Đặt vấn đề Lúa mì (Triticum spp.) là một trong 5 loại lương thực truyền thống chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ trên thế giới. Lúa mì được trồng khắp nơi trên thế giới bởi lúa mì có thể tạo ra một sản phẩm có khối lượng lớn trên mỗi diện tích và có thể bảo quản được lâu. Ở Việt Nam hiện chưa trồng lúa mì mà đang gợi ý triển vọng có thể trồng được vào mùa đông để tăng hệ số sử dụng đất và thu nhập cho nông dân những vùng núi phía Bắc. Do đặc thù thời tiết, khí hậu, hầu như năm nào nước ta cũng phải nhập khẩu hoàn toàn lúa mì.
Tại các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, đa số chỉ canh tác được một vụ do thời tiết màu đông quán lạnh, không có mưa nên đất đai phải bỏ hoang. Lúa mì chính là một gợi ý tốt để tăng hệ số sử dụng đất và tăng thu nhập cho nông dân ở những vùng này. Với mong muốn sẽ đưa cây lúa mì thành cây trồng mới có hiệu quả trên vùng đất của mình, tỉnh Lào Cai đã quyết định trồng thử nghiệm loại cây này. Tại Nghệ An, lần đầu tiên đã có hộ nông dân trồng thành công cây lúa mì để tạo ra nhiều loại mì dinh dưỡng được thị trường trong nước, thế giới nhìn nhận và tiêu thụ.
Hiện nay ở Việt Nam đang nhập lúa mì từ ba thị trường nhập khẩu lúa mì là Nga, Úc và Canada với thị phần lần lượt là 52,9%, 25,3% và 8,5% (Thanh Nhân & Ngọc Ánh, 2018). Loại nguyên liệu này đã giúp các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nhiều mặt hàng thực phẩm, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hạt lúa mì có thể nghiền thành bột, gọi là bột mì hay cho nảy mầm và sấy khô để sản xuất mạch nha, nghiền và loại bỏ cám thành lúa mì vỡ hạt hay bulgur, luộc sơ (hay sấy hơi nước), sấy khô hay chế biến thành bột trân châu, mì ống. Ngoài việc làm nguyên liệu sản xuất mì ăn liền, bánh mì, bánh ngọt, bột mì còn được sử dụng để chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm.
Ngành sữa cũng có nhu cầu sử dụng bột mì đáng kể. Ngành ván ép, làm keo cũng sử dụng bột mì rất nhiều. 1 Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa tăng vọt, các công nhân làm việc nhiều giờ liền, số bếp ăn ở nhà máy phát triển theo. Kết quả là người tiêu dùng Việt Nam có xu thế quay về với thức ăn nhanh để tiết kiệm thời gian.
Tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ lúa mỳ tăng trưởng mạnh, từng bước thay thế lúa gạo vốn chiếm ưu tế trong các bữa ăn Việt Nam. Tất cả những điều đó cho thấy nguồn tiêu thụ bột mì trên thị trường Việt Nam ngày càng tăng. Tuy nhiên trong quá trình nhập khẩu thì ghi nhận xuất hiện một số các loài mọt quan trọng trong đó có mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus. thuộc họ Curculionidae, bộ Coleoptera, là một trong những loài sâu gây hại trên nhiều loại ngũ cốc dự trữ trong kho trong đó có lúa mì.
Không những gây hại trong kho dự trữ, chúng còn gây hại trực tiếp trên cây trồng ngoài đồng ruộng (Longstaff, 1981). Sự gây hại của mọt gạo Sitophilus oryzae L. làm ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, thị trường nông sản trên thế giới nói chung và thi trường lúa mì nói riêng. Việt Nam có khi hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện tốt cho mọt gạo phát triển.
Bên cạnh đó, mọt gạo Sitophilus oryzae L. sinh sản nhanh chóng, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh khác nhau và thời gian sống dài, gây ảnh hưởng rất lớn đến nông sản ngũ cốc sau bảo quản ở Việt Nam. Để có thể hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt gạo Sitophilus oryzae L., chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus (Coleoptera: Curculionidae) gây hại trên lúa mì năm 2021”. Mục tiêu và yêu cầu của đề bài 1.
Mục tiêu Trên cơ sở xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt gạo Sitophilus oryzae trên lúa mì nhập khẩu từ đó đề xuất biện pháp quản lý hạn chế được thiệt hại do mọt gạo gây ra. Yêu cầu - Xác định một số đặc điểm hình thái sinh học, sinh thái của loài mọt gạo Sitophilus oryzae L. - Xác định được sự hao hụt trong lượng hạt lúa mì do mọt gạo Sitophilus oryzae L. sau 1 thời gian bảo quản.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Vị trí phân loại Theo CABI (2015): Mọt gạo thuộc Bộ (Oder): Cánh cứng (Coleoptera); Họ (Family): Dryophthoridae (Curculionidae); Giống: Sitophilus; Loài: Sitophilus oryzae. Phân bố và phạm vi ký chủ Sitophilus oryzae L.
được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ, chúng xuất hiện ở tất cả các vùng nhiệt đới và những nơi có nhiệt độ cao trên thế giới, và cũng có thể tìm thấy ở các vùng ôn đới (Longstaff,1981). Mọt gạo Sitophilus oryzae gây hại chủ yếu trên hạt gạo. Ngoài ra chúng còn gây hại trên nhiều loại ngũ cốc khác nhau đậu đỗ, ngô, lúa mì … Mặc dù, Sitophilus oryzae là côn trùng gây hại trong kho bảo quản nhưng chúng cũng có thể gây hại các loại ngũ cốc ngoài đồng ruộng (CABI, 2015). Nghiên cứu về thiệt hại do mọt gạo gây ra đối với hạt ngũ cốc dự trữ trong kho bảo quản.
Các loại hạt ngũ cốc như lúa mỳ, lúa gạo, ngô, v.v… chiếm một phần quan trọng trong bữa ăn của con người. Những sản phẩm này được dự trữ ở dạng hạt khô và là nguồn dự trữ lương thực duy nhất của con người. Tuy nhiên, hạt ngũ cốc dự trữ thường bị các loài côn trùng gây hại cắn phá và gây thiệt hại lớn về trọng lượng cũng như giảm chất lượng cũng như giá trị thương mại và khả năng sống của hạt. Trong số các loài côn trùng gây hại quan trọng nhất đối với ngũ cốc được bảo quản là mọt thóc đỏ, Tribolium castaneum Herbst, đục hạt nhỏ, Rhyzopertha dominica (F.), và mọt gạo Sitophilus oryzae (L.
Năm 1948, ở một chiếc tàu chở 145 tấn ngô vào, khi cập bến đã sàng được 3 tấn mọt gạo (Antunes & cs., 2013) 4 Theo tài liệu của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) hàng năm trên thế giới có tới 6 - 10% số lương thực bảo quản trong kho bị tổn thất. Ước tính sau thu hoạch tổn thất hạt ngũ cốc dao động từ 5 đến 35% trên thế giới. Chuyên gia Ấn Độ ước tính 9,3% ngũ cốc bị thất thoát trong đó 3,5% thiệt hại là do côn trùng. Các nghiên cứu đã được thực hiện ở Ai Cập để ước tính tổn thất trọng lượng do côn trùng gây hại trên ngũ cốc được bảo quản trong điều kiện tự nhiên.
Phần trăm tổn thất về trọng lượng là 24,2 - 47,8% ở lúa mì, trung bình là 32,4%; 16,2 - 27,9% ở ngô, trung bình là 22,18%; 26,3 - 46,9% ở cây cao lương, trung bình là 33,8%. Ở Anh, hạt lúa mì bị nhiễm S.oryzae, được bảo quản ở 27°C và 70% RH trong 14 tuần cho thấy tổn thất lên đến 38% và mất 18% phần protein ban đầu (Francis & Adams, 1980) Ở Ethiopia, các loài gây hại sản phẩm chính bao gồm S. zeamais trên ngũ cốc nguyên hạt, làm giảm 4,2% trọng lượng lúa mì được lưu trữ trong các cửa hàng truyền thống (Hulluka, 1991).) được cho là một trong những loài gây hại lớn nhất hạn chế đối với sản lượng lúa mì lớn, vì nó tấn công ngũ cốc cả trên đồng ruộng và trong kho lưu trữ. Nó có thể làm thiệt hại khoảng 48,37% khối lượng, trưởng thành và sâu non gây hại với tỷ lệ lần lượt là 19%, 16,2% hạt lúa mì.
Sitophilus oryzae đã được ghi nhận có khả năng kháng thuốc trừ sâu tổng hợp (Benhalima, 1988). Hoạt động của S.oryzae cũng làm tăng nhiệt độ và độ ẩm của vật nhiễm trùng ngũ cốc, tăng tỷ lệ phát triển của sâu bệnh thứ cấp và tạo điều kiện tối ưu cho mầm bệnh và sự xâm nhập sâu hơn (Flay, 2010) Sitophilus oryzae gây ra tổn thất đáng kể đối với lượng ngũ cốc là 18,3%. Chúng làm trọng lượng hạt bị giảm tối đa là 57% đối với gạo và 10% đối với lúa mì (Narayana Swamy, 2014). Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái mọt gạo * Nghiên cứu về đặc điểm hình thái của mọt gạo: Vòng đời của S.oryzae bao gồm 4 giai đoạn: trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành.
Ba giai đoạn đầu tiên được hoàn thành bên trong hạt bị nhiễm bệnh. Trưởng thành có thể tồn tại đến hai năm tùy thuộc vào các điều kiện (Ryoo & Cho, 1988; Pittendrigh & cs. Hình thái các pha phát dục của mọt gạo cũng được các nhà khoa học nghiên cứu trong phòng thí nghiệm khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau, nhiệt độ, ẩm độ cũng khác nhau. Pha trứng: Trứng mọt gạo được trưởng thành đẻ bên trong khoang trên các hạt.
Những quả trứng có hình bầu dục, một đầu nhọn và đầu kia tròn. Trứng mới đẻ có màu trong mờ và trắng và trở nên mờ đục trước khi nở (Jadhav, 2006; Girdhar Bhanderi & Radadia, 2018). Somnath Das Choudhury & Chakraborty (2014) đã ghi nhận chiều dài trung bình của trứng là 0,68 ± 0,03 mm với thức ăn là gạo với ở nhiệt độ dao động từ 23,7°C - 30,7°C và độ ẩm 69 - 86%., (2017) tiến hành nghiên cứu và đo kích thước cho biết pha trứng mọt gạo S.oryzae có chiều dài trung bình 0,36 ± 0,01mm, chiều rộng trung bình 0,24 ± 0,01mm khi được nuôi bằng lúa mì ở nhiệt độ 24 đến 30°C, ẩm độ 70 đến 80%. Pha sâu non: Khi mới vũ hóa, sâu non gây hại trực tiếp bên trong hạt, chúng ăn tinh bột có trong hạt.
Sâu non mọt gạo cơ thể mập, ngắn, không chân, hơi cong hình chữ C, lúc mới hóa nhộng màu trắng sữa, sau thành màu nâu nhạt. (Narayana Swamy & cs., (2017) ghi nhận kích thước pha sâu non khi được nuôi trên lúa mì ở nhiệt độ 24 đến 30°C, ẩm độ 70 đến 80%, sâu non tuổi 1 có chiều dài trung bình là 0,84 ± 0,01mm, chiều rộng trung bình là 0,59 ± 0,02mm. Sâu non tuổi 2 có chiều dài trung bình là 1,04 ± 0,04mm, chiều rộng trung bình 0,6 ± 0,03mm. Sâu non tuổi 3 có chiều dài trung bình là 1,12 ± 6 0,04mm, chiều rộng trung bình 1,04 ± 0,03mm.
Sâu non tuổi 4 có chiều dài trung bình là 1,86 ± 0,04mm, chiều rộng trung bình 1,39 ± 0,04mm. Pha nhộng: Ở giai đoạn nhộng, nhộng cái có 2 gai ở đốt bụng cuối, cơ quan sinh dục có hình lưỡi liềm. Nhộng đực không có gai ở đốt bụng cuối.