MỞ ĐẦU Thời xa xưa, cây thuốc giữ vai trò trọng yếu trong việc duy trì sức khỏe của loài người. Ngày nay, con người vẫn tiếp tục dựa vào dược tính của các loại thảo mộc để bào chế các loại thuốc. Một số lượng lớn loài thực vật trên thế giới được dùng để phòng ngừa và chữa trị bệnh tật do chúng có chứa các thành phần hoạt chất có tác dụng sinh học đối với cơ thể con người. Các loài thực vật này thường được sử dụng dưới dạng các bài thuốc đông y với nhiều công dụng mà thuốc Tây y không có được.
Thành phần hóa học của các loài thực vật thường rất đa dạng và có mối quan hệ tương tác phức tạp với nhau. Cách thức tác động của một loại thảo dược nào đó trong cơ thể con người vẫn còn chưa được làm sáng tỏ ngay cả khi chúng ta biết rõ về tác dụng chữa bệnh của nó. Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu thành phần hóa học để hiểu rõ nguồn gốc hoạt tính của các loại thảo mộc chữa bệnh có vai trò rất quan trọng trong việc bào chế ra các loại thuốc đạt hiệu quả tốt nhất. Sự hiểu biết về những thành phần hóa học của các loài thực vật sẽ là cơ sở cho chúng ta hiểu được cơ chế hoạt động của chúng bên trong cơ thể con người.
Ở Việt Nam, việc sử dụng các loài thực vật trong tự nhiên để phòng và điều trị bệnh tật đã tạo nên ngành y học cổ truyền dân tộc gọi là Đông y. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa các vị thuốc này trong Đông y chủ yếu dựa trên các kinh nghiệm dân gian. Việt Nam là một trong những nước có một hệ thực vật đa dạng và phong phú. Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý báu của đất nước có tác dụng lớn đối với sức khỏe của con người đồng thời mở ra tiềm năng trong nghiên cứu về các hợp chất thiên nhiên có nguồn gốc từ thực vật của Việt Nam.
Cho đến nay, còn rất nhiều loài thực vật của Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu hoặc được nghiên cứu chưa đầy đủ về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Cây Biến hoa sông hằng - Asystasia gangetica (L. Anderson là một trong những loài cây như vậy. Cây Biến hoa sông hằng được trồng làm rau ăn với tên gọi “Rau ngót Nhật”.
Những năm gần đây, cùng với phong trao “Hãy để thức ăn là thuốc, đừng biến thuốc thành thức ăn”, cây Rau ngót nhật đã được sử dụng nhiều ở Hà Nội và một số tỉnh, thành phố khác. Trong đông y, cây Biến hoa sông hằng được đánh giá có nhiều tác dụng như thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, cầm huyết, nhuận tràng,. Tuy có 1 nhiều công dụng và khá phổ biến nhưng cho đến nay, ở Việt Nam, các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của loài cây này vẫn còn rất hạn chế. Từ những lý do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học của loài Biến hoa sông hằng (Asystasia gangetica (L.
Nghiên cứu này sẽ góp phần làm rõ một số thành phần hóa học có trong loài Biến hoa sông hằng (A. gangetica) và đánh giá một số hoạt tính sinh học của loài cây này, từ đó có định hướng cho việc trồng và sử dụng loài cây này có hiệu quả hơn. Mục tiêu của đề tài bao gồm: - Phân lập và xác định cấu trúc hóa học của một số hợp chất từ loài Biến hoa sông hằng (A. gangetica); - Khảo sát được một số hoạt tính sinh học của các cao chiết phân đoạn từ phần trên mặt đất loài Biến hoa sông hằng.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. GIỚI THIỆU VỀ LOÀI BIẾN HOA SÔNG HẰNG (Asystasia gangetica (L. Anderason) Bộ: Lamiales Họ: Acanthaceae Chi: Asystasia 1. Đặc điểm thực vật Cây thảo, cao 0.5 m; thân 4 cạnh, có lông tơ dày.
Lá hình trứng đến hình bầu dục, nhẵn hoặc có lông tơ dày đặc biệt dọc gân, mặt trên lá nhiều nang thạch nổi rõ; cuống lá dài 3-5 mm, có lông tơ thưa. Cụm hoa hình chùm ở nách lá hoặc đầu cành, dài đến 15 cm; lá bắc hình tam giác, cỡ 5 mm, có lông tơ dày. Cuống hoa dài 2-3 mm, lông tơ dày. Đài dài 7 mm; thùy đài hình đường-hình mác, cỡ 5-6 x 1 mm.
Tràng hoa hình chuông, cỡ 3-3.5 cm, màu vàng, trắng hoặc tím nhạt, mặt ngoài có lông tuyến, mặt trong nhẵn; gốc ống tràng hình trụ, dài cỡ 3 mm, rộng 8 mm sau đó mở rộng ra; miệng tràng 5 thùy; thùy tràng hình trứng ngược hoặc hình bán nguyệt; thùy giữa môi dưới có đốm tím hoặc đốm khác màu. Nhị không thò ra khỏi ống tràng; chỉ nhị nhẵn, cặp nhị dài cỡ 5 mm, cặp nhị ngắn hơn cỡ 3 mm. Bầu hình bầu dục, cỡ 3.5 mm; vòi nhụy dài 1.8 cm, có lông tơ dày; núm nhụy hình đầu, 2 thùy. Quả nang, dài cỡ 2 cm, hình chùy, lông tơ thưa.
Hạt gần như hình trứng ngược hoặc tròn, cỡ 3-4 x 1-3 mm, bề mặt mạng lưới[1, 2]. Cây Biến hoa sông hằng (Asystasia gangetica (L. Anderson) Phân bố: Hà Nội (Ba Vì), Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An (Vinh), Thừa Thiên – Huế, Kon Tum, Khánh Hòa (Nha Trang), Đồng Nai (Biên Hòa), Long An. Còn 3 có ở Trung Quốc (Vân Nam), Ấn Độ, Lào, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Australia và Châu Phi.
Cây trồng nhiều ở Việt Nam; có thể có nhiều màu sắc khác nhau từ trắng, vàng nhạt đến tím. Sinh thái: Mùa hoa tháng 9 đến tháng 1 năm sau, có quả tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Cây ưa sáng mọc ven đường, bờ rào. Bộ phận dùng, tính vị 1.
Bộ phận dùng Toàn bộ phần trên mặt đất. Tính vị, quy kinh Có tác dụng trừ giun, tiêu sưng, trừ thấp. Tác dụng dược lý Ở Ấn Độ, dịch lá được dùng làm thuốc trừ giun và dùng xoa để trị sưng viêm và đau thấp khớp. Ở Vân Nam (Trung Quốc), toàn cây dùng trị đòn ngã tổn thương và gãy xương.
Trong đông y, cây Biến hoa sông hằng được đánh giá có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết hoá ứ, lợi tiểu. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA LOÀI BIẾN HOA SÔNG HẰNG (Asystasia gangetica (L. Các công trình nghiên cứu trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về thành phần hóa học Cây Biến hoa sông hằng (A.
gangetica) còn chưa được nghiên cứu nhiều về thành phần hóa học cả trên thế giới và ở Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây cho biết cây A. gangetica đa dạng về thành phần hóa học. Năm 2007, Kanchanapoom và Ruchirawat đã phân lập từ phần trên mặt đất của cây A.
gangetica tám hợp chất bao gồm 5,11-epoxymegastigmane glucoside (asysgangoside) (1), (6S,9R)-roseoside (2), benzyl -D-glucopyranoside (3), salidroside (4), ajugol (5), apigenin 7-O--D-glucopyranoside (6), apigenin 7-O- neohesperidoside (7), và apigenin 7-O--D-glucopyranosyl (16)- -D- glucopyranoside (8)[3]. 4 Năm 2011, tinh dầu từ các bộ phận trên mặt đất, hạt và rễ của cây A. gangetica đã được Moronkola và cộng sự phân tích bằng phương pháp sắc ký khí và sắc ký khí kết hợp với khối phổ. Năm mươi tư hợp chất đã được phân lập trong tinh dầu từ phần trên mặt đất, 21 hợp chất trong tinh dầu hạt và 15 hợp chất trong tinh dầu rễ, tương ứng với 96,80%, 65,11% và 78,50% lượng dầu trong mỗi loại.
Tinh dầu từ phần trên mặt đất chiếm ưu thế bởi phthalate (39,00%), cycloalkane (28,23%) và hợp chất thơm (17,14%), trong đó các hợp chất chiếm ưu thế là toluene (9,12%), methylcyclohexane (9,02%) và bisisodecyloctylphthalate (6,05%). Các thành phần khác là alkane phân nhánh (6,13%) và alkane mạch thẳng (3,24%), ester (1,71%), alcohol (0,72%), acid (0,36%), hợp chất dị vòng (0,27%), ketone (0,18%) và terpenoid (0,09%). Trong tinh dầu hạt, nhóm có hàm lượng lớn nhất là phthalate (24,67%), alcohol (16,28%) và alkane mạch thẳng (8,56%), với dinonylphthalate (9,40%), 1-octenol (8,05%) và methylcyclohexane (6,04%) là các thành phần quan trọng nhất. Ngoài ra, nó còn chứa xycloalkane (6,04%), hợp chất thơm (5,03%), terpenoid (4,03%), ester (3,02%), acid (1,01%), amide (1,01%) và alkane phân nhánh (0,50%).
Trong tinh dầu rễ có alcohol (27,32%), alkane mạch thẳng (23,61%) và aldehyde (15,91%) là đáng chú ý nhất, trong đó các hợp chất chiếm ưu thế là abietal (11,67%), n-tetracosan (10,08%) và palustrol (9,02%). Nó cũng có chứa phthalate (5,83%), hợp chất thơm (5,83%) và xycloalkane (4,24%). Các dẫn xuất của phthalate đều có mặt trong cả ba loại tinh dầu. Không có aldehyde trong 5 tinh dầu từ phần trên mặt đất; không có ketone và aldehyde trong tinh dầu hạt; không có terpenoid, ester, ketone, acid và các hợp chất dị vòng trong tinh dầu rễ.
Đáng chú ý là lượng thấp terpenoid phổ biến trong tinh dầu hạt và phần trên mặt đất nhưng không có trong tinh dầu rễ. Hợp chất không no và ether không có trong thành phần các tinh dầu[4]. Cũng năm 2011, Hamid và cộng sự đã sàng lọc sơ bộ hóa thực vật của dịch chiết n-hexane, ethyl acetate và methanol từ toàn bộ cây A. Kết quả cho thấy, dịch chiết n-hexane có chứa đường khử, steroid, glycoside, flavonoid và anthraquinon, trong khi saponin, tannin và alkaloid không có trong dịch chiết này.
Dịch chiết ethyl acetate và methanol có saponin, đường khử, steroid, glycoside, flavonoid và anthraquinon, trong khi tannin và alkaloid không có trong cả hai dịch chiết[5]. Cũng trong năm 2011, Senthamilselvi và cộng sự đã xác định được sự có mặt một hợp chất biflavone glycoside chưa từng được phân lập trước đó là apigenin 7- O-glucosyl(3′6)luteolin 7-O-glucoside (9) từ cao chiết ethyl acetate của hoa A. Năm 2012, Worawittayanon và cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất iridoid từ cao chiết methnol của phần trên mặt đất cây A. micrantha là 6- hydroxyantirrhide (10), angeloside (11), ajugol (5), 6-O-α-L-rhamnopyranosyl- catapol (12) và 6-O-α-(3-O-trans-caffeoyl)-L-rhamnopyranosyl-catapol (13)[7].
6 \ Năm 2020, 5 hợp chất là salidroside (4), verbascoside (14), forsythiaside (15), 3’’-O-caffeoyl-6-O-rhamnopyranosyl catalpol (16), và 4-O-caffeoyl-6-O- rhamnopyranosyl catalpol (17) đã được chứng minh có nguồn gốc từ dịch chiết methanol của lá A. Các công trình nghiên cứu về hoạt tính sinh học Các công trình nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng loài Biến hoa sông hằng (A. gangetica) có nhiều hoạt tính sinh học như kháng khuẩn, kháng nấm, hạ huyết áp, 7 chống hen suyễn, giảm đau, kháng viêm, ức chế enzyme tyrosinase, chống ôxi hóa, chống tiểu đường. Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm: Năm 2011, các dịch chiết n-hexane, ethyl acetate và methanol từ toàn bộ cây A.
gangetica đã được đánh giá hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm trên 4 chủng vi khuẩn Gram (-) Salmonella typhii (UCH4801), Escherichia coli (UCH 00260), Pseudomonas aeruginosa (UCH 1102) và Klebsiella pneumonae (UCH 2894) và 2 chủng vi khuẩn Gram (+) Bacillus subtilis (UCH 74230) và Staphylococcus aureus (UCH 2473); và 6 chủng nấm Candida albicans, Aspergillus niger, Rhizopus stolon, Penicillum notatum, Tricophyton rubrum và Epidermophyton floccosum.