Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu thành phần loài phân bố và độc tính cấp của họ nấm amanitaceae r heim ex pouzar ở tây nguyên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sinh học nghiên cứu thành phần loài phân bố và độc tính cấp của họ nấm amanitaceae r heim ex pouzar, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

157
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Hệ thống phân loại nấm

1.2. Lược sử phân loại nấm

1.3. Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó

1.4. Tình hình ngộ độc nấm của họ Amanitaceae

1.5. Vùng rADN và vùng ITS

1.6. Một số công trình nghiên cứu về họ nấm Amanitaceae

1.6.1. Công trình nghiên cứu trong nước

1.6.2. Công trình nghiên cứu ngoài nước

1.7. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

1.7.1. Chế độ ẩm và bốc hơi. Chế độ mây và nắng

1.7.2. Phân vùng khí hậu

1.7.3. Thảm thực vật

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, vật liệu và địa điểm nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Vật liệu nghiên cứu

2.1.3. Địa điểm thu mẫu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp thu thập mẫu nấm ngoài thực địa

2.3.2. Phương pháp xử lý mẫu bảo quản mẫu vật

2.3.3. Phương pháp phân tích mẫu

2.3.4. Phương pháp thử độc tính cấp

2.3.5. Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái

2.3.6. Phương pháp phân tích mối tương quan của các nhân tố sinh thái

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm phân loại của họ Amanitaceae R. Heim ex Pouzar (1983)

3.2. Danh mục các loài nấm thuộc họ Amanitaceae tại khu vực Tây Nguyên

3.3. Khóa phân loại đến loài Chi Amanita

3.4. Mô tả chi tiết các loài nấm thuộc chi Amanita thu được tại Tây Nguyên

3.4.1. Loài Amanita caesarea (Scop.)

3.4.2. Loài Amanita caesareoides Lj.

3.4.3. Loài Amanita crocea (Quél.)

3.4.4. Loài Amanita eliae Quél.

3.4.5. Loài Amanita excelsa (Fr.)

3.4.6. Loài Amanita flavoconia G.

3.4.7. Loài Amanita fulva Fr.

3.4.8. Loài Amanita multisquamosa Peck 1901

3.4.9. Loài Amanita pantherina D.

3.4.10. Loài Amanita phalloides (Fr.)

3.4.11. Loài Amanita pilosella Corner & Bas 1962

3.4.12. Loài Amanita similis Boedijn 1951

3.4.13. Loài Amanita spreta (Peck) Sacc.

3.4.14. Loài Amanita sp.

3.5. Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến sự phân bố của chi nấm Amanita

3.5.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phân bố các loài nấm thuộc chi Amanita

3.5.2. Ảnh hưởng của độ ẩm đến sự phân bố các loài nấm thuộc chi Amanita

3.5.3. Ảnh hưởng của độ cao đến sự phân bố các loài nấm thuộc chi Amanita

3.5.4. Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự phân bố các loài nấm thuộc chi Amanita

3.5.5. Ảnh hưởng của sinh cảnh đến sự phân bố các loài nấm thuộc chi Amanita

3.5.6. Mô hình hồi quy đa biến dự báo tần số xuất hiện (mật độ) của các loài nấm liên quan tới các nhân tố sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, độ cao và cường độ ánh sáng)

3.6. Kết quả độc tính cấp của loài Amanita sp.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Amanitaceae và vai trò trong hệ sinh thái nấm Tây Nguyên

Amanitaceae là một họ nấm lớn, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nấm tại Tây Nguyên. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định thành phần loài, phân bố nấm, và độc tính nấm của họ này. Tây Nguyên, với điều kiện khí hậu và thảm thực vật đa dạng, là môi trường lý tưởng cho sự phát triển của các loài nấm thuộc họ Amanitaceae. Các loài nấm này không chỉ góp phần vào chu trình tuần hoàn vật chất mà còn có ý nghĩa lớn trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Tuy nhiên, nhiều loài trong họ này có độc tính cao, gây nguy hiểm cho con người nếu sử dụng nhầm lẫn.

1.1. Thành phần loài và đặc điểm sinh học

Nghiên cứu đã xác định được 13 loài nấm thuộc họ Amanitaceae tại Tây Nguyên, trong đó có 6 loài được ghi nhận mới cho khoa học. Các loài này được mô tả chi tiết về hình thái, cấu trúc và đặc điểm sinh học. Ví dụ, loài Amanita caesareaAmanita phalloides được phân tích kỹ lưỡng về cấu trúc bào tử và môi trường sống. Đặc biệt, Amanita phalloides được biết đến với độc tính cao, gây nguy hiểm nghiêm trọng nếu tiêu thụ.

1.2. Phân bố nấm theo điều kiện sinh thái

Sự phân bố của các loài nấm thuộc họ Amanitaceae phụ thuộc vào các yếu tố sinh thái như nhiệt độ, độ ẩm, độ cao và ánh sáng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các loài nấm này thường xuất hiện ở độ cao từ 400 đến 2200 mét, với nhiệt độ trung bình từ 18 đến 23°C. Độ ẩm cao trong mùa mưa cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chúng. Phân tích mô hình hồi quy đa biến đã giúp dự đoán tần suất xuất hiện của các loài nấm dựa trên các yếu tố sinh thái.

II. Độc tính nấm và tác động đến sức khỏe con người

Độc tính nấm là một trong những vấn đề nghiêm trọng được đề cập trong nghiên cứu. Các loài nấm thuộc họ Amanitaceae, đặc biệt là Amanita phalloides, có chứa độc tố mạnh, gây nguy hiểm đến tính mạng con người. Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm độc tính cấp trên động vật, xác định liều gây chết 50% (LD50) của loài Amanita sp.1 là 4750 mg/kg thể trọng. Kết quả này cho thấy mức độ nguy hiểm của các loài nấm độc và sự cần thiết của việc nâng cao nhận thức cộng đồng.

2.1. Độc tính cấp và thử nghiệm trên động vật

Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm độc tính cấp trên chuột, sử dụng mẫu nấm Amanita sp.1. Kết quả cho thấy, liều lượng 4750 mg/kg thể trọng gây chết 50% số chuột thí nghiệm. Các triệu chứng ngộ độc bao gồm suy nhược, co giật và tử vong. Điều này khẳng định mức độ nguy hiểm của các loài nấm độc và sự cần thiết của việc giáo dục cộng đồng về nhận diện nấm độc.

2.2. Nhận diện nấm độc và phòng ngừa ngộ độc

Việc nhận diện các loài nấm độc, đặc biệt là các loài thuộc họ Amanitaceae, là vô cùng quan trọng để phòng ngừa ngộ độc. Nghiên cứu đã cung cấp các đặc điểm nhận dạng chi tiết của các loài nấm độc, giúp người dân phân biệt được nấm ăn được và nấm độc. Điều này đặc biệt có ý nghĩa tại Tây Nguyên, nơi người dân thường sử dụng nấm tự nhiên làm thực phẩm.

III. Nghiên cứu nấm và ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về thành phần loài, phân bố nấm, và độc tính nấm mà còn có ý nghĩa khoa học lớn. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung vào danh mục nấm lớn của Việt Nam, đồng thời làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn về hệ sinh thái nấm. Đặc biệt, việc xác định các loài mới và độc tính của chúng mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực sinh học và y học.

3.1. Đóng góp vào danh mục nấm Việt Nam

Nghiên cứu đã bổ sung 6 loài nấm mới vào danh mục nấm lớn của Việt Nam, trong đó có 6 loài có thể là loài mới cho khoa học. Điều này không chỉ làm phong phú thêm kiến thức về đa dạng sinh học mà còn mở ra cơ hội nghiên cứu sâu hơn về các loài nấm này.

3.2. Ứng dụng thực tiễn trong y học và sinh học

Kết quả nghiên cứu về độc tính nấm có thể được ứng dụng trong y học để phát triển các phương pháp điều trị ngộ độc nấm. Đồng thời, việc nghiên cứu sâu hơn về các loài nấm mới có thể mở ra hướng nghiên cứu về các hợp chất sinh học có tiềm năng ứng dụng trong dược phẩm.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tài liệu (30 trang); Chương 2: Đối tượng địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu (23 trang); Chương 3: kết quả nghiên cứu (90 trang); Kết luận và kiến nghị (2 trang); danh mục các công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án (2 trang); Tài liệu tham khảo (8 trang); phụ lục. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hệ thống phân loại nấm 1. Lược sử phân loại nấm Theo Aristot (384 – 322) trước công nguyên) thì thế giới sinh vật được chia ra thành hai nhóm: động vật và thực vật.

Có nghĩa là bất cứ một sinh vật nào không phải là thực vật thì là động vật và ngược lại. Sau đó tác giả Carl Vol Linne (1707 - 1778) đã mô tả được 10.000 loài trong giới thực vật và trong giới động vật có 4. Sự khác biệt của hai giới này được phân biệt căn cứ vào một số đặc điểm về cấu tạo tế bào và trao đổi chất. Quá trình phân chia hai giới như trên được duy trì cho đến ngày nay và đã đi vào hầu hết các sách giáo khoa, giáo trình về sinh vật.

Trong cách phân loại như trên thì nấm cũng được xếp vào giới thực vật. Nhưng khi xét về một số đặc điểm thì nấm lại vừa có những tính chất của giới thực vật lại có những tính chất của giới động vật. Chính vì vậy Haeckel (1866) đã xếp nấm vào một nhóm sinh vật thứ ba: nhóm nguyên sinh bao gồm nấm và các sinh vật đơn bào không phân biệt là động vật hay thực vật, có hay không có nhân tế bào hoàn chỉnh. Nhóm này tương đương với một giới bên cạnh giới thực vật và giới động vật.

Theo tác giả Elias Fres (1794 – 1878) căn cứ vào những điểm khá đặc biệt của nấm đã đề nghị tách nấm thành một giới riêng [1]. Cho đến ngày nay, căn cứ vào những đặc điểm ngăn cách các nhóm sinh vật và quá trình tiến hóa chung của sinh vật, Việc phân chia sinh vật thành các giới tùy thuộc vào kiến thức hiểu biết qua các thời kỳ. Vào thế kỷ XVIII, chỉ dựa trên tiêu chí dễ quan sát về hình thái giải phẫu của các cơ quan bộ phận của cơ thể, Cac Linê ông tổ của ngành phân loại học đã chia tất cả các sinh vật thành 2 giới là giới Thực vật và giới Động vật. Đến thế kỷ XIX, khi phát hiện ra các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật; các nhà sinh học đã xếp vi khuẩn, tảo và nấm vào giới Thực vật và xếp nguyên sinh động vật vào giới Động vật.

Đến thế kỷ XX, khi nghiên cứu sâu về cấu tạo hiển vi cũng như phương thức dinh dưỡng đã xếp các sinh vật thành 4 giới: giới Vi khuẩn (gồm vi khuẩn), giới Nấm, giới Thực Vật (gồm 4 tảo và thực vật) và giới Động vật (gồm nguyên sinh động vật và động vật). Từ năm 1969, hệ thống phân loại 5 giới do nhà sinh thái người Mỹ Oaitâykhơ (R.Whitaker) đề xuất đã được công nhận rộng rãi. Đồng thời các tác giả cũng kết luận rằng nấm có nguồn gốc chung với động vật và thực vật nguyên thuỷ có nhân hoàn chỉnh. Điều đó chứng tỏ quan niệm truyền thống về hệ thống sinh giới đang bị phá vỡ.

Việc tách nấm thành một nhóm riêng là điều hợp lý, bởi lẽ nấm có những đặc tính riêng biệt như là những cơ thể dị dưỡng khác hẳn với thực vật, màng cấu tạo bằng kitine, glucide dự trữ dưới dạng glucogen. Với hệ thống phân loại nấm hiện nay cũng còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục thảo luận. Theo Carl Vol Linne (1707 - 1778 ) chia nấm thành 10 chi gồm 86 loài [1]. Sau đó tác giả Elias Fres (1794 – 1878) chia nấm thành 4 lớp.

Một trong những vấn đề mà các tác giả quan tâm hiện nay là sự có mặt của ngành nấm nhầy trong hệ thống nấm. Vì ngành nấm nhầy có những đặc điểm khá riêng biệt chính vì thế một số tác giả hoặc là tách nó ra khỏi hệ thống hoặc để nó trong hệ thống. Về các nhóm nấm còn lại có nhiều đề nghị phân loại khác nhau cụ thể như sau: Hệ thống của tác giả JA Vou Arx (1968) đề nghị chia nấm thành 7 lớp  Chytridiomycetes  Oomycetes  Zygomycetes  Endomycetes  Ascomycetes  Basidiomycetes  Deuteromycetes Theo Robert, L. Shaffer (1975) lại đưa ra một hệ thống giới nấm gồm 3 ngành [2]:  Chytridiomycota  Zygomycota  Dicarymycota (hai lớp Ascomycetes và Basidiomycetes) 5 Bùi Xuân Đồng (1977) [3] đưa ra hệ thống phân loại gồm 2 ngành với các lớp phụ như sau: - Ngành nấm nhầy (Myxomycota) gồm 4 lớp.

- Ngành nấm (Mocota, Eumycota) gồm 5 lớp:  Lớp nấm roi (Matisgomycetes): Có 3 lớp phụ.  Lớp nấm tiếp hợp (Zygomycetes): Có 2 lớp phụ.  Lớp nấm túi (Ascomycetes): Có 5 lớp phụ.  Lớp nấm đảm (Basdiomycetes): Có 3 lớp phụ.

 Lớp bất toàn (Deuteromycetes): Có 3 lớp phụ. Đường Hồng Dật (1979), dựa trên cơ sở phân loại nấm của các tác giả Liên Xô (cũ) đã chia nấm thành 5 lớp [4]:  Fungiimperjecti  Basidiomycetae: Gồm hai phân lớp.  Ascomycetae: Gồm hai phân lớp.  Phycomycetae: Gồm hai phân lớp.

 Archimycetae Gần đây nhất, Trịnh Tam Kiệt (1981) chia giới nấm thành các giới phụ [5]: - Gymxomycetoida: Giới phụ nấm nhầy gồm có 3 dòng, mỗi dòng 1 lớp - Phycomycetoida: Giới phụ nấm tảo gồm 1dòng với 1 lớp - Restomycetoida: Giới phụ nấm thật gồm có 5 dòng:  Chytridimycota  Zygomycota  Endomycota  Ascomycota  Basidiomycota Qua sự phân loại nấm của rất nhiều tác giả khác nhau cả ở nước ngoài lẫn ở trong nước Việt Nam, từ thời rất xa xưa cho đến ngày nay, cho ta thấy rằng vị trí cũng như việc phân chia các nhóm nấm đang còn nhiều vấn đề cần tiếp tục trao đổi. Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó 1. Khái niệm chung Nấm đảm là những nấm bậc cao, cơ thể của nấm đảm dạng sợi phân nhánh. Giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu trình sống.

Thể dinh dưỡng của nấm đảm là dạng sợi đa bào nguyên thủy, có vách ngăn ngang với lỗ thông phức tạp dạng dolyporus, phân nhánh mạnh, màng được cấu tạo chủ yếu từ kitin. Sinh sản vô tính bằng nhiều kiểu khác nhau còn sinh sản hữu tính bằng bào tử đảm (basidiospore) được hình thành trên thể sinh sản. Theo Trịnh Tam Kiệt (2012) [6], Lê Bá Dũng (2003) [7]. Đảm và bào tử đảm Đảm là tế bào đỉnh phình to lên của một số sợi nấm song nhân mọc ở phiến nấm trong quả thể.

Tế bào này gọi là nguyên đảm. Đảm là nơi diễn ra quá trình giảm phân để hình thành nên các bào tử của nấm đảm và bào tử của đảm sẽ phát triển tại đó. Cấu trúc của đảm (khi đã trưởng thành) dường như là được bảo tồn qua quá trình tiến hoá. Chính vì thế sự tương đồng về hình thái học của đảm trong các Taxon chính được xem như những chỉ định cho các mức độ quan hệ giữa những Taxon đó.

Các dẫn liệu về hoá thạch của nấm đảm hầu như là không có hoặc rất khó diễn giải, vì vậy những nghiên cứu về hình thái được đưa ra chỉ dựa trên những hiểu biết về tiến hoá trong nấm đảm. Theo Trịnh Tam Kiệt (2012)[ 6], Lê Bá Dũng (2003) [7]. Đảm ở Basidimycota có 2 dạng cơ bản: Đảm đơn bào (Holabasidie) gặp ở các đại diện thuộc Hymenomycetes và Gasteromycetes. Chúng có hình dạng kích thước khác nhau như: Hình trứng, hình chuỳ, hình thoi, hình trụ đến hình chạc súng cao su.

Trên mỗi đảm có 4 cuống bào tử (Sterigma), trên mỗi cuống bào tử mang một bào tử đảm. Đảm đa bào (Phragmobasidie) thường được tạo thành từ phần dưới đảm (hypobasidium) và phần trên đảm (epibasidium) với những vách ngăn. Tuỳ theo từng loại vách ngăn người ta chia thành hai loài đảm đa bào. Loại có 3 vách ngăn ngang tạo nên bốn tế bào nối tiếp nhau, ở mỗi tế bào hình thành một tiểu bính 7 (sterigma), trên đó mang một bào tử.

Loại thứ hai có 3 vách ngăn dọc, hình thành nên bốn tế bào, ở mỗi tế bào có một cuống sinh bào tử. Bào tử đảm thường chỉ cấu tạo từ một tế bào (hoàn toàn không có vách ngăn ngang hay ngăn dọc) và chỉ có một nhân. Bào tử đảm rất khác nhau về hình dạng và kích thước. Chúng có thể hình cầu, hình trứng, hình elip, hình bầu dục hay hình thoi.

Kích thước bào tử đảm của đa số các loài nấm thường gặp thay đổi từ 3 đến 29 micromet. Màng bào tử của tuyệt đại đa số các loài là 1 lớp. Màng của chúng có thể không màu, màu xám, màu vàng – nâu, màu nâu, màu hồng hay màu đen. Màng của chúng có thể phẳng nhẵn hay có gai, có u lồi, đôi khi có dạng mạng lưới.

Vách bào tử đảm cũng như bào tử túi có thành phần cấu tạo từ kitin ngoài ra trong cấu tạo vách bào tử còn có callosa, hemicellulose, các hợp chất pectin, amyloid, protein và các sắc tố. Người ta có thể phân biệt 5 lớp khác nhau của vách bào tử đảm là: Lớp vách trong, lớp vách giữa, lớp vách trung gian, lớp vách ngoài và lớp vách bao. Thông thường thì các sắc tố nằm ở lớp vách trung gian, nhưng ngoài lớp vách đó thì các sắc tố còn có thể nằm trên các lớp khác nữa. Bào tử đảm là cấu trúc sinh sản hữu tính duy nhất của nấm đảm.

Trong các điều kiện môi trường có biến đổi lớn thì các cấu trúc đặc thù của chúng luôn được bảo tồn một cách ổn định hơn cả so với các cấu tạo hình thái khác, chính vì thế bào tử đảm được dùng như là một trong những yếu tố cơ bản khi bàn về chủng loại phát sinh của các nhóm nấm đảm. Quá trình hình thành đảm và bào tử đảm xảy ra như sau: Khi tế bào đầu sợi nấm bắt đầu xảy ra quá trình phân chia, thì phần gốc tế bào này hình thành một ống nhỏ và hai nhân khác tính phân chia độc lập với nhau để tạo thành bốn nhân con. Một nhân con sẽ chuyển vào ống, một nhân khác chuyển về gốc tế bào và hai nhân khác tính sẽ chuyển lên đỉnh tế bào. Tiếp đó hình thành nên hai vách ngăn ngang tạo ra 3 tế bào: tế bào đỉnh có hai nhân khác tính, tế bào gốc 1 nhân và tế bào ống một nhân.

Sau đó tế bào gốc và tế bào ống hoà tan màng vào nhau để tạo thành tế bào có hai nhân khác tính. Tế bào đỉnh tiếp tục phát triển thành đảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thành phần loài, phân bố và độc tính cấp của họ nấm Amanitaceae tại Tây Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng và phân bố của các loài nấm thuộc họ Amanitaceae tại khu vực Tây Nguyên. Nghiên cứu không chỉ giúp xác định các loài nấm có mặt trong khu vực mà còn đánh giá độc tính của chúng, từ đó cảnh báo về nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe con người và động vật. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đa dạng thành phần loài thân mềm hai mảnh vỏ thuộc phân lớp pteriomorphia trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực huyện tiên yên tỉnh quảng ninh, nơi nghiên cứu về sự đa dạng của các loài thân mềm trong môi trường ngập mặn. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện tiên yên tỉnh quảng ninh sẽ cung cấp thêm thông tin về sự đa dạng thực vật trong cùng một hệ sinh thái. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ đa dạng sinh học cá và sử dụng chỉ số tổ hợp sinh học cá để đánh giá chất lượng nước tại vùng cửa đại tỉnh quảng nam002, giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa đa dạng sinh học và chất lượng môi trường nước. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự đa dạng sinh học tại Việt Nam.