mở đầu về nghiên cứu khu hệ và nguồn lợi cá biển ở nƣớc ta. Điển hình là: H.Sarvage (1877) với cuốn “Về một số loại cá nƣớc ngọt từ Đông Dƣơng gửi về”; A. Tirant (1885) với cuốn “Các loài cá ở Nam Bộ và Campuchia”; H.Sarvage (1884) với cuốn “Đóng góp cho khu hệ cá Bắc Bộ” đã nghiên cứu về khu hệ cá Châu Á và mô tả một số loài mới ở Đông Dƣơng đồng thời đã thống kê đƣợc 139 loài và 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam; L.Vaillant (1891) thu nhập 6 loài mô tả 4 loài mới ở Lai Châu, 5 loài mới ở sông Kỳ Cùng; J.Pellegrin (1905, 1906) với cuốn “Cá nƣớc ngọt ở Đông Dƣơng” đã đóng góp cho Cá Vịnh Hạ Long; “Đông Dƣơng, nguồn lợi biển và nƣớc ngọt” của A. Gruvel; “Thống kê các loài cá ở Đông Dƣơng” của P.
Chabanaud, tập I, và P.Chevey, tập II, (1932) “Các loài cá nƣớc ngọt ở Bắc Bộ” của P. Chevey và LemassonJ (1937),…[20]. Nổi bật là công trình nghiên cứu của Gilbert Tirant (1929) về cá ở phía Nam Việt Nam và Campuchia; trong nghiên cứu ông đã tìm ra đƣợc đặc điểm sinh học và nghề cá của 221 loài thuộc Bộ cá Nhám, cá Đuối, cá Chép, cá Trích và một số loài cá khác [40]. Các nghiên cứu thời kỳ này chủ yếu là của các tác giả ngƣời nƣớc ngoài, phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, chúng cũng đóng góp đáng kể cho sự phát triển của ngƣ loại học ở Viêt Nam, đặt nền móng cho các nghiên cứu sau này của các tác giả ngƣời Việt [34]. Thời kỳ thứ hai (Từ 1954 đến 1975) Từ 1954 đến 1975, các công trình nghiên cứu xuất hiện phong phú, đặc biệt có sự tham gia ngày càng nhiều của các tác giả ngƣời Việt Nam với những nghiên cứu chung và nghiên cứu cụ thể cho từng vùng. Điển hình: “Nghiên cứu động vật ở miền Trung Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1957) tập trung vào một số loài cá ven biển miền Trung; Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958) với “Dẫn liệu sơ bộ ngƣ giới sông Bôi” gồm 44 loài cá; Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên với “ Dẫn liệu sơ bộ ngƣ giới Ngòi Thìa (nhánh của sông Hồng) gồm 54 loài cá; Đặng Ngọc Thanh và Mai Đình Yên (1961) với “Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ Tây”; Mai Đình Yên (1962) với “Sơ bộ điều tra thành phần nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng”; “Sơ bộ tìm hiểu thành phần nguồn gốc và phân bố chủng quần cá sông Hồng” của Mai Đình Yên (1963) với công bố 110 loài; “Các loài cá sông Thao” của Nguyễn Văn Hảo (1964); “Các loài cá sông Lô” của Hoàng Đức Đạt (1964); “Cá loài cá Chép” của Trần Đình Trọng (1966); Mai Đình Yên (1966) điều tra khu hệ cá sông Hồng với 92 loài và phân loài cá nƣớc ngọt; “Thành phần hoá học các loài cá kinh tế vùng nƣớc ngọt” của Nguyễn Thị Thịnh (1969); “Khu hệ cá vịnh Bắc bộ”của L. Giai đoạn thứ ba (Từ 1975 đến nay) Từ năm 1975 đến nay, là giai đoạn đƣợc ghi nhận bởi hàng loạt các chƣơng trình lớn của Nhà nƣớc về điều tra, nghiên cứu tổng hợp về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi cá biển Việt Nam.
Các nghiên cứu điển hình nhƣ: “Định loại cá nƣớc ngọt các tỉnh phía bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) với 201 loài thuộc 103 giống; “Định loại các loài cá nƣớc ngọt Nam Bộ” của Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiên (1992) với công bố và mô tả 255 loài; Nghiên cứu phân loại cá Nục của Nguyễn Bá Hùng, Bùi Đình Chung (1964) xác định đƣợc 7 loài; Đặc biệt trong cuốn “Ngƣ loại học” của Mai Đình Yên, Vũ Trung Tạng (1979) mô tả đƣợc 51 bộ cá, là một hệ thống tƣơng đối đầy đủ về thành phần loài cá Việt Nam; Nguyễn Thái Tự (1986) về “Đặc điểm khu hệ cá Nghệ Tĩnh”; Nguyễn Thái Luan van 11 Tự (1992) về “Khu hệ cá Vũ Quang”; Võ Văn Phú (1995) về “Thành phần loài cá ở các đầm phá Thừa Thiên Huế” với 163 loài [34]. Trên cơ sở các nghiên cứu trƣớc đó, trong cuốn “Nguồn Lợi Thuỷ Sản Việt Nam” của Bộ Thuỷ sản (1996) đã liệt kê danh sách thành phần loài cá nƣớc ngọt Việt Nam gồm 544 loài thuộc 57 họ và 18 bộ, danh sách loài cá kinh tế nƣớc ngọt gồm 97 loài nằm trong 23 họ, danh mục cá biển Việt Nam gồm 29 bộ và 185 họ [3]. Năm 1998, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản tổ chức tại Viện NCNTTSI đã có nhiều nghiên cứu có giá trị nhƣ: “Hiện trạng thành phần loài cá ở hồ chứa Thác Bà tỉnh Yên Bái” của Ngô Sỹ Vân gồm 68 loài; Nguyễn Thị Thu Hè với “Dẫn liệu bƣớc đầu về thành phần loài cá tự nhiên ở các sông suối Đắc Lắc và một vài ý kiến bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng” đã cho thấy cá ở đây khá phong phú với 101 loài [21]. Ý thức đƣợc tầm quan trọng của việc nghiên cứu ngƣ loại học đối với sự phát triển của nghề cá nói riêng và công tác bảo vệ đa dạng sinh học nói chung, tiếp nối các hƣớng nghiên cứu của các tác giả trƣớc.
Giai đoạn từ 2000 - 2005, hàng loạt các nghiên cứu về thành phần loài ở nhiều vùng trong cả nƣớc đƣợc công bố nhƣ: “Thành phần loài cá lƣu vực sông Mã thuộc địa phận tỉnh Thanh Hoá” của Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Văn Hảo, công bố 130 loài thuộc 94 giống, 35 họ, 9 bộ, trong đó chiếm ƣu thế là bộ cá Vƣợc (Perciformes) với 19 họ (chiếm 54,2%); “Dẫn liệu bƣớc đầu về thành phần loài cá ở một số Hồ Tây Nguyên Việt Nam” của Nguyễn Thị Thu Hè, công bố danh sách 76 loài thuộc 57 giống, 21 họ và 8 bộ, trong đó bộ có nhiều loài nhất là bộ cá Chép (Cypriniformes) với 48 loài; “Về đa dạng sinh học thành phần loài cá ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên” của Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan, Hồ Thị Hồng với 108 loài thuộc 67 giống, 46 họ và 13 bộ, trong đó bộ đa dạng nhất về họ, giống và loài là bộ cá Vƣợc (Perciformes) có tới 21 họ, 33 giống, 57 loài; “Đặc điểm phân bố cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bến Tre và Trà Vinh” của Nguyễn Văn Lục với tổng số 203 loài thuộc 49 họ, chiếm ƣu thế vẫn là bộ cá Vƣợc gồm 33 họ; ”Thành phần loài cá ở hồ Phú Ninh tỉnh Quảng Nam” của Vũ Thị Phƣơng Anh với 71 loài nằm trong 49 giống thuộc 19 họ và 9 bộ, ƣu thế nhất là bộ Luan van 12 cá Chép (Cypriniformes) có 3 họ với 38 loài; “Dẫn liệu bƣớc đầu về thành phần loài cá sông Chu thuộc địa phận tỉnh Thanh Hoá” của Nguyễn Hữu Dực, Dƣơng Ngọc Quang, Nguyễn Thị Nhung với 94 loài và phân loài thuộc 68 giống, 24 họ và 9 bộ; “Dẫn liệu bƣớc đầu về thành phần loài cá vùng hồ Then, Cao Bằng” của Thạch Mai Hoàng, Nguyễn Xuân Huấn với công bố 32 loài thuộc 5 bộ và 10 họ, chiếm ƣu thế tuyệt đối là bộ cá Chép (Cypriniformes) với 22 loài; “Thành phần loài cá vùng cửa sông Bạch Đằng - Quảng Ninh” của Nguyễn Xuân Huấn, Đoàn Hƣơng Mai, Hoàng Thị Hồng Liên với 177 loài, 44 họ, 11 bộ. Tất cả các công trình nghiên cứu trên đang góp phần tạo ra một cái nhìn tổng quát và cụ thể đối với đa dạng sinh học cá ở Việt Nam nói chung và ở từng địa phƣơng nói riêng. Trong tƣơng lai gần, các nghiên cứu về phân loại cá nằm trong chƣơng trình “Nghiên cứu cơ bản” sẽ đƣợc thực hiện với quy mô lớn và cụ thể hơn, nhằm mục đích đánh giá, bảo vệ và phát triển nguồn đa dạng sinh học cá ở Việt Nam. Lịch sử nghiên cứu ở khu vực miền Trung và Thành Phố Đà Nẵng Trƣớc 1975, do nhiều điều kiện khác nhau nên hầu nhƣ không có 1 công trình nào nghiên cứu khu hệ cá ở khu vực miền Trung, ngoại trừ công trình của G.
Sau 1975, bắt đầu có một số công trình nghiên cứu đƣợc thực hiện nhƣ: Bùi văn Dƣơng (1980) thống kê danh sách gồm 71 loài cá ở đầm Ô Loan; Nguyễn Hữu Dực (1982) thống kê 58 loài cá sông Hƣơng; Nguyễn Hữu Dực và Mai Đình Yên thống kê 87 loài cá nƣớc ngọt ven biển Nam Trung Bộ; Mai Đình Yên và Luan van 13 Nguyễn Hữu Dực (1991) đã xác định đƣợc 85 loài cá ở sông Thu Bồn; Võ Văn Phú (1994) đã thống kê một danh sách gồm 126 loài cá ở đầm Cầu Hai (Huế) thuộc 95 giống, 60 họ và 17 bộ, trong đó bộ cá Vƣợc (Perciformes) chiếm ƣu thế với 30 họ (50%) và 86 loài (52,76%), tiếp theo là bộ cá Đối (Mugiliformes) với 14 loài (8,59%), ba bộ: cá Trích (Cupeiformes), cá Chép (Cypriniformes), cá Chình (Anguilliformes) đều chiếm 6,13% tổng số loài,… Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Hữu Dực cũng đã thống kê 82 loài cá ở Tây Nguyên; Vũ Thị Phƣơng Anh, Võ Văn Phú (2002 - 2004) với công bố 71 loài cá ở Hồ Phú Ninh - Quảng Nam thuộc 49 giống, 19 họ và 9 bộ, ƣu thế nhất là bộ cá Chép (Cypriniformes) có 3 họ (15,79%) với 38 loài (53,52%), tiếp theo là bộ cá Vƣợc (Perciformes) có 6 họ (31,58%) với 17 loài (23,94%), bộ cá Nheo (Siluriformes) với 4 họ (21,05%), các bộ khác có số loài không nhiều chiếm chƣa tới 3% tổng số loài; Nguyễn Hữu Dực và Nguyễn Văn Hoàng (2012) đã xác định đƣợc 177 loài cá ở Phá Tam Giang – Cầu Hai; Nguyễn Thị Tƣờng Vi, Lê Thị Thu Thảo, Võ Văn Quang và Bùi Thị Ngọc Nở (2014) đã xác định đƣợc 139 loài cá tại Khu hệ cá cửa sông Thu Bồn. Trong số đó đáng kể nhất là công trình “Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nƣớc ngọt Nam Trung Bộ Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dực, Mai Đình Yên (1995) với công bố danh sách 134 loài thuộc 31 họ và các nghiên cứu khu hệ cá ở đầm phá Thừa Thiên Huế của Võ Văn Phú. [5, 7, 8, 24, 25, 26, 33] Ở Thành Phố Đà Nẵng, năm 1995 tác giả Nguyễn Kiêm Sơn có một công trình nghiên cứu sơ bộ đầu tiên tại khu bảo tồn Bà Nà – Núi Chúa. Sau đó là nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Việt Cƣòng, Thạch Mai Hoàng (Trƣờng ĐHKHTN - ĐHQG Hà Nội), kết hợp với nghiên cứu của Ban quản lý khu bảo tồn đã lập dƣợc danh sách 78 loài và phân loài thuộc 55 giống, 16 họ và 9 bộ.
Trong đó có 24 loài và phân loài chỉ phân bố ở miền Bắc, 31 loài chỉ phân bố ở miền Nam và 11 loài phân bố trên cả 2 miền.