexia và sản phẩm đƣợc xuất khẩu vào thị trƣờng Malaisia, Trung Quốc. Thời kỳ từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX quả của loài Tiêu thất (P.cubeba) đã là hàng hóa xuất khẩu có giá trị của Indonesia vào thị trƣờng Châu Âu và Hoa Kỳ. Năm 1925, Indonexia đã xuất khẩu tới 270 tấn quả Tiêu thất khô.
Năm 1940, khối lƣợng Tiêu thất xuất khẩu của Indonesia nằm ở mức trung bình 135 tấn. Những năm cuối thế kỷ XX loài Tiêu thất chỉ còn đƣợc trồng rải rác ở từng khu vực và sản phẩm đƣợc xuất khẩu ở thị trƣờng Ấn Độ. Tổ chức bảo tồn các Vƣờn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với IUCN và WWF xây dựng “Chiến lƣợc bảo tồn ở các vƣờn thực vật”, tổ chức này đã ƣu tiên bảo tồn cây thuốc ở các vƣờn thực vật tƣơng lai. Năm 2001, công trình của Nuc leo de Pesquisas de Produtos Naturais đăng trên tạp chí Phytochemistry “Essential oil analysis of 10 Piperacaea species from the Brazilian Atlantic forest” cho biết đƣợc các thành phần bay hơi của 10 loài thuộc họ Hồ tiêu bao gồm 3 chi : Ottonia, Piper và Peperomia với tinh dầu của 10 loài họ hồ tiêu đã đƣợc nghiên cứu phân tích cho thấy đƣợc 71 hợp chất khác nhau và có cả monoterpene và sesquiterpene.
Theo Lin, Tzer – Tong anh LU, Sheng-you, (2009), “Flora of Taiwain”, 40 Family Piperaceae, pp 624 – 631, đã mô tả hình thái kèm theo hình vẽ, ảnh màu của 2 chi là chi Piperomia( 5 loài) và chi Piper ( 9 loài). Theo Xing Fuwu, (2009), “Landscape Plants of China”, Volume 1, đã phân loại các loài trong từng chi trong đó chi Zippelis và chi Piper (60 loài), chi 4 Piperomia( 7 loài). Giới thiệu đặc điểm hình thái nơi mọc vùng phân bố của từng loài tại Trung Quốc. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Theo hai tác giả Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Kim Đào, ở nƣớc ta có 46 loài thuộc chi Piper L., trong đó, có hai loài phân bố rộng khắp cả nƣớc gồm: P.
(lá lốt) và một loài đƣợc trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam là P. Tây Nguyên là vùng có nhiều loài thuộc chi Piper L. phân bố nhất với trên 15 loài. Một số vùng khác cũng thấy có sự xuất hiện của khá nhiều loài thuộc chi này là Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng(Ninh Bình) và Vƣờn quốc gia Ba Vì(Hà Nội), đây cũng chính là hai trong số những trung tâm đa dạng sinh học của nƣớc ta.
Các loài thuộc chi Piper L. ở nƣớc ta thƣờng mọc trong rừng ẩm ở độ cao từ 150 – 1500 m, thƣờng gặp ở độ cao 600 – 1000 m, cá biệt có loài gặp ở độ cao trên 1700 m. Một số ít loài phân bố ở gần khu vực dân cƣ sinh sống, ven rừng, ven đƣờng. Việt Nam là nƣớc có hệ thực vật rừng tự nhiên vô cùng phong phú và có độ đa dạng sinh học cao với khoảng 12000 loài thực vật nhƣng nghiên cứu sâu và cụ thể cho từng loài thì chƣa đƣợc thực hiện đầy đủ.
Những năm gần đây thì việc nghiên cứu đặc điểm sinh học cơ bản về các loài thực vật quý và các loài thuốc đã đƣợc quan tâm nghiên cứu. Theo Võ Văn Chi, “Từ điển Cây thuốc Việt Nam” tập 1, tập 2 đã mô tả, sinh thái, phân bố, bộ phận sử dụng, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, công dụng và kèm hình vẽ của Lá lốt, Tiêu, Tiêu dội, Tiêu giả, Tiêu hải nam, Tiêu hơi có lông, Tiêu lá gai, Tiêu lông giày, Tiêu lốt, Tiêu sóng có lông, Tiêu thất, Tiêu thƣợng mộc, Trầu rừng, Trầu không, thuộc họ Hồ tiêu ở Việt Nam. Trong quyển 1 bộ “Cây cỏ Việt Nam” , Giáo sƣ Phạm Hoàng Hộ đã mô tả và kèm theo hình ảnh của 52 loài thực vật họ Hồ tiêu ở Việt Nam. Trong cuốn “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” (1995) của GS.
Trần Đình Lý đã đƣa ra 30 loài thực vật họ Hồ tiêu với công dụng và phân bố của nó 5 với các cây làm thuốc dùng để chữa trị các bệnh đau bụng, đau răng, chữa thấp khớp, ngoài ra còn dùng để làm gia vị. Trong quyển “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” (2002) tập 2 của GS.TS Lã Đình Mỡi cho biết chi hồ tiêu (Piper L.) là một chi lớn của họ Hồ Tiêu gồm khoảng 1200 loài, phân bố chủ yếu ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới điển hình. Với sự phong phú và đa dạng của các loài cây thuốc, Việt Nam là nƣớc có nền Y học cổ truyền từ lâu đời nay với những kinh nghiệm quý báu đúc rút từ thời xƣa đến nay với những bài thuốc dân gian đã áp dụng rất hiệu quả. Trong quá trình phát triển của đất nƣớc các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã đƣợc đúc rút thành những cuốn sách có giá trị và đƣợc lƣu truyền cho ngƣời dân từ đời này qua đời khác.
Một số loài thực vật họ Hồ tiêu có công dụng làm thuốc, gia vị, làm thuốc bổ đã góp phần tạo sự đa dạng về tài nguyên cây thuốc cho Việt Nam. Nhân dân ta từ trƣớc tới nay vẫn có tập quán “ ăn trầu” phổ biến đặc biệt ở các vùng nông thôn. Ngƣời dân vẫn quen dùng Lá lốt làm rau gia vị, làm thuốc chữa đau nhức tay chân. Ở thế kỷ XIV, danh sƣ Tuệ Tĩnh nổi tiếng với bộ sách “Nam dƣợc thần hiệu” đƣợc viết bằng chữ nho.