ĐẶT VẤN ĐỀ Belamcanda Adans là chi đơn loài với 1 loài duy nhất là Belamcanda chinensis (L. Cây đƣợc trồng ở nhiều nƣớc nhƣ Việt Nam, Ấn Độ, Triều Tiên, phía Nam Nhật Bản, Hàn Quốc, Đông Nam Trung Quốc, Indonesia, Philippin, Thái Lan, Campuchia, Lào. Cây đã đƣợc trồng lâu đời ở Ấn Độ và Trung Quốc. Đến thế kỷ 17, Xạ can đƣợc du nhập sang châu Âu và đến thế kỷ 18 tiếp tục đƣợc du nhập vào Bắc Mỹ để trồng làm cảnh [11].
Ở Việt Nam, Xạ can cũng đƣợc trồng để làm cây cảnh và làm thuốc. Ngoài ra cây cũng thƣờng mọc ở các bãi hoang quanh làng hoặc dƣới chân núi đá vôi ở các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Quảng Ninh…. Y học cổ truyền dùng thân rễ Xạ can làm thuốc thanh nhiệt giải độc, tán kết tiêu viêm, chỉ khái hóa đàm. Trong dân gian, Xạ can là cây thuốc quý trị các bệnh về họng nhƣ viêm amidan có mủ, ho nhiều đờm, khản tiếng, ngoài ra còn đƣợc dùng để chữa sốt, đại tiểu tiện không thông, tắc tia sữa, đau bụng kinh và làm thuốc lọc máu.
Dùng ngoài trị vết thƣơng trẹo chân, rắn cắn, đắp vết thƣơng và trị đau răng [3], [11]. Nghiên cứu về thành phần hóa học của thân rễ Belamcanda chinensis cho thấy sự có mặt của các nhóm chất flavonoid, iridal, triterpen, các hợp chất phenolic với nhiều tác dụng sinh học nhƣ chống oxy hóa, chống đột biến gen, chống ung thƣ, chống viêm, cải thiện hệ nội tiết của phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh. Hạt của loài này cũng đƣợc phân tích thành phần hóa học trong một số công bố gần đây. Tuy nhiên, cho đến nay chỉ có 2 - 3 công trình công bố trên thế giới chủ yếu về phân tích thành phần hóa học b ng phƣơng pháp HPLC và đánh giá tác dụng hạ đƣờng huyết trên chuột gây đái tháo đƣờng b ng STZ (streptozotocin) trên thực nghiệm của phần trên mặt đất Xạ can.
Nhƣ vậy, có thể thấy chƣa có một nghiên cứu tổng thể nào về cơ chế tác dụng chống viêm của thân rễ và phần trên mặt đất, cũng nhƣ của những hợp chất phân lập từ hai bộ phần này của Xạ can. Xuất phát từ ý tƣởng có thể tận dụng toàn cây Xạ can làm thuốc, đề tài đã tiến hành nghiên cứu về thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học cây Xạ 1 can với tiêu đề: "Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của loài Belamcanda chinensis (L. thu hái tại Việt Nam" với 2 mục tiêu chính: 1. Phân lập và xác định cấu trúc hóa học của một số hợp chất từ cây Xạ can.
Nghiên cứu một số tác dụng sinh học của cao chiết và các hợp chất phân lập từ cây Xạ can. Để đạt đƣợc 2 mục tiêu trên, luận án đƣợc tiến hành với các nội dung sau: Về thành phần hóa học Định tính các nhóm chất hữu cơ có trong thân rễ và phần trên mặt đất Xạ can. Chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc của một số hợp chất phân lập đƣợc từ thân rễ và phần trên mặt đất Xạ can. Xác định hàm lƣợng của một số hợp chất chính trong thân rễ Xạ can.
Về tác dụng sinh học Đánh giá hoạt tính chống viêm in vitro của cao chiết và các hợp chất phân lập từ thân rễ Xạ can trên dòng tế bào RAW264. Xác định hoạt tính chống viêm in vivo của cao thân rễ Xạ can. Sàng lọc tác dụng chống tăng sinh tế bào của cao chiết và các hợp chất phân lập từ phần trên mặt đất Xạ can trên dòng tế bào VSMC. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.
THỰC VẬT HỌC 1. Vị trí phân loại của Xạ can Tên khác: Rẻ quạt, Lƣỡi dòng. Tên khoa học: Belamcanda chinensis (L. Tên đồng nghĩa gồm: Belamcanda punctata Moench.
Tên nƣớc ngoài: Dwarf tiger Lily, Leopard Lily, Blackberry Lily (Anh). Theo các khóa phân loại thực vật, Belamcanda chinensis (L. có vị trí phân loại nhƣ sau: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida hoặc Monocotyledons), phân lớp phụ Hành (Liliidae), bộ Hành (Liliales), họ Lay ơn (Iridaceae), chi Belamcanda Adans, loài Belamcanda chinensis (L. Đặc điểm thực vật Cây thảo, sống nhiều năm, cao 0,5 - 1 m.
Thân rễ mọc bò, phân nhánh nhiều. Thân ngắn bao bọc bởi những bẹ lá. Lá hình dải, dài 30 cm, rộng 2 cm, gồ cốp lên nhau, đầu nhọn, gân song song, hai mặt nhẵn, gần nhƣ cùng màu; toàn bộ các lá xếp thành một mặt phẳng và xoè ra nhƣ cái quạt. Cụm hoa phân nhánh, dài 30 - 40 cm; lá bắc dạng vảy; hoa có cuống dài, xếp trên nhánh nhƣ những tán đơn, màu vàng cam điểm những đốm tía; đài có răng nhỏ hình mũi mác; tràng có cánh rộng và dài hơn lá đài; nhị 3, đính ở gốc cánh hoa; bầu 3 ô.
Quả nang hình trứng, có 3 van, dài 23 - 25 mm. Hạt xanh đen, hình cầu bóng, đƣờng kính 5 mm. Mùa hoa quả: tháng 7 - 10 [11]. Phân bố Thế giới: Xạ can phân bố ở Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Philippin,.
Việt Nam: Ở nƣớc ta, cây mọc ở rìa rừng, rừng thƣa và đƣợc trồng ở nhiều nơi để làm cây cảnh và làm thuốc. Cây thƣờng mọc rải rác ở các bãi quanh làng hoặc dƣới chân 3 núi đá vôi các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Quảng Ninh…. Ngoài ra, cây còn đƣợc trồng chủ yếu trong các vƣờn cây thuốc gia đình, các cơ sở y tế hoặc trồng trong các vƣờn cây cảnh. Từ năm 1981 - 1986, Xạ can đƣợc trồng nhiều ở nông trƣờng dƣợc liệu Đắc Trung (Đắc Lắc), Đồng Nai, Bình Dƣơng…để lấy dƣợc liệu xuất khẩu [3], [11].
a: Cây Xạ can b: Hoa c: Hạt d: Thân rễ Hình 1. Một số hình ảnh về cây Xạ can (Belamcanda chinensis) (Ảnh đƣợc cung cấp bởi Khoa Tài nguyên - Viện Dƣợc liệu, năm 2015) 1. THÀNH PHẦN HÓA HỌC Theo các tài liệu tham khảo, thành phần hóa học chủ yếu của Xạ can là các hợp chất flavonoid trong đó isoflavonoid chiếm phần lớn. Ngoài ra còn một số thành phần khác nhƣ phenolic, iridal, xanthon, sterol,.
Các hợp chất nhóm flavonoid Các nghiên cứu trên thế giới về thành phần hóa học của Xạ can (chủ yếu trên thân rễ - TR) cho thấy các hợp chất phân lập đƣợc thuộc nhóm flavonoid, phân nhóm isoflavonoid (isoflavon và isoflavanon) và euflavonoid (flavon và flavanol). 4 Euflavonoid Các hợp chất euflavonoid trong Xạ can thuộc 2 phân nhóm flavon và flavonol. Flavon 7 hợp chất euflavonoid thuộc phân nhóm flavon đã đƣợc công bố, trong đó có 3 hợp chất từ thân rễ và 4 hợp chất từ lá (bảng 1. Cấu trúc của các hợp chất flavon phân lập từ Xạ can Cấu trúc Bộ STT Tên hợp chất phận TLTK dùng R1 R2 R3 [20], [34], 1 Kanzakiflavon-2 (1) -OCH2- H TR [76], [80] 5,4′-Dihydroxy-6,7- 2 methylendioxy-3′- -OCH2- OMe TR [74], [75] methoxyflavon (6) 3 Isovitexin (2) Glc H H Lá [32], 2ʺ-O-Rhamnosylisovitexin 4 2ʺ-O-RhaGlc H H Lá [186] (3) [32], 5 Swertisin (4) Glc Me H Lá [185], [186] 2ʺ-O-Rhamnosylswertisin [185], 6 2ʺ-O-RhaGlc Me H Lá (5) [186] [99], 7 Hispidulin (7) OMe Me H TR [115] Flavanol 11 hợp chất euflavonoid phân nhóm flavonol đã đƣợc công bố từ thân rễ của Xạ can bao gồm 9 hợp chất từ thân rễ và 1 hợp chất từ lá.
Cấu trúc của các chất đƣợc trình bày trong bảng 1. Cấu trúc của các hợp chất flavonol phân lập từ Xạ can Cấu trúc Bộ STT Tên hợp chất phận TLTK dùng R1 R2 R3 R4 R5 R6 1 Astragalin (8) H H OMe H H OGlc TR [115] 2 Rhamnocitrin (9) H Me H H H OH TR [68] [74], 3 Isorhamnetin (10) OH H OMe H H OH TR [139] 4 Rhamnazin (11) H Me OMe H H OH TR [74] [32], 5 Quercitrin (12) H H H H OH OGlc Lá [186] 6 Quercetin (13) H H OH H H OH TR [105] 7 Isoquercetin (14) H H OH H H OGlc TR [5] 8 Kampferol (15) H H H H H OH TR [105] 2R,3R- 9 dihydrokaempferol-7- H Me H H H OH TR [34] methylether (16) Kaempferol-3-O-β-ᴅ- 10 H H H H H OGlc TR [5] glucopyranosid (17) 3,5,3′-Trihydroxy- 11 7,4′,5′- H Me OH Me OMe OH TR [76] trimethoxyflavon (18) Isoflavonoid Các hợp chất isoflavonoid đã phân lập từ Xạ can thuộc 2 phân nhóm là isoflavon và isoflavanon. và cộng sự đã phân lập đƣợc hợp chất 2,3- dihydroirigenin (19) từ thân rễ của xạ can [68]. Cấu trúc của hợp chất 2,3-dihydroirigenin phân lập từ Xạ can Isoflavon Các hợp chất isoflavon phân lập từ Xạ can đã đƣợc nghiên cứu từ lâu.
Năm 1992, b ng phƣơng pháp sử dụng sóng vuông voltammetry, Wu Y. đã xác định đƣợc 3 isoflavon: irigenin (20), tectorigenin (21) và tectoridin (22) từ loài Belamcanda chinensis (L. và Iris tectorum Maxim [190]. đã phân lập đƣợc noririsflorentin (23) từ thân rễ Xạ can.
Đây là một isoflavon có cấu trúc là 5-hydroxy-6,7-methylendioxy-3′,4′,5′- trimethoxyisoflavon [181]. Năm 1994, nhóm nghiên cứu của Liu H. đã phân lập đƣợc 2 hợp chất từ thân rễ Xạ can là (20) và irisflorentin (24) [102]. và cộng sự đã xác định 5 hợp chất isoflavon là (20 - 22), (24) và iridin (25) trong thân rễ của Xạ can b ng phƣơng pháp HPLC [107].
Nhóm nghiên cứu của Zhou L. cũng đã phân lập đƣợc 9 hợp chất từ phân đoạn dichloromethan của thân rễ Xạ can, trong đó có 5 isoflavon: (20), (21), (24), dichotomitin (26) và 3′,4′,5,7- tetrahydroxy-8-methoxyisoflavon (27) [209]. và cộng sự đã công bố thêm 2 hợp chất từ thân rễ Xạ can là (21) và (22) [103]. đã phân lập từ dịch chiết ethanol của thân rễ Xạ can 8 hợp chất, trong đó có 3 hợp chất thuộc nhóm isoflavon là (21), (22) và (25) [210].
Năm 2001, từ thân rễ Xạ can, Hideyuki Ito và cộng sự thuộc đại học Okayama, Nhật Bản đã phân lập đƣợc 8 hợp chất isoflavon. Cấu trúc của các hợp chất này đƣợc xác định là (20), (21), (24), (25), tectorigin (28), 6"-O-p-hydroxybenzoyliridin (29), 6ʺ-O- vanilloyliridin (30) và 5,6,7,3′-tetrahydroxy-4′-methoxyisoflavon (31) [68]. và các cộng sự đã công bố 12 hợp chất phân lập từ thân rễ của Xạ can, trong đó có 7 hợp chất isoflavon là (20 - 25) và 4′,7-di-O-methyltectorigenin (32) [80]. và các cộng sự đã phân lập đƣợc 11 hợp chất từ thân rễ Xạ can, trong đó có 6 hợp chất isoflavon là (21), (22), (24), irilin D (33), iristectorin A (34) và iristectorin B (35) [114].
đã phân lập đƣợc hợp chất (26) và hispidulin (36) từ dịch chiết ethyl acetat và (22), (25) từ dịch chiết n-butanol của thân rễ Xạ can [139]. Năm 2006, từ thân rễ Xạ can, Ahn K. và các cộng sự cũng đã phân lập đƣợc hợp chất (20), (24), (25), (32) và (35) [20]. và các cộng sự đã phân lập đƣợc 2 isoflavon từ thân rễ Xạ can là: 6-methoxy-5,7,8,4′-tetrahydryoxyisoflavon (36) và 4′-methoxy-5,6- dihydroxyisoflavon-7-O-β-ᴅ-glucopyranosid (37) [160].