CHƯƠNG 1: CẤU TRÚC DIA CHAT CAU TẠO W - LO 09-2/09 BE CUU LONG I. Cau trúc địa chat bé Cửu Long Cau trúc dia chat và tiềm năng dau khí bể Cửu Long đã được nghiên cứu kha ty mỹ và được trình bày trong nhiều công trình khoa học [5,6,9], vì vậy trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ trình bày một cách hết sức tóm lược những đặc trưng cấu trúc địa chất của bê. Bề Cửu Long có diện tích khoảng 36.000 km’ nằm dọc theo bờ biển Vũng Tàu - Binh Thuận. Ranh giới phía Tây và Tây Bắc của bê là đất liền, phía Bắc và Đông Bắc là Đới nâng Phan Rang ngăn cách bể với bể Phú Khánh, Phía Đông và Nam là Doi nâng Côn Sơn ngăn cách bể với bể Nam Côn Sơn.
Độ sâu nước biển ở trong phạm vi của bể nhìn chung là nông, nơi sâu nhất đến 80-90 m. Công tác tìm kiếm thăm do dau khí ở đây được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ trước cho đến nay với một khối lượng khảo sát dia chấn và khoan lớn nhất trong tất cả các bề trầm tích dầu khí của Việt Nam. Kết qua công tác tìm kiếm, thăm dò trong những năm qua đã phát hiện các mỏ dâu khí lớn như Bạch Hồ, Rồng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trang, Su Tu Nau, Té Giac Trang, Hai Su Trang, Rang Dong, Hồng Ngoc, Kinh Ngư Trang .và nhiều mỏ đã được đưa vào khai thác. Đặc điểm địa tầng — trầm tích Nam phủ trên móng trước Dé Tam, trầm tích Cenozoic ở đây chủ yếu là các tập cát, sét và bột xen kẽ nhau, đôi chỗ có mặt đá núi lửa với tong bé day dat tới khoảng 8.
a) Mong trước Kainozoi Về mặt thạch hoc đá móng có thé xếp thành 2 nhóm chính: granit va granodiorit- diorit, ngoài ra còn gap đá biến chất và các thành tạo núi lửa. Theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối có thé xếp tương đương với 3 phức hệ: Hòn Khoai, Dinh Quán và Cà Ná. b)Tram tích Kainozoi Nam bat chỉnh hợp trên mặt đá móng kết tinh bào mòn va phong hóa là thành tao Kainozoi bao gôm: Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Trương Hữu Đăng Khôi 4 Hệ tang Cà Cối (Eocene?) với trầm tích có màu nâu đỏ, đỏ tim, tim lục sặc sỡ với độ chọn loc rat kém, đặc trưng kiểu molas lũ tích lục địa thuộc các trũng trước núi Creta- Paleocene-Eocene. Chiều day hệ tầng này tại giếng khoan Cửu Long là 880m.
Hệ tầng Trà Cú (Oligocene dưới) chủ yếu là sét kết, bột kết và cát kết, có chứa các via than mỏng và sét vôi, được tích tụ trong điều kiện sông hé, chiều day của hệ tầng dao động từ 0 đến 800m. Hệ tầng Trà Tân (Oligocene trên) với thành phần chủ yếu là sét kết màu nâu-nâu đậm, nâu đen, cát kết và bột sét. được tích tụ chủ yếu trong môi trường đồng bằng sông, aluvi-đồng bang ven bờ và hô. Hệ tang Bạch Hỗ (Miocene dưới) gồm hai phan: phan trên chủ yếu là sét kết màu xám, xám xanh xen kẽ với cát kết và bột kết; phân dudi chủ yếu là cát kết, bột kết (chiếm 60%), xen với các lớp sét kết màu xám, vàng, đỏ.
Các trầm tích được tích tụ trong môi trường đồng băng aluvi-đồng băng ven bờ ở phan dưới, chuyển dan lên đồng bang ven bo-bién nông ở phan trên. Hệ tang Côn Son (Miocene giữa) chủ yếu cát kết hạt thô-trung, bột kết (chiếm đến 75+80%), xen kẽ với các lớp sét kết màu xám, nhiều màu dày 5+15m, đôi nơi có lớp than mỏng. Bé dày hệ tang thay đồi từ 250+900m. Tram tích thành tạo trong môi trường aluvi ở phía Tây, đầm lầy-đồng bang ven bờ ở phía Đông, Đông Bắc.
Hệ tầng Đồng Nai (Miocene trên) chủ yếu là cát hạt trung xen kẽ với bột và các lớp mỏng sét màu xám hay nhiều màu, đôi khi gặp các via carbonat hoặc than mỏng, môi trường trầm tích đầm lầy-đồng băng ven bờ ở phan Tây bể, đồng bằng ven bờ-biển nông ở phan Đông và Bắc bé. Bé dày hệ tang thay đổi từ 500+700m. Hệ tầng Biển Đông (Pliocene —Dé Tứ) chủ yếu là cát hạt trung-min với ít lớp mỏng bùn, sét màu xám nhạt chứa phong phú hóa đá biển và glauconit thuộc môi trường tram tích biển nông, ven bờ. Đặc điểm cấu kiến tạo Việc phân chia các đơn vi câu tạo bể Cửu Long được dựa trên đặc điểm cấu trúc địa chất của từng vùng với sự khác biệt về chiều dày trầm tích và thường được giới hạn bởi những đứt gãy hoặc hệ thống đứt gãy có biên độ đáng kể.
Nếu coi bể Cửu Long là đơn vị câu trúc bậc 1 thì câu trúc bậc 2 của bé bao gom các đơn vi cau tao sau: tring phan di Bac Liêu, tring phan di Cà Cối, đới nâng Cửu Long, đới nâng Phú Quy va tring chính bể Cửu Long (hình 1. Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Trương Hữu Đăng Khôi E \ Vang tau Hình 1. Sơ đồ phân vùng kiến tao bé Cửu Long Trong các đơn vi câu tạo nêu trên thì trũng chính bể Cửu Long là đơn vi câu tạo có ý nghĩa quan trọng nhất trên phương diện tiềm năng chứa dâu khí. Trũng chính bể Cứu Long đây là phan lún chìm chính của bể chiếm tới 70% diện tích của bể, gồm các lô 15, 16 và một phan các lô 01, 02, 09, 17.
Theo đường đăng day 2 km thi trũng chính bể Cửu Long thé hiện rõ nét là một bề khép kin có dạng trăng khuyết với vòng cung hướng ra về phía đông nam. Toàn bộ vùng triển vọng dâu khí đều tập trung ở trũng nay. Vi vậy cấu trúc của tring được nghiên cứu khá chi tiết và được phân chia ra thành các đơn vị câu trúc nhỏ hơn như một bề độc lập thực thụ. Các đơn vị cầu tạo bậc 3 gồm: trũng Đông Bac, tring Tây Bạch Hồ, trũng Đông Bạch Hồ, sườn nghiêng Tây Bắc, sườn nghiêng Đông Nam, đới nâng Trung Tâm, đới nâng phía Bắc, đới nâng phía Đông, đới phân di Đông Bắc và đới phân dị Tây Nam (hình 1.
Mặt cat dia chất ngang trăng chính bể Cửu Long Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Trương Hữu Đăng Khôi 6 Sườn nghiêng Tây Bắc là sườn bờ Tây Bac của bể kéo dai theo hướng DB-TN, chiều dày tram tích tăng dan vẻ phía tây nam từ 1-2,5 km. Sườn nghiêng bị cắt xẻ bởi các đứt gãy kiến tạo có hướng TB-DN, tạo thành các mũi nhô. Trầm tích Đệ Tam của bể thường có xu hướng vat nhọn và ga đáy lên móng cổ granitoit Trước Đệ Tam. Sườn nghiêng Đông Nam là dai sườn Đông Nam của bẻ, tiếp giáp với đới nâng Côn Sơn.
Trầm tích của đới này có xu hướng vát nhọn và gá đáy với chiều dày đao động từ 1-2,5 km. Sườn nghiêng cũng bị phức tạp bởi các đứt gãy kiến tạo có phương DB-TN va 4 vĩ tuyến tạo nên các cấu tạo địa phương như cấu tạo Amethyst, Cá Ông Đôi, Opal, S01. Triing Đông Bac, đây là tring sâu nhất, chiều day trầm tích có thé dat tới 8 km. Tring có phương kéo dai dọc theo trục chính của bể, năm kẹp giữa hai đới nâng và chịu khống chế bởi hệ thống các đứt gãy chính hướng DB-TN.
Trũng Tây Bạch Hồ. Trong một số tài liệu tring nay được ghép chung với trũng Đông Bắc. Tuy nhiên, về đặc thù kiến tạo giữa 2 trũng có sự khác biệt đáng kể, đặc biệt là phương của các đứt gãy chính. Trũng Tây Bạch Hồ bị khống chế bởi các đứt gãy kiến tạo có phương 4 vĩ tuyến, tạo nên sự gap khúc của bể.
Chiều day trầm tích của trũng có thể đạt tới 7,5 km. Trũng Đông Bạch Hỗ năm kẹp giữa đới nâng Trung Tâm về phía tây, sườn nghiêng Đông Nam về phía D-DN và đới nâng Đông Bắc về phía bắc. Trũng có chiều dày tram tích đạt tới 7 km va là một trong 3 trung tâm tách giãn của bề. Đới nang Trung Tâm là đới nâng nam kẹp giữa 2 tring Đông và Tây Bạch Hồ va được giới hạn bởi các đứt gãy có biên độ lớn có hướng đồ chủ yếu về phía đông nam.
Đới nâng bao gồm các cấu tạo dương va có liên quan đến những khối nâng cổ của móng Trước Đệ Tam như: Bạch Hồ, Rồng. Các cau tạo bị chi phối không chỉ các đứt thuận hình thành trong quá trình tách giãn mà còn bởi các đứt gãy trượt bằng và chờm nghịch do ảnh hưởng của sự siết ép vào Oligocen muộn. Đới nâng phía Tây Bắc nam về phía tây bắc tring Đông Bắc và được khống chế bởi các đứt gãy chính phương ĐB-TN. về phía TB đới nâng bị ngăn cách với sườn nghiêng Tây Bắc bởi một địa hào nhỏ có chiều day trầm tích khoảng 6 km.
Đới nâng bao gôm cau tạo Ving Đông và dai nâng kéo dài về phía đông bắc. Doi nâng phía Dong chạy dài theo hướng DB-TN, phía TB ngăn cach với trũng DB bởi hệ thống những đứt gãy có phương á vĩ tuyến và DB-TN, phía DN ngăn cách với Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Trương Hữu Đăng Khôi 7 đới phân di Đông Bắc bởi võng nhỏ, xem như phân kéo dai của tring Đông Bạch Hồ về phía DB. Trên đới nâng đã phát hiện được các cầu tạo đương như: Rang Đông, Phương Đông và Jade. Đới phân dị Đông Bắc (phan đầu Đông Bắc của bể), nam kẹp giữa đới nâng Đông Phú Quý và sườn nghiêng Tây Bắc.
Đây là khu vực có chiều dày trầm tích trung bình và bị phân di mạnh bởi các hệ thống đứt gãy có đuờng phương TB-DN, á kinh tuyến va á vĩ tuyến tạo thành nhiều địa hào, địa lũy nhỏ (theo bề mặt móng). Một số các cầu tạo dương địa phương đã xác định như: Ruby, Pearl, Torquoise, Diamond, A gate. Đới phân dị Tay Nam năm vé dau Tây Nam của trũng chính. Khác với đới phan di ĐB, đới này bị phân dị mạnh bởi hệ thống nhữg đứt gãy với đường phương chủ yếu là á vĩ tuyến tạo thành với những địa hào, địa lũy, hoặc bán địa hào, bản địa lũy xen kẽ nhau.
Những cau tạo có quy mô lớn trong đới này phải kế đến: Du Du, Tam Đảo, Bà Den và Ba Vi. Các cau tạo địa phương dương bậc 4, trong đó có cau tao W, là đối tượng tìm kiếm và thăm dò dau khí chính của bê. Lịch sử phát triển kiến tạo bể Cửu Long có thé khái quát trong các thời kỳ trước tao rift (trước Dé Tam), thời kỳ đồng tao rift (được khởi dau vào Eocen - Oligocen) và thời kỳ sau tạo Rift (Miocen — Dé Tứ).