Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài lá kim pinus dalatensis pinus kesiya và podocarpus neriifolius ở việt nam

Luận án tiến sĩ hóa học khám phá thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của lá kim Pinus dalatensis, Pinus kesiya, Podocarpus neriifolius tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Hóa hữu cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

137
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1.1. Tổng quan về các loài nghiên cứu

1.2. Thông tre lá dài dài (Podocarpus neriifolius)

1.3. Tình hình nghiên cứu về hóa học một số loài thuộc chi Pinus

1.4. Nghiên cứu về thành phần tinh dầu từ chi Pinus

1.5. Các hợp chất terpenoid từ chi Pinus

1.6. Các hợp chất flavonoid từ chi Pinus

1.7. Các hợp chất lignan từ chi Pinus

1.8. Các hợp chất khác từ chi Pinus

1.9. Một số nghiên cứu về thành phần hóa học của Thông ba lá

1.10. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của các chất phân lập từ các loài thuộc chi Pinus

1.10.1. Hoạt tính kháng viêm và giảm đau

1.10.2. Hoạt tính ức chế các khối u và kháng ung thư

1.10.3. Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm

1.10.4. Hoạt tính chống oxi hóa

1.10.5. Hoạt tính kháng virus và một số hoạt tính khác

1.11. Tình hình nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học một số loài thuộc chi Podocarpus

1.12. Tình hình nghiên cứu về hóa học của loài thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius)

1.13. Thu hái mẫu cây và xác định tên khoa học

1.14. Phương pháp xử lý và chiết mẫu

1.15. Phương pháp khảo sát, phân tách và tinh chế các hợp chất từ mẫu thực vật

1.16. Phương pháp xác định cấu trúc

1.17. Phương pháp thử một số hoạt tính sinh học

1.18. Hóa chất và thiết bị

1.19. Quy trình chiết và thu các chiết xuất từ các loài thực vật nghiên cứu

1.20. Phân lập chất từ các chiết xuất

1.20.1. Phân lập các chất từ chiết xuất ethyl acetate của gỗ Thông đà lạt

1.20.2. Phân lập các chất từ chiết xuất n-butanol của gỗ Thông đà lạt

1.20.3. Phân lập các chất từ chiết xuất n-hexane của lá Thông đà lạt

1.20.4. Phân lập các chất từ chiết xuất ethyl acetate của lá Thông đà lạt

1.20.5. Phân lập các chất từ chiết xuất ethyl acetate của rễ Thông ba lá

1.20.6. Phân lập các chất từ chiết xuất ethyl acetate của gỗ Thông tre lá dài

1.21. Dữ kiện phổ của các chất tách được

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

2.1. Các chất được phân lập từ Thông đà lạt (Pinus dalatensis)

2.1.1. Chất TT1: Caryolane-1β,9β-diol

2.1.2. Hỗn hợp TT2

2.1.3. Chất TT3: 15-Methoxypinusolidic acid

2.1.4. Chất TT4: Lambertianic acid

2.1.5. Chất TT5: 8(17), 13-ent-Labdadien-15→16-lactone-19-oic acid

2.1.6. Chất TT6: Isopimaric acid

2.1.7. Chất TT12: 3β-Hydroxy-14-serraten-21-one

2.1.8. Chất TF1: Pinocembrin

2.1.9. Chất TF2: Chrysin

2.1.10. Chất TF3: Pinostrobin

2.1.11. Chất TF4: (+) Catechin

2.1.12. Chất TF5: Kaempferol

2.1.13. Chất TF7: Kaempferol 3-O-(3′′,6′′-di-O-E-p-coumaroyl)-β-D-glucopyrano-side

2.1.14. Chất TP1: Dihydropinosylvin

2.1.15. Chất TP2: Dihydropinosylvin 5-methyl ether

2.1.16. Chất TP3: 3-Hydroxy-5-methoxystilbene

2.1.17. Hỗn hợp TP5

2.1.18. Chất TP6: Vanillic acid 4-(-β-D-glucopyranoside)

2.1.19. Chất TL1: (+) Lariciresinol

2.1.20. Chất TL3: Cedrusin-4-O-β-D-glucopyranoside

2.1.21. Chất TS1: β-Sitosterol

2.1.22. Chất TS2: Daucosterol

2.2. Các chất được phân lập từ Thông ba lá (Pinus kesiya)

2.2.1. Chất TT11: 7-Oxo-15-hydroxydehydroabietic acid

2.2.2. Chất TF6: 3′-O-Methylcatechin 7-O-β-D-glucopyranoside

2.2.3. Chất TP4: Resveratrol-3-O-β-D-glucoside

2.2.4. Chất TP7: 3,4-Dimethoxyphenyl 2-O-(3-O-methyl-α-L-rhamnopyranosyl)-β-D-glucopyranoside

2.2.5. Chất TL2: Cedrusin

2.3. Các chất được phân lập từ Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius)

2.3.1. Chất TT7: Totarol

2.3.2. Chất TT8: Totarol-19-carboxylic acid

2.3.3. Chất TT9: Inumakiol D

2.3.4. Chất TT10: Macrophyllic acid

2.4. Hoạt tính sinh học của một số chất sạch

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH SÁCH CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thành phần hóa học của lá kim Pinus Dalatensis Pinus Kesiya và Podocarpus Neriifolius

Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích thành phần hóa học của ba loài lá kim: Pinus Dalatensis, Pinus KesiyaPodocarpus Neriifolius. Các phương pháp chiết xuất và phân tách được sử dụng để xác định các hợp chất chính, bao gồm terpenoid, flavonoid và lignan. Kết quả cho thấy sự đa dạng hóa học cao, đặc biệt là các hợp chất terpenoid và flavonoid, có tiềm năng ứng dụng trong dược liệu.

1.1. Phương pháp chiết xuất và phân tách

Quy trình chiết xuất bao gồm sử dụng các dung môi như ethyl acetate, n-butanol và n-hexane. Các phương pháp sắc ký cột và sắc ký bản mỏng được áp dụng để phân tách các hợp chất. Kết quả phân tích phổ NMR và MS giúp xác định cấu trúc của các hợp chất.

1.2. Các hợp chất chính được phân lập

Các hợp chất chính bao gồm Caryolane-1β,9β-diol, Pinocembrin, và Totarol. Những hợp chất này có cấu trúc hóa học đặc trưng và được nghiên cứu kỹ lưỡng về tính chất hóa học và sinh học.

II. Hoạt tính sinh học của các hợp chất từ lá kim

Nghiên cứu đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập từ ba loài lá kim. Các thử nghiệm bao gồm khả năng kháng viêm, kháng khuẩn, chống oxy hóa và ức chế tế bào ung thư. Kết quả cho thấy nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh, đặc biệt là khả năng ức chế tế bào ung thư và kháng khuẩn.

2.1. Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm

Các hợp chất như Pinocembrin và Totarol thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Hoạt tính kháng nấm cũng được ghi nhận đối với một số loại nấm gây bệnh.

2.2. Hoạt tính ức chế tế bào ung thư

Các hợp chất như Caryolane-1β,9β-diol và Totarol cho thấy khả năng ức chế sự phát triển của các dòng tế bào ung thư như MCF-7 và Hep-G2. Điều này mở ra tiềm năng ứng dụng trong điều trị ung thư.

III. Ứng dụng và bảo tồn thực vật

Nghiên cứu không chỉ tập trung vào việc khám phá thành phần hóa họchoạt tính sinh học mà còn đề cập đến vấn đề bảo tồn thực vật. Các loài lá kim như Pinus DalatensisPodocarpus Neriifolius đang đối mặt với nguy cơ suy giảm do khai thác quá mức và biến đổi khí hậu.

3.1. Giá trị dược liệu và ứng dụng

Các hợp chất từ lá kim có tiềm năng lớn trong việc phát triển các loại thuốc mới, đặc biệt là trong điều trị ung thư và các bệnh viêm nhiễm. Nghiên cứu này góp phần vào việc khai thác bền vững nguồn dược liệu từ thực vật.

3.2. Chiến lược bảo tồn

Đề xuất các biện pháp bảo tồn như xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, hạn chế khai thác quá mức và nghiên cứu nhân giống các loài lá kim quý hiếm. Điều này đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các loài thực vật có giá trị cao.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài lá kim pinus dalatensis pinus kesiya và podocarpus neriifolius ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ngày nay, đi đôi với sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của xã hội loài người là nhiều vấn đề nghiêm trọng mà cả thế giới đang phải đối mặt. Trong tám mục tiêu thiên niên kỷ mà nhân loại cố gắng đạt được trong thế kỷ 21 (gọi tắt là MDGs từ tiếng Anh: Millennium Development Goals), thì vấn đề có liên quan tới sức khỏe của con người là một trong số mục tiêu được đặt lên hàng đầu. Rõ ràng, biến đổi khí hậu đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu cùng với sự ô nhiễm ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng và vấn đề thực phẩm bẩn đã và đang gây ra những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến sức khỏe của con người nói riêng và sự sống của toàn thể sinh vật trên trái đất nói chung. Cụ thể là, gần đây nhân loại luôn phải đối mặt với những dịch bệnh nguy hiểm và có khả năng lan rộng thành đại dịch ở quy mô toàn cầu.

Có thể lấy một số ví dụ điển hình như HIV/AIDS, các loại ung thư, các loại bệnh viêm nhiễm, các loại cúm virus, bệnh do virus Ebola, các biến chứng do nhiễm virus Zika, tim mạch, đái tháo đường, vv. Việc tìm ra phương pháp hiệu quả để điều trị các bệnh này là vấn đề vô cùng khó khăn, nó đặt ra nhiều thách thức lớn cho các nhà khoa học. Trước thực trạng đó, một trong những con đường hữu hiệu để phát hiện ra các chất có hoạt tính tiềm năng có thể phát triển thành thuốc mới chữa bệnh cho người, vật nuôi và cây trồng là đi từ các hợp chất thiên nhiên. Và như thế, người ta có thể sử dụng các hợp chất có nguồn gốc thiên nhiên một cách trực tiếp để làm thuốc, hoặc sử dụng chúng làm chất dẫn đường để nghiên cứu tổng hợp các loại thuốc mới.

Việt Nam là nước có khí hậu và địa hình rất đa dạng, gồm có bốn miền khí hậu chủ yếu: khí hậu phía Bắc, phía Nam, Trung và nam Trung bộ, khí hậu Biển Đông. Việt nam với trên 3000 km bờ biển và 4/5 diện tích là đồi núi. Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu như trên đã tạo ra thảm thực vật có đa dạng sinh học cao. Theo những nghiên cứu mới đây ở Việt Nam có hơn 11.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm, hơn 2000 loài tảo, 537 loài vi tảo, 667 loài rong biển và 15 loài cỏ biển, trong đó nhiều loài được dùng làm thuốc [1].

Trong thảm thực vật phong phú và đa dạng ấy, các loài cây lá kim là những cây rừng quan trọng cả về sinh thái, kinh tế, thương mại và văn hóa. Ngoài nguồn cung cấp gỗ, tinh dầu thông còn là nguyên liệu chính trong nhiều ngành công nghiệp (công nghiệp sơn, công 1 nghiệp chất béo, vv.), một số loài Thông còn được dùng là vị thuốc dân tộc. Thông còn là môi trường của nhiều loài nấm nội kí sinh, Taxol® (paclitaxel) là thuốc chống ung thư được cho là tốt nhất hiện nay được phát hiện từ loài thông đỏ ở châu Âu. Cũng như các chi khác trong bộ Thông (Pinales), nhiều loài trong chi Pinus L.

(Pinaceae) và chi Podocarpus L'Hér. (Podocarpaceae) từ lâu đã gắn bó với đời sống hằng ngày của người dân và cũng được sử dụng trong y học cổ truyền để trị nhiều loại bệnh khác nhau. Trong khi đó, tính tới thời điểm này (2017) tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu nghiên cứu về mặt hóa học cũng như hoạt tính sinh học của trên một trăm loài Pinus và khoảng tám mươi loài Podocarpus nhưng vẫn còn có nhiều loài trong hai chi này hầu như chưa được nghiên cứu hoặc mới chỉ có những nghiên cứu bước đầu. Trong đó, loài Thông đà lạt (Pinus dalatensis Ferré) là một loài gần như đặc hữu của Việt Nam và chưa được nghiên cứu về mặt hóa học; Thông ba lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon) và loài Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius D.

Don) trên thế giới mới chỉ có một vài nghiên cứu nên việc nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của ba loài này là rất cần thiết, nhằm góp phần tạo cơ sở để hướng đến nghiên cứu khai thác và sử dụng sau này. Chính vì lý do trên, mục tiêu của các nghiên cứu trong luận án này là: 1. Nghiên cứu thành phần hóa học của ba loài lá kim: Thông đà lạt (P. dalatensis), Thông ba lá (P.

kesiya) và Thông tre lá dài (P. Thử nghiệm một số hoạt tính sinh học của các chất sạch tách ra từ các loài trên để tìm kiếm các hoạt chất tiềm năng có thể ứng dụng vào cuộc sống. Tổng quan về các loài nghiên cứu 1. Thông đà lạt (Pinus dalatensis Ferré) Thông đà lạt (Pinus dalatensis Ferré), tên đồng nghĩa: Pinus wallichiana A.

Đây là một loài thông năm lá gần đặc hữu của Việt Nam, cây phân bố chủ yếu ở Đà Lạt và một số vùng lân cận, ngoài ra một số ít được tìm thấy ở Quảng Nam, Quảng Bình và biên giới Việt-Lào. Cây mọc trong rừng rậm, trên núi trung bình, ở độ cao 1500-2000 m. Cây gỗ to, cao đến hơn 30 m và đường kính thân 0. Gỗ không bị mối mọt, được sử dụng trong xây dựng, làm đồ gỗ gia dụng và mỹ nghệ.

Đến nay, chưa có công bố nào ở Việt Nam cũng như trên thế giới về thành phầ n hóa ho ̣c và hoa ̣t tính sinh học của loài này. Hình chụp cây Thông đà lạt (1), tiêu bản cành mang lá và quả (2), quả (3) (Tiêu bản số VNMN.B000005006 bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, VAST) 1. Thông ba lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon) Thông ba lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon; tên đồng nghĩa: Pinus langbianensis A., Pinus insularis var.) Silba, Pinus yunnanensis Franch.) là một loài lá kim thuộc họ Thông (Pinaceae). Trên thế giới, cây phân bố ở Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam và Philippines.

Ở Việt Nam, thông ba lá lần đầu được phát hiện ở cao nguyên Langbiang, đó là loài có diện tích lớn nhất trong số các loài thông ở Việt Nam, phân bố ở Hà Giang, Sơn La, Gia Lai, Kon Tum,. nhưng nhiều nhất (90% diện tích) là trên cao 3 nguyên Langbiang. Lá cây hình kim, thường đính ba lá kim trên một đầu cành ngắn, thường có màu xanh ngọc, mỗi lá kim thường dài 20-25 cm. Đầu cành ngắn đính lá thường có độ dài 1.5 cm, đính cách vòng xoắn ốc trên cành lớn [3].

Cây thường được trồng để lấy gỗ phục vụ cho công nghiệp giấy, ngành xây dựng và mỹ nghệ. Đến nay, chỉ mới có vài công bố về thành phần hóa học và hoạt tính của tinh dầu từ loài này. Hình chụp quần thể cây (1) rễ (2) và lá (3) của thông ba lá (Tiêu bản số VNMN.B000005007 bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, VAST) 1. Thông tre lá dài dài (Podocarpus neriifolius D.

Hình chụp mẫu gỗ (1), tiêu bản lá (2) của Thông tre lá dài (Tiêu bản số VNMN.B0000050013 bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, VAST) Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius D. Don) là một loài thực vật họ Thông tre 4 (Podocarpaceae). Ở Việt Nam, cây mọc rải rác trong rừng nguyên sinh các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, ĐakLak, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Kiên Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Yên Bái, Tuyên Quang. và mọc ở độ cao 2300 m ở Vườn quốc gia Bì Đúp - Núi Bà thuộc tỉnh Lâm Đồng.

Cây gỗ cao 20–25 m, đường kính có thể tới 50 cm, thân thẳng, tròn. Vỏ xám nâu, mỏng, nhẵn. Cành lá mọc vòng, màu xanh non hoặc xanh vàng. Lá mọc cách, hình mác dài, đầu nhọn dần, dài 7–15 cm, rộng 0.9 cm, đầu và đuôi nhọn, đầu mặt trên xanh bóng, mặt dưới xanh vàng.

Gân chính nổi ở giữa rõ cả 2 mặt, mép lá cong xuống phía dưới.5 cm, phía dưới có rãnh. Nón đực dạng bông không cuống, thường 3 bông mọc chụm ở nách lá gần đầu cành, khi non hình trứng, khi già hình trụ dài 2–5 cm. Nón cái mọc lẻ ở nách lá, chỉ có một lá noãn phát triển mang một noãn, các lá noãn khác hợp thành đế. Nón hình trứng dài 1.6 cm, đường kính 0.8–12 cm, đế mập to gần bằng nón, có cuống dài 0.

Có 2 lá bắc sớm rụng, dài 1,5 cm, rộng 1 cm. Hạt hình trứng, dài 1,2–1.1 cm, dưới có đế mập, đường kính gần bằng đường kính hạt, quả màu tím [6]. Tình hình nghiên cứu về hóa học một số loài thuộc chi Pinus Về thành phần hóa học thì hầu hết các loài lá kim đều có chứa tinh dầu. Bên cạnh đó, theo thống kê trên thế giới đến nay đã có trên 450 hợp chất được phân lập từ trên một trăm loài thuộc chi Pinus, bao gồm các hợp chất carbohydrate, cyclitol, acid béo, terpenoid, phổ biến nhất là diterpene có khung carbon rất đa dạng như: cembrane pimarane, labdane và abietane; triterpene khung seratane và lanostane, lignan, steroid, các phenol, flavonoid và flavonoid glycoside [7].

Nghiên cứu về thành phần tinh dầu từ chi Pinus Hầu hết các loài trong chi Pinus đều có tinh dầu, có rất nhiều nghiên cứu trong vòng 40 năm trở lại đây chỉ ra rằng thành phần chính của có trong dầu thông của nhiều loài thuộc chi Pinus có chứa chủ yếu là các hợp chất terpenoid như: sesquiterpenoid và monoterpe- noid; trong đó thường hay gặp với hàm lượng cao là các chất α-pinene (1) và β-pinene (2), camphene (3), α-myrcene (4), β-myrcene (5) α-terpineol (6), limonene (7) và α-terpinene (8) [8, 9, 10, 11, 12]; các sesquiterpenoid thường thấy nhất là longifolene (9), caryo- phyllene (10) và germacrene D (11) [10, 11]. Ngoài ra, theo một nghiên cứu gần đây vào 5 2014 về thành phần tinh dầu của loài P. nigra, người ta đã nhận thấy sự có mặt lượng lớn các nhóm chất oxygen–diterpene và sesquiterpene [13]. Trong một công bố vào năm 2015 của Zhouqi Li và các cộng sự, ngoài α-pinene (1) còn tìm thấy thêm hàm lượng β- caryophellen (12) tương đối cao trong tinh dầu ở sáu loài thuộc chi Pinus bản địa ở Trung Quốc [14].

Các hợp chất terpenoid từ chi Pinus Các triterpenoid được tìm thấy trong chi Pinus chủ yếu có khung seratane và lanostane. Trong một công bố vào năm 1991, từ vỏ loài thông trắng Trung Quốc P. armandii các nhà khoa học đã tách ra được các chất (13-22) có khung seratane [15]. Từ các loài thông trắng miền Tây ở Bắc Mỹ là P.

monticola, và loài thông Luchu P. luchuensis đã tách được tám triterpenoid khung seratane (23-30) trong các công bố vào năm 1984, 1975 và 2001 [16, 17, 18]. Ngoài ra, các seratane triterpenoid kể trên cũng được tìm thấy từ các loài P. Các lanostane triterpenoid được tìm thấy chủ yếu từ loài P.

Cụ thể là, năm 1981, mười chất (31-40) đã được phân lập từ loài P.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của lá kim Pinus Dalatensis, Pinus Kesiya và Podocarpus Neriifolius tại Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các hợp chất hóa học và tiềm năng sinh học của ba loài thực vật quý hiếm tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về cấu trúc hóa học mà còn đánh giá các hoạt tính sinh học như kháng khuẩn, chống oxy hóa, và khả năng ứng dụng trong y học. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, và chuyên gia trong lĩnh vực hóa học và dược liệu.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, một nghiên cứu về hợp chất hóa học và tác động sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi cung cấp góc nhìn về phân tích hóa học trong môi trường. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông gianh tỉnh quảng bình là một tài liệu bổ sung về ứng dụng hóa học trong đánh giá môi trường.