Đặt vấn đề Bên cạnh rừng và biển thì thực vật cũng là một món quà mà thiên nhiên mang lại cho con người chúng ta. Thực vật được sử dụng với nhiều công dụng khác nhau như làm thuốc chữa bệnh, làm gia vị cho thức ăn, làm vật liệu để xây dựng…Chính vì vậy mà có rất nhiều ngành nghiên cứu đến thực vật ra đời đời tiêu biểu trong số đó phải kể đến ngành dược học y học cổ truyền, một ngành nghề đã bắt đầu phát triển từ lúc con người xuất hiện. Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học hiện đại con người không còn sử dụng các loại dược liệu một cách kinh nghiệm mà thay vào đó là sự tìm hiểu, nghiên cứu các hợp chất có chứa trong dược liệu có tác dụng sinh học. Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật.
Tác dụng kháng khuẩn do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, , ancaloid, flavonoid, saponin, [1],[2],[3]. Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất từ cây cỏ để làm thuốc. Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh. Chi hồ tiêu (Piper) thuộc họ hồ tiêu (Piperaceae) có hơn 2000 loài [4].
Lá lốt (Piper lolot C.) là một loài thuộc chi hồ tiêu (Piper) được tìm thấy hầu như ở khắp các vùng miền Việt Nam, nó có công dụng như một vị thuốc trong y học cổ truyền. Trong y học cổ truyền, lá lốt có vị nồng, hơi cay, tính ấm, công dụng ôn trung (làm ấm bụng), giảm đau lưng, đau chân, trị nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy… Chính vì có nhiều công dụng nêu ở trên nên lá lốt đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu phân lập xác định cấu trúc hoá học, đánh giá hoạt tính sinh học. Thông qua đó có thể tổng hợp nên những loại thước có giá trị sử dụng cao. Để góp phần nhỏ vào công trình nghiên cứu này, Trong khoá luận tốt nghiệp lần này tôi thực hiện nghiên cứu thành phần hoá học của cây lá lốt tác dụng ức chế vi sinh vật.
Giới thiệu về cây lá lốt (Piper CD. Nguồn gốc Cây lá lốt có nguồn gốc từ vùng Tây Ghast, Kerela của Ấn Độ được phân bố khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nơi có nhiều họ hồ tiêu (Piperaceae) sống ngoài tự nhiện. Lá lốt đã được phát hiện cách đây hơn vài ngàn năm. Sau đó đó chung được con người đem về trồng.
Lá lốt được đem đến vào Đông Dương từ thế kỉ 17 nhưng mà đến đầu thế kỉ 18 mới bắt đầu phát triển mạnh khi mà món gói thịt bầm trong lá nho để nướng có nguồn gốc ở Trung Đông, đã được đưa đến Ấn Độ bởi người Ba Tư, sau đó đã được giới thiệu bởi những người Ấn Độ đến khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, nho không phát triển tốt ở vùng khí hậu nhiệt đới, do đó, người Việt Nam bắt đầu sử dụng lá lốt thay vì lá nho. Chính món thịt nướng lá lốt này từ Việt Nam phổ biến sang nhiều nước Đông Nam Á khác. Phân bố Cây lá lốt có mặt ở nhiều nơi vùng nhiệt đới như: Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam…Ở nước ta, cây chủ yếu sinh sống mọc hoang trong rừng, nơi ẩm hay dọc quanh các bãi đất ven suối, phân bố khắp cả nước [5].
Đi cùng với sự phổ biến giá trị của nó ngày càng được nâng cao, hầu như nó có mặt trong ẩm thực đến y dược, mỹ phẩm và đã, đang dần tiến sâu vào thành phần các ngành chế biến khác…vì những đặc trưng trong thành phần hóa học của nó. Ở miền nam Việt Nam, người ta thường gọi là lá lốt hoặc tùy vào từng vùng miền mà tên gọi có sự khác nhau: tất bát, pâu pat, phjăc pat (Tày), anakhia táo, lau khuẩy (Dao). Tên tiếng Anh: Lolot, Lolot Piper, Poivrelolot. Hay tên tiếng Pháp: Cha Plu, La-lot, Lalot, Lolo du Tonkin, Poivre Lolot.
Lá lốt (Piper lolot C. Vị trí phân loại − Giới: Plantae; − Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta); − Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida); − Phân lớp: Ngọc Lan (Magnoliidae); − Bộ: Hồ tiêu (Piperales); − Họ: Hồ tiêu (Piperaceae); Chi: Hồ tiêu (Piper); Loài: Piper lolot [6]. Điều kiện sinh trưởng Cây lá lốt là một loại cây ưa khí hậu nhiệt đới, là loại cây dễ sống và chủ yếu sống tự nhiên. Nhưng do nhu cầu sửa dụng ngày càng cao của con người như dùng các vị thuốc mang tính thực vật, những sản phẩm đậm chất dân dã gắn liền với tự nhiên nên lá lốt đang được gây trồng là sản phẩm kinh tế.
Do tính chất hoang dã nên việc gây trồng không quá khó khăn ta chọn những cây lá lốt sinh trưởng mạnh (lá xanh bóng, mượt, kích thước lá to), tách từng nhánh đã mang rễ hoặc cắt thành từng đoạn dài 20– 30cm để giâm. Giâm những đoạn thân vừa cắt trực tiếp trên luống đã chuẩn bị để trồng, giâm từng hàng vào đất (ngập 3 2/3 đoạn thân vừa cắt), sau đó tưới nước nhẹ cho cây đủ ẩm. Hàng ngày tưới nước 2 lần cho cây và dùng thêm số loại phân hữu cơ vì lá lốt là loài cây ít bị bệnh hại [7, 8]. Đặc tính thực vật Lá lốt thuộc dạng cây thân cỏ, cao 30-40 cm.
Thân phồng lên ở các mấu, có vạch dọc đôi khi có màu nâu, hơi phủ lông. Lá đơn, nguyên, mọc so le, hình tim, có màu xanh đậm, mặt lá bóng. Lá có 5 gân chính tỏa ra từ cuống lá, cuống có bẹ ôm lấy thân. Phiến lá dài 6- 13 cm, rộng 5-8 cm, có 5-7 gân xuất phát từ gốc lá, cuốn lá dài 2,5 cm.
Hoa mọc từ nách lá, cụm hoa bông, hoa đực và hoa cái khác gốc. Bông cái dài 1cm màu vàng, có lông, lá bắc tròn, bầu nhẵn hình trứng, vòi nhụy chẻ 3. Quả mọng chứa một hạt. Mùa ra hoa từ tháng 8 đến tháng 10.
Thành phần hoá học 1. Nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về cây lá lốt và các loài thuộc chi Piper L. Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung về thành phần hoá học, hoạt tính kháng vi sinh vật, hoạt tính kháng viêm… thông qua những nghiên cứu này tạo nên cơ sở dữ liệu to lớn để nghiên cứu và tổng hợp hoá dược. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Năm 1896 B.
Bruke và công sự của mình đã phân lập và công bố 4 hợp chất từ trái của hai loài Piper Aduncum and Piper Hispidum gồm, 4-methoxy-3,5-bis(3’-methyl-2’-butenyl)- benzoic acid, 1-allyl-2,3-(methylenedioxy)-4,5-dimethoxybenzene 5-hydroxy-7- methoxyflavanone và 2,6-dihydroxy-4-methoxydihydrochalcone. 1-Allyl-2,3-(methylenedioxy)-4,5-dimethoxybenzene 4 4-methoxy-3,5-bis(3’-methyl-2’-butenyl)-benzoic acid Năm 1987 Stephen A. Ampofo và các cộng sự đã phân lập và công bố ba cấu trúc mới nhóm phenolic từ loài Piper Auritum. Ba hợp chất được công bố gồm Piperoic acid, Piperochromanic acid, 4-Hydroxy-5-(E,E-farnesyl)benzoic acid [10].
Piperochromanic acid Piperoic acid 4-Hydroxy-5-(E,E-farnesyl)benzoic acid Năm 1988 Sanjay J. Desai cùng các cộng sự của mình đã cô lập và công bố được 9 hợp chất từ rể của loài Piper longgum, các hợp chất lần lượt là Cepharadione B, Cepharadione A, Cepharanone B, Norcepharadione B, Aristolactam AII, 2-hydroxy-1- methoxyl-4H-dibenzo [de,g]quinolone-4,5(6H)-dione, Piperadione, Piperolactam A, Piperolactam B,. Trong đó 3 hợp chất gồm Piperolactam A, Piperolactam B, Piperadione là cấu trúc mới [11]. 5 Piperolactam A Piperolactam B Piperadione Năm 1988 S.
Koul và các công sự của ông đã phân lập và công bố được 3 cấu trúc mới từ loài Piper Species gồm Brachyamide A, Brachyamide B, Brachystine [12]. Brachyamide A Brachyamide B Brachystine Năm 1996 Sanjay K. Singh và các cộng sự của ông đã phân lập và công bố 23 hợp chất từ thân của loài Piper Argyrophylum. Trong đó có 13 hợp chất thuộc loại alkaloid và 9 hợp chất thuộc loại neoligan và một cấu trúc neoligan mới [13].
6 4-(2-piperonyl-2-hydroxy-1-methylethyl-2,5-dimethoxy-2-(2-propenyl)-3,5- cyclohexadien-1-one Năm 2000 Craig D. Dodson và các cộng sự của ông đã phân lập và công bố 4 hợp chất từ loài Piper cenocladum gồm dihydropyridone alkaloid, cenocladamide, một dẫn xuất của piplartine, 4’-desmethylpiplartine. Trong đó hai cấu trúc mới là cenocladamide và 4’- desmethylpiplartine [14]. 4’-desmethylpiplartine Cenocladamide Năm 2008 Ninoska Flores và các cộng sự của ông đã phân lập và công bố 13 hợp chất thuộc loại Benzoic acid từ loài Piper Species tròng đó có 9 cấu trúc mới chưa được công bố trước đó [15].
N-(3’,4’,5’-trimethoxy-cis-cinnamoyl) pyrrolidine Năm 2011 Candy Tuiz và các cộng sự đã phân lập và công bố 4 hợp chất gồm N-2- (3 ,4 ,5’-trimethoxyphenyl)-2-hydroxybenzamide,2’-hydroxy-3’,4’,6’-trimethoxyphenyl- ’ ’ chalcon, cardamonin, Pinocembrin. Từ loài Piper hispidum [17]. Chaplupyrrolidones A Chaplupyrrolidones B N-(3’,4’,5’-trimethoxy-cis-cinnamoyl) pyrrolidine 1. Nghiên cứu trong nước Năm 1995 Nguyễn xuân Dũng và các cộng sự của mình đã chưng cất để thu được tinh dầu từ các bộ phận trên cây lá lốt.
Kết quả chỉ ra 𝛽-caryophyllene là thành chủ yếu của tinh dầu lá lốt. Tính dầu ở thân cho hàm lượng 𝛽-caryophyllene cao nhất 30.9%, tiếp theo là 27.1% tương ứng với ở lá và ở rễ. Ngoài thành phần chình là 𝛽-caryophyllene tinh dầu của cây lá lốt còn chứa 𝛼-muurolene, 𝛾-cadinene và caryophyllene oxide [19]. Năm 2013 Đặng Thị Thanh Nhàn tiến hành đo GC-MS cho dịch chiết cây lá lốt với dung môi n-Hexan từ cao methanol ở tỉnh Thừa Thiên Huế có 18 cấu tử.
Trong đó có 5 cấu tử chiếm hàm lượng cao hơn 8% [20]. Các hợp chất có thể có trong dịch chiết lá lốt Công thức Tên gọi Công thức cấu tạo phân tử 𝛽-asaron C12H16O3 Guineesine C24H33NO3 Caryophyllene C15H24 Isobutyl metyl cacbinol (4- C6H14O Methyl-2- pentanol) Metyl hidrocinamat C10H12O2 (Methyl 3- phenylpropionate) Brachystamide B C26H37NO3 10 1-Allyl-2,6- dimethoxy-3,4 C12H14O4 methylene- dioxybenzene Pellitorine C14H25NO 1. Công dụng Bộ phận thường dùng là toàn thân và lá. Lá lốt được sử dụng để ăn sống như là các loại rau mùi hoặc là dùng làm rau, gia vị nêm trong nhiều món ăn như: ốc, lươn, ếch… vì đặc tính của lá có mùi thơm, nồng cay nên dùng lá lốt trong các món ăn để khử mùi tanh và chống được dị ứng.
Ngoài các món có vị tanh thì lá lốt cũng dùng ăn kèm với các loại thịt nhằm tăng hương vị của món ăn [5], [6], [21]. Ngoài ra, lá lốt và thân cây đều là vị thuốc, thường dùng tươi hay phơi khô. Lá lốt có vị cay thơm, tính ấm, làm tan hơi lạnh giúp tiêu hóa tốt, trị bệnh tê thấp, đau cơ, đau thắt ngực, nôn mửa, nhức đầu, bụng đầy hơi, đau bụng, đau nhức răng [21],… 1. Hoạt tính sinh học 1.
Hoạt tính kháng khuẩn Năm 2011 Huỳnh Kim Diệu và Nguyễn Thành Văn đã thu thập 30 mẫu là lốt từ các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ để thực hiện thử hoạt tính kháng khuẩn trên 8 chủng vi khuẩn gồm Salmonella spp, Streptococcus faecalis, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli Aeromonas hydrophila, Edwardsiella ictaluri tarda và Edwardsiella ictaluri.