Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái quát về thực vật họ Thùa (Agavaceae) Họ Thùa bao gồm khoảng 550-640 loài với khoảng 18-23 chi, phân bố rộng khắp trong khu vực ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới trên thế giới. Các loài trong họ Thùa có thể là cây mọng nước hoặc không mọng nước. Lá của chúng có các gân lá song song, lá thường dài và nhọn mũi, thường có gai cứng ở đỉnh, đôi khi có các gai phụ mọc dọc theo mép lá.[3] Các loài thực vật họ Thùa thường được sử dụng để sản xuất các dạng đồ uống chứa cồn ở khu vực Trung Mỹ như bia pulque và rượu mezcal trong khi các loài khác có giá trị để lấy sợi.
Chúng rất phổ biến trong khu vực khô cằn, nhiều loài có hoa sặc sỡ. Tổng quan về loài Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge) 1. Tên khoa học - Tên Khoa học: Anemarrhena asphodeloides Bunge. - Tên tiếng Việt: Tri mẫu.
- Tên khác: Rhizoma Anemarrhena, zhimu. Đặc điểm thực vật Tri mẫu là cây thảo, sống lâu năm. Thân rễ dày, dẹt, mọc ngang bao bọc bởi những phần còn sót lại của gốc lá, màu đỏ hay vàng đỏ, mặt trong màu vàng. Lá mọc tụ tập ở gốc thành cụm dày, hình dài, dài 20 - 70 cm, rộng 3 - 6mm, gốc có bẹ to mọc ốp vào nhau, đầu thuôn nhọn, hai mặt nhẵn.
Quả nang, hình trứng, nhọn đầu, có cạnh; hạt 1 - 2, hình tam giác, màu đen [1]. Mùa hoa: tháng 7 - 8. B: cụm hoa D: tràng hoa với bao phấn gắn F: quả nang nẻ ra. liền với bên ngoài lọn cánh đài.
G: hạt hình thoi Hình 1.1: Các bộ phận cây Tri mẫu Hình 1.2: Rễ cây Tri mẫu 5 Hình 1. Vườn cây Tri mẫu 1. Phân bố trong tự nhiên Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge) là loại thảo dược lâu năm được trồng hoặc mọc hoang trên sườn núi ở Mãn Châu, Mông Cổ, và miền Bắc của Trung Quốc. [8] Ở Việt Nam, loài thực vật này chủ yếu phân bố ở các tỉnh phía bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang,.
Công dụng của loài Tri mẫu Tri mẫu được dùng trị sốt, đái tháo đường, ho đờm thở dốc, ngực nóng khó chịu, ho lao,…. Một số bài thuốc có Tri mẫu:[1] - Điều trị các triệu chứng sốt cao, co giật, hôn mê trong viêm não Nhật Bản B: Tri mẫu 16g, thạch cao 40g; kim ngân, huyền sâm, sinh địa, mỗi vị 16g; hoàng liên, liên kiều, mỗi vị 12g; cam thảo 4g. - Chữa viêm phổi trẻ em thể phong nhiệt, sốt cao: Tri mẫu 6g, thạch cao 20g, kim ngân hoa 16g, tang bạch bì 8g; hoàng liên, liên kiều, hoàng cầm, mỗi vị 6g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa sốt cao, li bì, mê sảng trong bệnh sởi trẻ em: Tri mẫu 8g; huyền sâm, gạo tẻ, mỗi vị 12g; sừng trâu 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang. - Chữa huyết áp cao, nhức đầu, hoa mắt, khó ngủ: Dùng bài Tri bá bát vị hoàn gia giảm nêu trên, thêm thảo quyết minh sao 20g, chi tử 12g. - Chữa nóng âm, háo khát, mồ hôi trộm, ho khan, đái tháo đường: Dùng bài Tri bá bát vị hoàn gia giảm nêu trên, thêm huyền sâm, thiên môn, thiên hoa phấn, mỗi vị 16g.
6 ̀ h nghiên cứu thành phầ n hóa ho ̣c loài Tri mẫu ̀ h hin 1. Các hợp chấ t glycoside Năm 1963, Kawasaki và cộng sự [42] đã phân lập được Timosaponin A-III (1) từ loài Tri mẫu. Khi thủy phân saponin này với axit HCl 2N trong etanol 50% thu được sarsasapogenin, D-galactose và D-glucose. Cấu trúc hóa học của (1) là: H3C CH3 O H3C OH H3C O OH O OH O HO O O OH OH OH (1) Năm 1992, từ dịch chiết etanol của loài Tri mẫu, Dong và các cộng sự [9] đã tìm ra một saponin mới là Anemarsaponin B (2) cùng với hai saponin đã biết là Anemarsaponin A1 (3) và Anemarsaponin A2 (4).
HO HO OH O H3C H3C OH O H3C HO H3C O OH O OH O HO H O O OH HO OH (2) 7 O HO O OH O OH O HO O O OH OH OH (3) O HO O HO OH O OH O HO O O OH OH OH (4) Năm 1993, Nakashima và cộng sự [28] đã phân lập được một glycoside mới là pseudoprototimosaponin AIII (5) từ loài Tri mẫu và được so sánh với chất đã biết là prototimosaponin AIII (6). O Glc CH 3 H3C CH3 O CH3 Gal O H Glc (5) 8 O Glc CH 3 H3C HO CH3 O CH3 Gal O H Glc (6) Đến năm 1994, Setsuo và cộng sự [38] đã phân lập được từ rễ của loài Tri mẫu bốn saponin steroid mới có tên anemarrhena saponin I-IV (7-10) cùng với các saponin đã biết là timosaponin A-III (1), marcogenin diglycoside (11), timosaponin B-II (12) và mangiferin (13). Các saponin thuộc loại glycoside steroid. Cấu trúc của chúng đã được xác định bằng các phương pháp phổ.
H3C OH CH3 CH3 HO O CH3 OH O R1 OH R2 O HO O O OH OH OH (7): R1=H, R2=OH (8): R1=OH, R2=H H3C CH3 O CH3 HO R3 O CH3 OH O R1 OH R2 O HO O O OH OH OH (9) R1=R3=H, R2=OH (11) R1=R2=H, R3=OH 9 HO O OH OH O CH3 H3C OH CH3 HO O CH3 OH O OH O HO O O OH OH OH (10) HO O OH OH O CH3 H3C OH OH CH3 HO O CH3 OH O OH O H HO O O OH OH OH (12) HO HO O OH O OH OH OH OH O OH (13) 10 Năm 1997, Ma B và các cộng sự [22] đã phân lập được hai saponin spirostanol mới có tên là anemarsaponin F (14) và G (15). Trên cơ sở phân tích quang phổ, cấu trúc của (14) và (15) được xác định tương ứng là neogitogenin 3-O-β-glucopyranosyl-(1→2)[β-xylopyranosyl-(1→3)]-β-glucopyranosyl (1→4)-β-galactopyranoside) (14) và lilagenin 3-O-β-glucopyranosyl-(1→2)-[β- xylopyranosyl-(1→3)]-β-glucopyranosyl-(1→4)-β-galactopyranoside (15). H3C CH3 O HO CH3 O HO O O CH3 HO OH O O O OH OH OH OH O HO O HO O OH OH OH (14) H3C CH3 O HO CH3 O HO O O CH3 HO OH O O O OH OH OH OH O HO O HO O OH OH OH (15) Năm 1998, Meng Z và các cộng sự [26] đã phân lập được hai hợp chất từ loài Tri mẫu bằng phương pháp sắc ký silicagel và phương pháp sắc kí HPLC. Chúng được đặt tên là timosaponin E1 (16) và timosaponin E2 (17).
11 O Glc OH CH3 O H OH Gal O Glc (16) O Glc OCH 3 CH3 O H OH Gal O Glc (17) Năm 1998, nhóm nghiên cứu này tìm ra ba hợp chất saponin mới là timosaponin B-IV (18), timosaponin B-V(19), timosaponin B-VI(20). Cả ba chất này đều ở dạng bột, màu trắng [24]. CH3 H3C O H3C Glc O CH3 glc glc gal O H glc (18) 12 RO CH3 H3C O H3C Glc O CH3 glc 3 4 glc gal O H glc 2 (19) R=H (20) R=CH3 Cũng trong năm 1998, nhóm nghiên cứu này tiếp tục phân lập thêm một saponin mới được đặt tên là timosaponin D (21). Hợp chất này cũng ở dạng bột, màu trắng , nhiệt độ sôi 186 - 190 oC và có thêm nhóm OH ở vị trí số 2 [25].
H3C CH3 O Glc O CH3 HO gal O H glc (21) Năm 1999, nhóm nghiên cứu này tiếp tục phân lập được bốn saponin mới từ phần rễ của loài Tri mẫu bằng sắc ký cột và phương pháp sắc ký HPLC là: timosaponin H1 (22), timosaponin H2 (23), timosaponin I1 (24), timosaponin I2 (25). Bằng các phương pháp phổ, cấu trúc của chúng được xác định như sau [23]. Glc O R CH3 CH3 O CH3 Xyl 3 4 glc gal O 2 Glc (22) R=OH, (23) R=OCH3 13 Glc O R CH3 CH3 O CH3 Xyl 3 4 glc gal O 2 Glc (24) R=OH, (25) R=OCH3 Cũng trong năm 1999, Hong và các cộng sự [11] đã phân lập được hợp chất saponin steroit từ phần rễ của loài này là xilingsaponin B (26). Hợp chất (26) là một chất rắn dạng màu trắng, rất dễ tan trong nước, nhiệt độ sôi 178 - 180 oC.
Công thức được xác định như sau. H3C CH3 O CH3 H3C O CH 2OH HO O OH O CH 2OH CH 2OH O O O OH O HO OH HO HO (26) Năm 2006, Kang và các cộng sự [17] đã phân lập được sáu saponin steroid từ thân rễ của Tri mẫu là timosaponin N (27), timosaponin E1 (16), timosaponin O (28), timosaponin E2 (17), purpureagitosid (29) và marcogenin-3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→2)-β-D-galactopyranoside (30). Trong đó hợp chất (28) và (29) là hợp chất mới và hợp chất (30) được phân lập lần đầu tiên từ loài Tri mẫu. Sáu hợp chất thu được đều ở dạng bột màu trắng, phản ứng Molisch và phản ứng Liebermann-Burchard cho kết quả dương tính.
Phản ứng thuốc thử 14 Ehrlich hiển thị màu đỏ chỉ ra các hợp chất này là saponin furostanol. Qua phân tích phổ FAB -MS, 1H NMR và 13C NMR, cấu trúc hóa học của các chất được xác định như dưới đây [17]. HO O H OH OH O OH H3C OR 3 CH3 CH3 OH O CH3 R1 HO O R2 OH O HO H O O OH OH OH (27) R1=OH, R2=H, R3=H (28) R1=OH, R2=H, R3=CH3 HO O OH HO O OH H3C OH CH3 CH3 OH O OH CH3 HO O O O R2 OH O OH O O HO O H OH HO OH OH O O OH HO OH (29) 15 H3C CH3 O CH3 OH H3C O HO OH O OH HO O O O OH HO OH (30) Năm 2007, hai saponin mới được Peng và các cộng sự [35] đã tìm ra từ phần rễ khô của loài Tri mẫu. Mẫu khô (5,0 kg) được đun hồi lưu với EtOH 70%.
Phần cặn thu được tiếp tục được chiết trong ete dầu, EAvà BuOH. Phần hòa tan BuOH được phân tích bằng phương pháp sắc ký cột, thu được hai hợp chất là timosaponin IV (31) và timosaponin B IV (32). H3C CH3 O H3C OH CH3 O O OH O HO HO H O O OH HO OH (31) HO O OH HO O H3C OH H3C CH3 OH CH3 O OH O OH O HO HO H O O O OH OH O HO OH HO (32) 16 Đến năm 2008, Zhang và các cộng sự [52] đã nghiên cứu thành phần dịch chiết của phần rễ loài Tri Mẫu và tìm ra một hợp chất mới được đặt tên là timosaponin B V (33). HO OH O OH OH O H3C OCH 3 CH3 CH3 OH CH3 O OH O O HO HO OH O O HO OH (33) Năm 2013, Liu và các cộng sự [20] đã phân lập từ loài Tri Mẫu hai saponin steroid mới có tên anemarnoside A (34) và anemarnoside B (35), cùng với ba hợp chất đã biết là timosaponin J (36), timosaponin B II (12), và timosaponin B (37).