Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của mọt gạo Sitophilus oryzae trên lúa mì năm 2021

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái mọt gạo Sitophilus oryzae gây hại trên lúa mì năm 2021, cung cấp thông tin quan trọng cho phòng trừ hiệu quả.

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

76
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ BÀI

3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

3.2. Vị trí phân loại

3.3. Phân bố và phạm vi ký chủ

3.4. Nghiên cứu về thiệt hại do mọt gạo gây ra đối với hạt ngũ cốc dự trữ trong kho bảo quản

3.5. Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái mọt gạo

3.6. Tình hình nghiên cứu trong nước

3.7. Vị trí phân loại

3.8. Phân bố và phạm vi kí chủ

3.9. Nghiên cứu về thiệt hại do mọt gạo gây ra đối với hạt ngũ cốc dự trữ trong kho bảo quản

3.10. Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái mọt gạo

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

4.2. Đối tượng nghiên cứu. Vật liệu nghiên cứu

4.3. Dụng cụ nghiên cứu

4.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

4.5. Nội dung nghiên cứu

4.6. Phương pháp nghiên cứu

4.7. Nhân nuôi quần thể mọt gạo

4.8. Nghiên cứu về một số đặc điểm hình thái, sinh học của mọt gạo S.

4.9. Nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái của mọt gạo S.

4.10. Đánh giá ảnh hưởng mật độ mọt gạo đến sự hao hụt trọng lượng thức ăn sau thời gian bảo quản

4.11. Nghiên cứu sự cạnh tranh của mọt mọt gạo Sitophilus oryzae L. và mọt ngô Sitophilus zeamais M.

4.12. Ảnh hưởng của xử lý nhiệt độ cao 50℃ đến mọt gạo

5. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5.1. Nghiên cứu về một số đặc điểm hình thái, sinh học mọt gạo

5.2. Tập tính sinh học của mọt gạo

5.3. Đặc điểm hình thái các pha của mọt gạo

5.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm sinh học của mọt gạo

5.5. Ảnh hưởng của thức ăn đến đặc điểm sinh học của mọt gạo

5.6. Đánh giá ảnh hưởng mật độ mọt gạo đến sự hao hụt khối lượng thức ăn sau thời gian bảo quản

5.7. Nghiên cứu sự cạnh tranh của mọt gạo Sitophilus oryzae L. và mọt ngô Sitophilus zeamais M. Ảnh hưởng của xử lí nhiệt độ cao 50°C đến mọt gạo

6. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Sitophilus oryzae và tác hại trên lúa mì

Sitophilus oryzae, còn gọi là mọt gạo, là một loài côn trùng gây hại phổ biến trong các kho lương thực, đặc biệt là trên lúa mì, gạo và ngô. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích đặc điểm sinh họcsinh thái của loài này trong năm 2021. Mọt gạo không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chất lượng hạt lúa mì, làm giảm giá trị thương mại. Việc hiểu rõ các đặc điểm này là cần thiết để đề xuất các biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả.

1.1. Phân bố và phạm vi ký chủ

Sitophilus oryzae có nguồn gốc từ Ấn Độ và hiện phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và ôn đới. Loài này gây hại chủ yếu trên các loại ngũ cốc như lúa mì, gạo và ngô. Ngoài ra, chúng cũng có thể gây hại trên các loại đậu đỗ và cao lương. Sự phân bố rộng rãi của mọt gạo làm cho chúng trở thành một trong những loài côn trùng gây hại nghiêm trọng nhất trong kho bảo quản.

1.2. Tác hại kinh tế

Theo các nghiên cứu, Sitophilus oryzae gây thiệt hại đáng kể về trọng lượng và chất lượng hạt lúa mì. Tỷ lệ hao hụt trọng lượng có thể lên đến 5,11% sau 90 ngày bảo quản. Ngoài ra, hoạt động của mọt gạo còn làm tăng nhiệt độ và độ ẩm trong kho, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài sâu bệnh thứ cấp.

II. Đặc điểm sinh học của Sitophilus oryzae

Sitophilus oryzae có vòng đời gồm bốn giai đoạn: trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành. Các giai đoạn này đều diễn ra bên trong hạt bị nhiễm bệnh. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vòng đời và sức sinh sản của mọt gạo, bao gồm nhiệt độ, thức ăn và mật độ quần thể.

2.1. Vòng đời và sức sinh sản

Vòng đời của Sitophilus oryzae dao động từ 35,57 đến 46,2 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ và loại thức ăn. Sức sinh sản của trưởng thành cái cao nhất ở nhiệt độ 28,56°C, với trung bình 171,7 trứng/con. Thời gian đẻ trứng nhiều nhất là từ 12h đến 14h trong ngày.

2.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thức ăn

Nhiệt độ và thức ăn có ảnh hưởng lớn đến thời gian phát dục và sức sinh sản của mọt gạo. Khi nuôi trên lúa mì, vòng đời của Sitophilus oryzae ngắn nhất là 35,57 ngày. Trong khi đó, nhịn đói làm giảm đáng kể tỷ lệ sống và khả năng sinh sản của trưởng thành.

III. Đặc điểm sinh thái và biện pháp quản lý dịch hại

Nghiên cứu này cũng tập trung vào các đặc điểm sinh thái của Sitophilus oryzae, bao gồm khả năng cạnh tranh với các loài côn trùng gây hại khác và ảnh hưởng của các biện pháp xử lý nhiệt độ cao. Kết quả cho thấy mọt gạo có ưu thế hơn trong môi trường cạnh tranh với mọt ngô Sitophilus zeamais.

3.1. Cạnh tranh với mọt ngô

Trong môi trường cạnh tranh với mọt ngô, Sitophilus oryzae có khả năng sinh sản cao hơn, dẫn đến thiệt hại lớn hơn đối với hạt lúa mì. Số lượng hạt bị hại và khối lượng chất vỡ vụn do mọt gạo gây ra cao hơn so với mọt ngô.

3.2. Xử lý nhiệt độ cao

Xử lý nhiệt độ cao 50°C trong 150 phút có thể tiêu diệt hoàn toàn Sitophilus oryzae và ngăn chặn sự sinh sản của chúng. Đây là một biện pháp hiệu quả trong quản lý dịch hạibảo vệ thực vật.

12/02/2025
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái mọt gạo sitophilus oryzae linnaeus coleoptera curculionnidae gây hại trên lúa mì năm 2021 khóa luận tốt nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Lúa mì (Triticum spp.) là một trong 5 loại lương thực truyền thống chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ trên thế giới. Lúa mì được trồng khắp nơi trên thế giới bởi lúa mì có thể tạo ra một sản phẩm có khối lượng lớn trên mỗi diện tích và có thể bảo quản được lâu. Ở Việt Nam hiện chưa trồng lúa mì mà đang gợi ý triển vọng có thể trồng được vào mùa đông để tăng hệ số sử dụng đất và thu nhập cho nông dân những vùng núi phía Bắc. Do đặc thù thời tiết, khí hậu, hầu như năm nào nước ta cũng phải nhập khẩu hoàn toàn lúa mì.

Tại các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, đa số chỉ canh tác được một vụ do thời tiết màu đông quán lạnh, không có mưa nên đất đai phải bỏ hoang. Lúa mì chính là một gợi ý tốt để tăng hệ số sử dụng đất và tăng thu nhập cho nông dân ở những vùng này. Với mong muốn sẽ đưa cây lúa mì thành cây trồng mới có hiệu quả trên vùng đất của mình, tỉnh Lào Cai đã quyết định trồng thử nghiệm loại cây này. Tại Nghệ An, lần đầu tiên đã có hộ nông dân trồng thành công cây lúa mì để tạo ra nhiều loại mì dinh dưỡng được thị trường trong nước, thế giới nhìn nhận và tiêu thụ.

Hiện nay ở Việt Nam đang nhập lúa mì từ ba thị trường nhập khẩu lúa mì là Nga, Úc và Canada với thị phần lần lượt là 52,9%, 25,3% và 8,5% (Thanh Nhân & Ngọc Ánh, 2018). Loại nguyên liệu này đã giúp các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nhiều mặt hàng thực phẩm, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hạt lúa mì có thể nghiền thành bột, gọi là bột mì hay cho nảy mầm và sấy khô để sản xuất mạch nha, nghiền và loại bỏ cám thành lúa mì vỡ hạt hay bulgur, luộc sơ (hay sấy hơi nước), sấy khô hay chế biến thành bột trân châu, mì ống. Ngoài việc làm nguyên liệu sản xuất mì ăn liền, bánh mì, bánh ngọt, bột mì còn được sử dụng để chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm.

Ngành sữa cũng có nhu cầu sử dụng bột mì đáng kể. Ngành ván ép, làm keo cũng sử dụng bột mì rất nhiều. 1 Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa tăng vọt, các công nhân làm việc nhiều giờ liền, số bếp ăn ở nhà máy phát triển theo. Kết quả là người tiêu dùng Việt Nam có xu thế quay về với thức ăn nhanh để tiết kiệm thời gian.

Tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ lúa mỳ tăng trưởng mạnh, từng bước thay thế lúa gạo vốn chiếm ưu tế trong các bữa ăn Việt Nam. Tất cả những điều đó cho thấy nguồn tiêu thụ bột mì trên thị trường Việt Nam ngày càng tăng. Tuy nhiên trong quá trình nhập khẩu thì ghi nhận xuất hiện một số các loài mọt quan trọng trong đó có mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus. thuộc họ Curculionidae, bộ Coleoptera, là một trong những loài sâu gây hại trên nhiều loại ngũ cốc dự trữ trong kho trong đó có lúa mì.

Không những gây hại trong kho dự trữ, chúng còn gây hại trực tiếp trên cây trồng ngoài đồng ruộng (Longstaff, 1981). Sự gây hại của mọt gạo Sitophilus oryzae L. làm ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, thị trường nông sản trên thế giới nói chung và thi trường lúa mì nói riêng. Việt Nam có khi hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện tốt cho mọt gạo phát triển.

Bên cạnh đó, mọt gạo Sitophilus oryzae L. sinh sản nhanh chóng, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh khác nhau và thời gian sống dài, gây ảnh hưởng rất lớn đến nông sản ngũ cốc sau bảo quản ở Việt Nam. Để có thể hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt gạo Sitophilus oryzae L., chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus (Coleoptera: Curculionidae) gây hại trên lúa mì năm 2021”. Mục tiêu và yêu cầu của đề bài 1.

Mục tiêu Trên cơ sở xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt gạo Sitophilus oryzae trên lúa mì nhập khẩu từ đó đề xuất biện pháp quản lý hạn chế được thiệt hại do mọt gạo gây ra. Yêu cầu - Xác định một số đặc điểm hình thái sinh học, sinh thái của loài mọt gạo Sitophilus oryzae L. - Xác định được sự hao hụt trong lượng hạt lúa mì do mọt gạo Sitophilus oryzae L. sau 1 thời gian bảo quản.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Vị trí phân loại Theo CABI (2015): Mọt gạo thuộc Bộ (Oder): Cánh cứng (Coleoptera); Họ (Family): Dryophthoridae (Curculionidae); Giống: Sitophilus; Loài: Sitophilus oryzae. Phân bố và phạm vi ký chủ Sitophilus oryzae L.

được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ, chúng xuất hiện ở tất cả các vùng nhiệt đới và những nơi có nhiệt độ cao trên thế giới, và cũng có thể tìm thấy ở các vùng ôn đới (Longstaff,1981). Mọt gạo Sitophilus oryzae gây hại chủ yếu trên hạt gạo. Ngoài ra chúng còn gây hại trên nhiều loại ngũ cốc khác nhau đậu đỗ, ngô, lúa mì … Mặc dù, Sitophilus oryzae là côn trùng gây hại trong kho bảo quản nhưng chúng cũng có thể gây hại các loại ngũ cốc ngoài đồng ruộng (CABI, 2015). Nghiên cứu về thiệt hại do mọt gạo gây ra đối với hạt ngũ cốc dự trữ trong kho bảo quản.

Các loại hạt ngũ cốc như lúa mỳ, lúa gạo, ngô, v.v… chiếm một phần quan trọng trong bữa ăn của con người. Những sản phẩm này được dự trữ ở dạng hạt khô và là nguồn dự trữ lương thực duy nhất của con người. Tuy nhiên, hạt ngũ cốc dự trữ thường bị các loài côn trùng gây hại cắn phá và gây thiệt hại lớn về trọng lượng cũng như giảm chất lượng cũng như giá trị thương mại và khả năng sống của hạt. Trong số các loài côn trùng gây hại quan trọng nhất đối với ngũ cốc được bảo quản là mọt thóc đỏ, Tribolium castaneum Herbst, đục hạt nhỏ, Rhyzopertha dominica (F.), và mọt gạo Sitophilus oryzae (L.

Năm 1948, ở một chiếc tàu chở 145 tấn ngô vào, khi cập bến đã sàng được 3 tấn mọt gạo (Antunes & cs., 2013) 4 Theo tài liệu của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) hàng năm trên thế giới có tới 6 - 10% số lương thực bảo quản trong kho bị tổn thất. Ước tính sau thu hoạch tổn thất hạt ngũ cốc dao động từ 5 đến 35% trên thế giới. Chuyên gia Ấn Độ ước tính 9,3% ngũ cốc bị thất thoát trong đó 3,5% thiệt hại là do côn trùng. Các nghiên cứu đã được thực hiện ở Ai Cập để ước tính tổn thất trọng lượng do côn trùng gây hại trên ngũ cốc được bảo quản trong điều kiện tự nhiên.

Phần trăm tổn thất về trọng lượng là 24,2 - 47,8% ở lúa mì, trung bình là 32,4%; 16,2 - 27,9% ở ngô, trung bình là 22,18%; 26,3 - 46,9% ở cây cao lương, trung bình là 33,8%. Ở Anh, hạt lúa mì bị nhiễm S.oryzae, được bảo quản ở 27°C và 70% RH trong 14 tuần cho thấy tổn thất lên đến 38% và mất 18% phần protein ban đầu (Francis & Adams, 1980) Ở Ethiopia, các loài gây hại sản phẩm chính bao gồm S. zeamais trên ngũ cốc nguyên hạt, làm giảm 4,2% trọng lượng lúa mì được lưu trữ trong các cửa hàng truyền thống (Hulluka, 1991).) được cho là một trong những loài gây hại lớn nhất hạn chế đối với sản lượng lúa mì lớn, vì nó tấn công ngũ cốc cả trên đồng ruộng và trong kho lưu trữ. Nó có thể làm thiệt hại khoảng 48,37% khối lượng, trưởng thành và sâu non gây hại với tỷ lệ lần lượt là 19%, 16,2% hạt lúa mì.

Sitophilus oryzae đã được ghi nhận có khả năng kháng thuốc trừ sâu tổng hợp (Benhalima, 1988). Hoạt động của S.oryzae cũng làm tăng nhiệt độ và độ ẩm của vật nhiễm trùng ngũ cốc, tăng tỷ lệ phát triển của sâu bệnh thứ cấp và tạo điều kiện tối ưu cho mầm bệnh và sự xâm nhập sâu hơn (Flay, 2010) Sitophilus oryzae gây ra tổn thất đáng kể đối với lượng ngũ cốc là 18,3%. Chúng làm trọng lượng hạt bị giảm tối đa là 57% đối với gạo và 10% đối với lúa mì (Narayana Swamy, 2014). Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái mọt gạo * Nghiên cứu về đặc điểm hình thái của mọt gạo: Vòng đời của S.oryzae bao gồm 4 giai đoạn: trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành.

Ba giai đoạn đầu tiên được hoàn thành bên trong hạt bị nhiễm bệnh. Trưởng thành có thể tồn tại đến hai năm tùy thuộc vào các điều kiện (Ryoo & Cho, 1988; Pittendrigh & cs. Hình thái các pha phát dục của mọt gạo cũng được các nhà khoa học nghiên cứu trong phòng thí nghiệm khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau, nhiệt độ, ẩm độ cũng khác nhau. Pha trứng: Trứng mọt gạo được trưởng thành đẻ bên trong khoang trên các hạt.

Những quả trứng có hình bầu dục, một đầu nhọn và đầu kia tròn. Trứng mới đẻ có màu trong mờ và trắng và trở nên mờ đục trước khi nở (Jadhav, 2006; Girdhar Bhanderi & Radadia, 2018). Somnath Das Choudhury & Chakraborty (2014) đã ghi nhận chiều dài trung bình của trứng là 0,68 ± 0,03 mm với thức ăn là gạo với ở nhiệt độ dao động từ 23,7°C - 30,7°C và độ ẩm 69 - 86%., (2017) tiến hành nghiên cứu và đo kích thước cho biết pha trứng mọt gạo S.oryzae có chiều dài trung bình 0,36 ± 0,01mm, chiều rộng trung bình 0,24 ± 0,01mm khi được nuôi bằng lúa mì ở nhiệt độ 24 đến 30°C, ẩm độ 70 đến 80%. Pha sâu non: Khi mới vũ hóa, sâu non gây hại trực tiếp bên trong hạt, chúng ăn tinh bột có trong hạt.

Sâu non mọt gạo cơ thể mập, ngắn, không chân, hơi cong hình chữ C, lúc mới hóa nhộng màu trắng sữa, sau thành màu nâu nhạt. (Narayana Swamy & cs., (2017) ghi nhận kích thước pha sâu non khi được nuôi trên lúa mì ở nhiệt độ 24 đến 30°C, ẩm độ 70 đến 80%, sâu non tuổi 1 có chiều dài trung bình là 0,84 ± 0,01mm, chiều rộng trung bình là 0,59 ± 0,02mm. Sâu non tuổi 2 có chiều dài trung bình là 1,04 ± 0,04mm, chiều rộng trung bình 0,6 ± 0,03mm. Sâu non tuổi 3 có chiều dài trung bình là 1,12 ± 6 0,04mm, chiều rộng trung bình 1,04 ± 0,03mm.

Sâu non tuổi 4 có chiều dài trung bình là 1,86 ± 0,04mm, chiều rộng trung bình 1,39 ± 0,04mm. Pha nhộng: Ở giai đoạn nhộng, nhộng cái có 2 gai ở đốt bụng cuối, cơ quan sinh dục có hình lưỡi liềm. Nhộng đực không có gai ở đốt bụng cuối.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái mọt gạo Sitophilus oryzae gây hại lúa mì 2021" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh học và sinh thái của loài mọt gạo, một trong những tác nhân gây hại chính cho lúa mì. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh trưởng, phát triển và hành vi của loài mọt này, mà còn chỉ ra những biện pháp quản lý hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại cho cây trồng. Những thông tin này rất hữu ích cho nông dân, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến nông nghiệp bền vững.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các hệ sinh thái khác, hãy tham khảo tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu thành phần loài cá trong một số hệ sinh thái sông hồ của tp đà nẵng, nơi bạn có thể tìm hiểu về sự đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái nước ngọt. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đa dạng và phát triển nguồn gen một số loài lan hài paphiopedilum đặc hữu khu vực miền núi phía bắc việt nam sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng thực vật tại miền núi phía Bắc. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học sinh thái học loài mọt thòi đuôi carpophilus dimidiatus fabr gây hại trên lạc nhập khẩu tại cửa khẩu tân thanh lạng sơn năm 2020 để tìm hiểu thêm về các loài mọt gây hại khác và ảnh hưởng của chúng đến nông sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sinh thái học và quản lý dịch hại trong nông nghiệp.