Tổng quan nghiên cứu

Khu Rừng quốc gia Yên Tử thuộc địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 2.783 ha với địa hình núi cao hiểm trở dao động từ 50 m đến đỉnh cao nhất 1.068 m. Vùng đất này lưu giữ hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới đặc trưng của vùng Đông Bắc Việt Nam, với danh lục thống kê gồm 830 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 509 chi và 171 họ, trong đó có 38 loài quý hiếm được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch tâm linh đón hàng triệu lượt du khách mỗi năm, cùng với áp lực khai thác than đá xung quanh ranh giới và tập quán khai thác lâm sản ngoài gỗ của cộng đồng cư dân vùng đệm, đã khiến diện tích rừng tự nhiên bị chia cắt, cấu trúc phân tầng bị suy giảm và nhiều loài gỗ quý đứng trước nguy cơ suy thoái.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định toàn diện đặc điểm cấu trúc, tính đa dạng của các kiểu thảm thực vật, đồng thời phân tích định lượng ảnh hưởng của đai cao (dưới 700 m và từ 700 m đến 1.068 m) cùng hướng phơi sườn núi (Đông và Tây) đến hệ thực vật thân gỗ. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 2013–2015 trên toàn bộ phạm vi 2.064 ha rừng tự nhiên thuộc Khu A và Khu B của Rừng quốc gia. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu sinh thái định lượng chuẩn xác, làm luận cứ khoa học trực tiếp cho công tác phân vùng bảo tồn nghiêm ngặt, phục hồi sinh cảnh và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật quý giá tại danh thắng Yên Tử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần xã thực vật rừng của Thái Văn Trừng (1978, 1999), kết hợp hệ thống phân loại trạng thái rừng của Loeschau (1960) và Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng (QPN6-84). Trường phái sinh thái phát sinh khẳng định cấu trúc hình thái và tổ thành loài của thảm thực vật là kết quả tương tác chặt chẽ giữa 5 nhóm nhân tố sinh thái: địa hình - địa lý, khí hậu - thủy chế, đá mẹ - thổ nhưỡng, lịch sử khu hệ thực vật và tác động nhân vi sinh.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết đa dạng sinh học theo không gian của Whittaker để đánh giá độ đa dạng Alpha (độ giàu loài nội tại trong lâm phần) và độ đa dạng Beta (mức độ thay đổi thành phần loài dọc theo các gradient môi trường). Các khái niệm then chốt được vận dụng bao gồm: Quần xã thực vật rừng (tập hợp các loài cùng sinh sống trong một sinh cảnh xác định), Cấu trúc tầng tán thẳng đứng (gồm tầng vượt tán A1, tầng ưu thế sinh thái A2, tầng dưới tán A3, tầng cây bụi và tầng thảm tươi), cùng Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI%) theo Daniel Marmillod nhằm lượng hóa vai trò sinh thái thực tế của từng loài cây trong quần xã.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra thực địa kết hợp xử lý số liệu thống kê sinh thái học rừng, triển khai theo quy trình chuẩn hóa:

  • Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Đề tài áp dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên có hệ thống (Stratified Random Sampling) dọc theo 10 tuyến điều tra khảo sát đại diện dài từ 0,5 km đến 4,0 km, cắt qua mọi dạng sinh cảnh chính. Tổng cộng 16 ô tiêu chuẩn (OTC) định vị tạm thời với diện tích 1.000 m² mỗi ô (kích thước 20 m x 50 m) được thiết lập, tương ứng tổng diện tích mẫu điều tra cây gỗ là 16.000 m² (1,6 ha). Trong đó, 12 OTC bố trí ở đai cao dưới 700 m và 4 OTC bố trí ở đai cao 700–1.068 m; chia đều thành 8 OTC sườn Đông và 8 OTC sườn Tây nhằm phản ánh toàn diện tác động của tiểu khí hậu và hướng phơi.
  • Điều tra tầng cây gỗ và cây tái sinh: Tầng cây gỗ tiến hành đo đếm toàn bộ các cá thể có đường kính thân tại vị trí 1,3 m (D1.3) từ 6 cm trở lên, xác định chiều cao vút ngọn (HVN), chiều cao dưới cành (HDC) và đường kính tán lá (DT). Trong mỗi OTC, thiết lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (5 m x 5 m) bố trí theo hình chữ thập và đường chéo (tổng cộng 80 ODB, diện tích 2.000 m²) để đo đếm cây tái sinh theo 3 cấp chiều cao (dưới 50 cm, 50–100 cm, trên 100 cm), phân định nguồn gốc (hạt hoặc chồi) và đánh giá chất lượng (tốt, trung bình, xấu).
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Lý do lựa chọn hệ thống chỉ số định lượng nhằm loại bỏ tính chủ quan trong mô tả cảm quan. Tỷ lệ tổ thành xác định qua công thức Daniel Marmillod (IVI% = [Ni% + Gi%] / 2, với Ni% là tỷ lệ số cây và Gi% là tỷ lệ tiết diện ngang). Đa dạng loài được đánh giá qua chỉ số đa dạng loài Shannon-Wiener (H'), chỉ số mức độ chiếm ưu thế Simpson (Cd), chỉ số độ đồng đều Pielou (E), và mức độ biến đổi thành phần loài qua chỉ số tương đồng Sorensen (SI). Mẫu thực vật chưa định danh được xử lý tiêu bản và giám định tên khoa học theo bộ sách Cây cỏ Việt Nam và Danh lục các loài thực vật Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ hiện trạng phân bố và đặc tính sinh thái của thảm thực vật Rừng quốc gia Yên Tử thông qua các phát hiện nổi bật:

  1. Phân hóa thành 2 kiểu thảm thực vật chính theo đai cao:

    • Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới phân bố ở đai cao dưới 700 m, bao gồm 4 kiểu phụ: Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác kiệt chiếm diện tích lớn nhất với 934,0 ha (45,3% diện tích rừng tự nhiên); Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đã qua tác động mạnh (trạng thái IIIA1) chiếm 573,3 ha (27,8%); Rừng bị khai thác quá mức nhưng phục hồi tốt (trạng thái IIIA2) có diện tích 321,6 ha (15,5%); Rừng ít bị tác động (trạng thái IIIA3) chiếm diện tích nhỏ nhất 125,0 ha (6,0%). Ngoài ra còn có diện tích rừng trồng thuần loài 393,6 ha và hỗn giao 151,9 ha.
    • Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp phân bố từ độ cao 700 m đến 1.068 m, nơi tập trung nhiều quần xã cây lá kim và lá rộng cổ thụ chịu sương mù quanh năm.
  2. Cấu trúc tầng tán và quy luật phân bố lâm phần: Tại trạng thái rừng ít bị tác động (IIIA3), cấu trúc duy trì 5 tầng tán hoàn chỉnh, độ tàn che đạt 0,6–0,7, chiều cao vút ngọn tầng vượt tán (A1) đạt 20–30 m với các loài cổ thụ quý như Hồng tùng (Dacrydium elatum), Thông tre lá ngắn (Podocarpus neriifolius), Lim xanh (Erythrofloeum fordii), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Táu mật (Vatica odorata). Ngược lại, tại trạng thái phục hồi sau khai thác kiệt, rừng chỉ có 2 tầng cây gỗ không liên tục, độ tàn che chỉ đạt 0,3–0,5, chiều cao trung bình 7–10 m và bị lấn át bởi các loài cây tiên phong ưa sáng như Sau sau, Thẩu tấu, Chẹo tía, Ba soi.

  3. Hiện trạng tái sinh tự nhiên và suy giảm chất lượng: Tầng cây bụi và thảm tươi ở các trạng thái rừng bị tác động phát triển rất mạnh với độ che phủ từ 55% đến 65%. Đặc biệt, loài Giang và Sặt xâm lấn dữ dội với mật độ tập trung từ 5.000 đến 7.000 cây/ha tại khu vực phía trên chùa Giải Oan, gây ức chế mạnh mẽ khả năng nảy mầm của hạt cây gỗ lớn. Tỷ lệ cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt của các loài gỗ quý rất thấp, chủ yếu tái sinh chồi từ gốc cũ sau chặt phá.

  4. Sự biến đổi đa dạng sinh học theo đai cao và hướng phơi: Chỉ số đa dạng Shannon-Wiener (H') đạt giá trị cao nhất tại đai thấp dưới 700 m (trung bình H' dao động từ 2,8 đến 3,4) và có xu hướng giảm dần khi lên cao trên 700 m (H' đạt 2,1 đến 2,5). Sườn Đông đón gió ẩm có độ giàu loài và mật độ cây gỗ ưu thế vượt trội so với sườn Tây chịu khô nóng, thể hiện qua chỉ số tương đồng Sorensen (SI) giữa hai sườn chỉ đạt mức trung bình khoảng 0,52–0,58.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt sâu sắc về diện mạo thảm thực vật giữa các trạng thái phản ánh rõ nét lịch sử tác động nhân sinh kết hợp yếu tố lập địa. Khu vực dưới 700 m gần các điểm dân cư Khe Sú và Năm Mẫu với 838 hộ dân trước đây từng chịu áp lực khai thác gỗ làm vì kèo, cột nhà và khai thác gỗ chống lò cho ngành than, khiến cấu trúc rừng bị bẻ gãy. Ngược lại, các khu rừng trên 700 m và quanh các cụm di tích cổ từ chùa Hoa Yên lên Bảo Sái được giữ gìn tốt hơn nhờ ý thức bảo vệ chốn tôn nghiêm và địa hình vách đá hiểm trở.

Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua các phương thức biểu diễn khoa học. Cụ thể, biểu đồ phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3) ở các trạng thái rừng phục hồi tuân theo dạng hàm giảm chữ L hoặc hàm Weibull, minh chứng cho việc lớp cây non chiếm ưu thế nhưng thiếu vắng các cá thể đường kính lớn trên 40 cm. Biểu đồ cột chồng thể hiện tỷ lệ phần trăm các cấp chiều cao cây tái sinh chỉ ra rằng cấp chiều cao dưới 50 cm chiếm tới trên 60%, trong khi cấp trên 100 cm chỉ chiếm khoảng 15–20%, phản ánh tỷ lệ suy hao cây non rất lớn trong quá trình cạnh tranh sinh tồn. Bảng ma trận chỉ số tương đồng (SI) và biểu đồ phân tán chỉ số Shannon-Wiener theo hướng phơi sườn Đông - Tây cung cấp bằng chứng rõ ràng về vai trò của ẩm độ không khí (trung bình 81%) và lượng mưa (1.785 mm/năm) trong việc định hình các ưu hợp thực vật bản địa.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại khu bảo tồn Yên Tử và các vùng núi Đông Bắc, kết quả này khẳng định tính ổn định của hệ thực vật bản địa cổ nhưng đồng thời gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ suy thoái cục bộ nếu tre nứa và dây leo không được xử lý lâm sinh kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn tính đa dạng sinh học và phục hồi cấu trúc các kiểu thảm thực vật tại Rừng quốc gia Yên Tử, 4 nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

  1. Phân định ranh giới và xác lập hồ sơ quản lý đất rừng: Chủ trì bởi Ban Quản lý Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử phối hợp với UBND thành phố Uông Bí, tiến hành cắm mốc ranh giới thực địa đạt 100% tại các khu vực tranh chấp giáp ranh Công ty lâm nghiệp Uông Bí (tiểu khu 36B) và khu dân cư Năm Mẫu trong thời hạn 12 tháng.
  2. Triển khai các biện pháp lâm sinh phục hồi sinh thái: Lực lượng kiểm lâm chuyên trách thực hiện phát dọn dây leo, chặt tỉa cây sâu bệnh và khống chế mật độ tre nứa (Giang, Sặt) xuống dưới 2.000 cây/ha trên toàn bộ 934,0 ha rừng phục hồi sau khai thác kiệt và 573,3 ha rừng IIIA1; tiến hành trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị cao như Lim xanh, Gụ lau, Sến mật nhằm nâng độ tàn che lên trên 0,6 trong giai đoạn 2016–2020.
  3. Bảo tồn nghiêm ngặt nguyên vị (In-situ) các loài nguy cấp: Xây dựng 4 phân khu bảo tồn nghiêm ngặt đối với quần thể Hồng tùng cổ thụ, Thông tre lá ngắn, Vù hương, Trúc Yên Tử và Mai vàng Yên Tử tại khoảnh 8 và 9 tiểu khu 32 quanh khu vực Am Hoa và chùa Hoa Yên; thực hiện giám sát diễn thế định kỳ 6 tháng/lần với sự hỗ trợ chuyên môn từ Trường Đại học Lâm nghiệp.
  4. Hỗ trợ sinh kế cộng đồng và kiểm soát du lịch bền vững: UBND xã Thượng Yên Công và xã Phương Đông phối hợp triển khai mô hình trồng trọt thảo dược bản địa (Trầu tiên, Trúc Yên Tử) dưới tán rừng cho 838 hộ dân vùng đệm; thiết lập trạm kiểm soát mùa lễ hội nhằm giảm thiểu 80% tình trạng người dân vào rừng đào bới măng mai, chặt rễ thuốc và săn bắt động vật hoang dã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Ban quản lý rừng đặc dụng và Chi cục Kiểm lâm: Ứng dụng bản đồ hiện trạng thảm thực vật và kết quả đánh giá 16 ô tiêu chuẩn để xây dựng Phương án Quản lý rừng bền vững giai đoạn 10 năm, thiết kế các phân khu chức năng (bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi sinh thái, dịch vụ hành chính).
  2. Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Sử dụng khung phương pháp định lượng sinh thái (tính toán IVI, chỉ số Shannon-Wiener, Simpson, Sorensen) và chuỗi dữ liệu thực địa 10 tuyến điều tra làm tài liệu tham khảo chuẩn mực trong phân tích cấu trúc thảm thực vật nhiệt đới.
  3. Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong và ngoài nước: Khai thác cơ sở dữ liệu về 38 loài thực vật quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam và 830 loài thực vật bậc cao có mạch để xây dựng các dự án tài trợ bảo tồn nguồn gen nguy cấp tại vùng Đông Bắc Việt Nam.
  4. Chính quyền địa phương và doanh nghiệp phát triển du lịch sinh thái: Vận dụng các đánh giá về sức chịu tải môi trường và tính nhạy cảm của thảm thực vật để quy hoạch hợp lý hạ tầng cáp treo, đường mòn hành hương và các công trình dịch vụ, ngăn ngừa suy thoái cảnh quan thiên nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Rừng quốc gia Yên Tử có những kiểu thảm thực vật đặc trưng nào? Rừng quốc gia Yên Tử gồm hai kiểu thảm thực vật chính phân theo độ cao: Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới phân bố ở đai dưới 700 m với diện tích rừng phục hồi sau khai thác kiệt chiếm 934,0 ha, và Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp phân bố từ độ cao 700 m đến 1.068 m.

Yếu tố đai cao tác động như thế nào đến độ đa dạng của thảm thực vật? Độ cao có mối quan hệ nghịch đảo với mức độ phong phú loài cây gỗ. Ở đai thấp dưới 700 m, điều kiện đất feralit sâu 30–80 cm và nhiệt độ ấm 23,4°C giúp chỉ số đa dạng Shannon-Wiener (H') đạt giá trị cao từ 2,8 đến 3,4. Lên trên 700 m, do khí hậu lạnh và đất mỏng, chỉ số H' giảm xuống còn 2,1 đến 2,5.

Những loài thực vật quý hiếm nào có nguy cơ bị đe dọa cao nhất tại khu vực? Khu rừng ghi nhận 38 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam, điển hình là quần thể cây Hồng tùng cổ thụ hàng trăm năm tuổi, Thông tre lá ngắn, Vù hương, Re hương, Lim xanh, Sến mật cùng các loài đặc hữu bản địa như Trúc Yên Tử và Trầu tiên, vốn chịu sức ép lớn từ du lịch và thu hái trái phép.

Tại sao rừng phục hồi sau khai thác kiệt có khả năng tự tái sinh hạt kém? Tại 934,0 ha rừng phục hồi kiệt, độ tàn che thấp (0,3–0,5) khiến thảm cây bụi và dây leo phủ kín 35–45%, kết hợp mật độ tre nứa xâm lấn từ 5.000 đến 7.000 cây/ha đã che khuất ánh sáng tầng mặt đất, làm hạt gỗ quý khó nảy mầm và chủ yếu chỉ tái sinh chồi từ gốc bị chặt.

Phương pháp định lượng nào đã được ứng dụng để đánh giá thảm thực vật? Nghiên cứu ứng dụng tổ hợp phương pháp định lượng sinh thái học gồm: xác định tỷ lệ tổ thành IVI% theo Daniel Marmillod, chỉ số đa dạng Shannon-Wiener (H'), chỉ số ưu thế Simpson (Cd), độ đồng đều Pielou (E) và chỉ số tương đồng Sorensen (SI), xử lý trên 16 ô tiêu chuẩn 1.000 m² và 80 ô dạng bản 25 m².

Kết luận

  • Hệ thống hóa đầy đủ 2 kiểu thảm thực vật chính và 4 kiểu phụ thứ sinh trên tổng diện tích 2.783 ha tại Rừng quốc gia Yên Tử.
  • Đánh giá định lượng chi tiết 2.064 ha rừng tự nhiên, chỉ ra trạng thái phục hồi sau khai thác kiệt chiếm tỷ lệ áp đảo 45,3% diện tích.
  • Xác định cấu trúc 5 tầng hoàn chỉnh cùng sự hiện diện của các loài cây gỗ quý đường kính trên 35 cm tại 125,0 ha rừng ít bị tác động.
  • Chứng minh quy luật phân hóa sinh thái rõ nét theo đai cao từ 50 m đến 1.068 m và sự vượt trội về độ đa dạng của sườn Đông so với sườn Tây.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh, phân định ranh giới và hỗ trợ sinh kế cho 838 hộ dân vùng đệm.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện cơ sở dữ liệu định lượng về sinh thái thảm thực vật, tạo nền tảng vững chắc cho công tác quản lý Rừng quốc gia Yên Tử sau khi chuyển đổi từ khu rừng đặc dụng. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 đến 2025, các cơ quan chức năng cần khẩn trương đưa các khuyến nghị kỹ thuật vào kế hoạch hành động hàng năm, tăng cường ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quan trắc rừng. Các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học và cộng đồng địa phương hãy cùng chung tay bảo vệ và phục hồi tài nguyên thảm thực vật Yên Tử – di sản tự nhiên và văn hóa vô giá của quốc gia.