CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC LICH SỬ NGHIÊN CỨU NAM LON TREN THE GIỚI Giới nấm là một trong những giới sinh vật có ý nghĩa rất lớn trong đời sóng cua chúng ta. con người đã biết lợi ích và tác hại của nam. việc nghiên cứu chúng dé phát huy mat lợi và ngăn ngừa tác hại đã được tiến hành trong nhiều thế ky qua.
người Trung Quốc đã biết dùng nam làm thức an. Vào thế ky IV trước công nguyên. hai nhà bác học người Hy Lap là Théophraste và Aristote đã dé cập đến nấm cục (Tuberaceae) va nấm tán (Agaricaceae) trong tác phẩm của mình. Đến thế ky thứ 1 sau công nguyên nhà tự nhiên học người La Mã Pline đã nhac đến nhiều nấm song trén go.
Pline là người đầu tiên phân loại nấm dựa vào hình dạng ngoài và giá trị Kinh tế của nam, ong chia nấm thành hai nhóm: nấm ăn và nấm độc. Từ đó con người bat dau chú ý đến gia trị kinh tế của nấm và su dung chúng rộng rai trong cuộc song. trong suốt thời gian kha dài từ thé ky thứ IV trước công nguyên (-370) den the ky thứ XVIII sau công nguyên con người van còn quan niệm sai lâm về nấm [Mecker (1775) cho rang nấm là tập hợp của mo và tế bào thực vật]. Michelier là người dau tiên da chứng minh ràng: nấm phát triển từ các bào tử.
Palisot de Beauvois đã chứng minh: nấm cũng có tổ chức. chúng có sợi, nở hoa (chín bào tử). phát sinh, phát triển và tiêu diệt. Thời kỳ này nấm học chưa phát triển.
Tuy nhiên van có một số cong trình da công bố. tiêu biểu như Linnaeus (1753) trong công trình vẻ các loài thực vat “Species plantarum” đã dé cập đến nấm 16 và sử dụng tên Boletus cho tất ca các nấm có bao thé dang ống hay 16 [153]. Thời ky nấm hoc phát triển rực rỡ là cuối thế ky XVIII — XIX, với những công trình noi tiếng của các tác gia: Bulliard (1791. Fries (1821) công bố công trình hệ thống nấm “Systema MycologicumTM trong đó công bố hai chi nấm 16 là Polyporus và Daedalea: sau đó (1838) ông giới thiệu tiếp các chi: Cyclomyces, Favolus; Hexagona, Lenzites và Trametes.
Peter Karsten (1881) là người đầu tiên phan chia các chi trong ho Polyporaceae dựa vào ca các đặc điểm hiển vi và đặc điểm hình thái. màu sac của qua thể [153]. Từ đây mo ra giai đoạn mới trong phân loại: phân loại dựa vào tất ca các đạc điểm hình thái ngoài và cấu trúc hiển vi. các hệ thống phân loại trong giai đoạn này (thế ky XVII - XIX) là hệ thống nhân tao vì sự phân định ranh giới họ ở nam Dam chi dựa vào kiểu bào thể (hymenophore) [153].
1905) đã có cùng qua điểm với Karsten, ông đã mo ta nhiều chỉ trên cơ sở các loài nhiệt đới và á nhiệt đới với công trình ve họ Polyporaceae ở Bắc Mỹ “The Polyporaceae of North America” Vào đầu thế ky XX nấm học phát triển mạnh mẽ và trở thành mot ngành khoa học [153], một trong những ngành mũi nhọn được con người quan tâm rat nhiều. Nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thé giới. Dac biệt trong 30 - 40 nam qua một số chi mới đã được mo ta chủ yêu dựa vào các đặc điểm hiển vi, xem xét lại nhiều chi cu để chắc chan rang chúng được chấp nhận với những tiểu chuẩn phan loại hiện đại. Kết qua là các nhà nấm học đã hình thành một hệ thống phân loại khá on định ở Chau Au, Bac My như he thống cua Domanski (1960), Jahn (1963).
Trong thể ky XX có nhiều công trình đã duoc công bố. tiêu biếu như: C. Galzin (1928) cong bố lớp Hymenomycetes ở Pháp “Hymenomycetes de France”. Beeli, Roger Heim va nhiều tác gia khác (1936 - 1970) đã cong bo khu hệ nấm ở Congo “Flore iconographique des champignons du Congo” [167, 168, 170].
Pilat (1932) với công trình “Contribution a l'étude des Hymenomycetes de VAsie mineure”. nam 1936 - 1942 ông tiếp tục công bố nấm ở Chau âu “Atlas des champignons de |’Europe”. Domanski từ 1960 - 1972 da cong bo nhiều công trình. nam 1965 ông công bố về nấm Dam “Basidiomycetes: Aphyllophorales.
Polyporaceae 1, Mucronoporaceae", năm 1967 ong cong bo “Basidiomycetes: Aphylophorales: Polyporaceae — pileate, Ganodermatacede, Bondarzewiaceae, Boletopsidaceae, Fistulinaceae”. Donk từ nam 1933-1974 đã công bố nhiều công trình như năm 1967 công bố nấm 16 ở Chau Au “Notes on European polypores II”. ông công bố danh lục nấm 16 Chau Au “Checklist of European polypores” [trích từ 153]. Hongo năm 1957 công bố khu hệ nấm ở Nhat Ban “Coloured illustration of the fungi of Japan" [128].
Tổng kết tại Uc và Tan Tây Lan có 550 loài nấm 16 [86]. (1964) nghiên cứu nam ở Trung Quốc “Fungi of China” [164] đã mo ta 2400 loài. Hermann Jahn (1979) nghiên cứu nấm phá gỗ ở Đức với tác phẩm “Pilze die an Holz Wachsen” [187] đã mô ta 222 loài. Leif Ryvarden va Inger Johansen (1980) nghiên cứu khu hệ nấm 16 ở Dong Phi “A preliminary polypore flora of East Africa” [151] đã công bố 254 loài: Alexander Smith va Nancy Smith Weber (1980) công bố công trình “The mushroom hunter’s field guide” [160] đã mô tả một số loài nấm an, nấm độc và nấm dược phẩm ở Bac Mỹ, Walter Jiilich (1981) công bố công trình nghiên cứu “Higher taxa of Basidiomycetes” [129].
Nils Hallenberg và John Eriksson (1985) nghiên cứu họ Luchnocladiaceae và Coniophoraceae ở Bac Au [126] đã mô ta 25 loài. Kranzlin (1984, 1986, 1991, 1995) nghiên cứu khu hệ nam cua Thuy Si “Pilze der Schweiz” [112, 113. 185] đã mô ta 1833 loài. Gilbertson và Ryvarden (1966.
1987) nghiên cứu nấm lỗ ở Bac Mỹ với cong trình “North American Polypores” [I24. 125] đã mo ta 438 loài. Lincoff (1988) đã mo ta 756 loài nấm ở Bac Mỹ trong tác phẩm “The audubon society field guide to North American mushrooms”. Đến năm 1984 ở Bac Mỹ số loài nấm dam (Basidiomycetes) phá go đã biết Khoảng 1700 loài [124].
Zhao Ji Ding (1989) với tác pham “The Ganodermataceae in China” [166] đã mô ta 86 loài thuộc họ Ganodermataceae ở Trung Quoc. Stellan Sunhede (1989) với công trình “Geastraceae (Basidiomycotina)” [163] đã mô ta 26 loài thuộc chi Geastrum. (1991) công bố nam Aplhyllophorales ở Anh “A list of British aphyllophorid Fungi”. David Pegler va Brian Spooner (1994) nghiên cứu nấm 6 Bac Mỹ và Chau Au trong tác pham “The mushroom identifier” [148] đã cong bố.
mo ta 341 loài. Ryvarden và Gillbertson (1993, 1994) cong bố công trình nghiên cứu nam 16 của Chau Au “European polypores” [153, 154] đã mo ta 322 loài, Ewald Gerhardt (1997) mo ta 1200 loài nam lớn trong công trình “Der Grobe BLY Pilzfiihrer” [186]. Chee-Jen Chen (1998) nghiên cứu hình thái va cấu trúc phan tu của chi Tremella ở Đài Loan trong tác phẩm “Morphological and molecular phylogenies in the genus Tremella” [118], tác giả đã mô ta 26 loài thuộc chi Tremella. "New and interesting polypores from Japan" [143].
Trong những năm cuối thế ky XX nhiều tiểu chuẩn mới đã được sử dung trong phân loại như: các phản ứng hóa học. sự phan tính. hệ sợi nấm. kiêu gây mục.
đặc điểm nuôi cấy [124]; Armes (1913) là người đầu tiên nhận thấy rang sợi nấm rat quan trọng đối với sự nghiên cứu nấm 16, sau đó Corner (1933) đã mo ta hệ sợi nấm. từ đó các nhà nấm học sử dụng sợi nấm là một tiêu chuẩn mới để phân loại. Sự khám pha của Corner là một bước quan trọng đối với sự phân loại chính xác nam [153]. Dac biệt các đặc điểm vé thành phần sinh hóa và cấu trúc phân tử ADN đã được ứng dung trong phân loại nấm.
Vì vậy, hiện nay ngoài phương pháp phan loại truyền thống dựa vào hình thái (morpho-taxonomy). các phương pháp phân loại dựa vào hóa học (chemo - taxonomy) và gene (geno - taxonomy) được sử dụng để ho trợ nhàm tránh nhầm lẫn khi phận loại một số loài có hình thái tương đồng. Một số công trình nghiên cứu phân loại dựa vào cấu trúc phân tu ADN như: J. Nakasone (1998) nghiên cứu chi Macrocybe (Tricholomataceae) dua vào các đạc điểm hình thái.
kết hợp với moi tương quan với ADN cua ribosome với báo cáo “The pantropical genus Macrocybe gen. NHUNG KET QUA NGHIÊN CUU NAM LON Ở VIET NAM VÀ THỪA THIEN HUE Ở Việt Nam từ lâu nhân dan đã biết dùng nấm làm thực phẩm va dược phẩm. Nha bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) trong tác phẩm “Van đài loại ngữ” và *Kiến văn tiểu lục” đã đánh giá: * Linh chi là một sản vật quý hiếm của đất rừng Dai Nam” với các tác dụng lớn như: Kiện não (tráng Kiện). và gitip con người sống lâu.
tăng tuổi thọ. Ở Việt Nam từ trước đến cuối thế ky XIX hầu như không có công trình nào nghiên cứu về phân loại nấm. Việc nghiên cứu nấm bát đầu được tiến hành trong giai đoạn bị Pháp đô hộ. Người Pháp nghiên cứu nhiều nhất về nấm ở Việt Nam là N.
Patouillard (1890 -1928) với nhiều công trình noi tiếng: Nghiên cứu khu hệ nấm ở Đông Duong “Contribution a la flore mycologique du Tonkin” (1590. 1897), “Quelques champignons du Tonkin” (1913, 1917, 1920. 180]; Góp phan nghiên cứu nấm ở Việt Nam “Contribution a [étude des champignons de l’Annam (1923) [181]: Các loài nam mới ở Việt Nam “Champignons nouveaux de I’ Annam (1927) [182]: Nghiên cứu khu hệ nam ở Việt Nam và Lào “Nouvelle contribution a la flore mycologique de /Annam et du Laos” (1928) [183]. ông đã công bố 178 loài nam ở Việt Nam.
Malencon nghiên cứu nấm ở Dong Dương với công trình “Champignons du Tonkin”. Patouillard (1914) công bố công trình “Champignons recueillis dans I[Annam par M. (1919) với công ttrinh “Notes sur quelques champignons comestibles, véneneux ou curieux du Tonkin et de ’Annam”, Graff, P. (1916) công bo cong trình “Basidiomycetes collected in Indochina by C.
(1918, 1919) với báo cáo “Fungi from Demange”. mot số nha nam học khác cũng nghiên cứu nam ở Việt Nam như: Roger, Petelot. Tong kết các kết qua của các nhà nấm học đã nghiên cứu và công bố nấm lớn Việt Nam từ 1890-1928 Khoảng 200 loài: trong đó có 28 loài phan bố ở Trung bộ va 37 loài ở Bình Tri Thiên với 6 loài phan bo ở đèo Hai Van: Amauroderma rude (Berk.) Torrend, //ymenochaete adusta (Lév. Laetiporus sulphureus (Bull.
Kức: Phylloporia fructica (Berk. va Polyporus grammocephalus Berk [86]. người Việt Nam dau tiên nghiên cứu về nam là Pham Hoàng Hộ. trong công trình “Cay co miền Nam Việt Nam” [55] ong đã mo ta van tat 48 chi va 31 loài nấm lớn.
(1963) với công trình “Diseases and Pests of Economic Plants of Viet Nam. Laos and Cambodia”. Ở miền Nam Việt Nam còn có vài tác giả khác nghiên cứu về nấm như Hoàng Thị Mỹ (1966) đã mo ta 15 loài nấm phá hoại g6 với công trình “Luan khảo về các bệnh thường hai cây cối tại miền Nam Việt Nam”, Joly (1968) đã mô ta, xác định 20 loài nam thuộc chi Xylaria.